Ngân Giang thơ đẹp, người đẹp của muôn người

19 Tháng Tư 2010 7:00 SA
TRẦN THỊ THẮNG

Bookmark and Share

Hình ảnh của Ngân Giang thơ đẹp, người đẹp của muôn người

Năm 1978 nhìn nhà thơ Ngân Giang của chúng ta vẫn rất đẹp, vẻ đẹp sang mà quý phái. Sinh ra và lớn lên ở Hà Đông nhưng lại sống nhiều ở Hà Nội, gia đình khá giả, chị theo cách mạng rất sớm. Khi 16 tuổi chị đã được một đồng chí giác ngộ theo cách mạng, cuộc hẹn hò của họ thường ở miếu Ba Cô tại Nghi Tàm (Hà Nội), đó cũng là mối tình đầu chị yêu thầm nhớ trộm một con người “của cách mạng”.

Cũng vì thương nhớ người bạn cách mạng, chị đã giấu giữ tài liệu, vào hôm lên xe hoa, chị mang theo cả mớ tài liệu ấy về nhà chồng. Ngày hôm sau “mật thám” đã đến khám, gia đình phải chạy vạy nên chị không bị bắt.

Ngay từ năm 1935, chị đã tham gia cách mạng từ đó. Năm 1944 là Trưởng đoàn phụ nữ thành Hoàng Diệu, góp phần xây dựng “Tuần lễ vàng”. Với một dáng vẻ sang trọng, quý phái, chị đã vào giải cứu một số đồng chí trinh sát thành bộ bị bắt giam tại Ôn Như Hầu (trong đó có nhạc sĩ Đỗ Nhuận). Những tháng năm sau chị được phân công chuẩn bị lương thực cho cuộc kháng chiến toàn quốc. Tôi nhớ rất nhiều lần chị kể với tôi gia đình chị quyên góp bằng vàng. Số vàng ấy quy ra gạo cũng chất hàng toa xe lửa (ngày ấy ai ai cũng tính ra gạo để quyên góp cho cách mạng, đó là lòng yêu nước của tầng lớp thương gia).

Trong giai đoạn sau của cuộc kháng chiến chống Pháp, chị công tác tại Sở Tuyên truyền khu vực I (Thái Nguyên). Cuối 1949, chị biệt phái về thủ đô cho tới ngày hòa bình.

Lần gặp gỡ sau này giữa tôi và chị, khi tôi hỏi sao lúc đó chị không làm việc ở một cơ quan nào đó cho đời sống ổn định hơn khi mà chị rất đông con, chị trả lời: “Thời ấy đón đoàn quân về Hà Nội là mừng đến chảy nước mắt và thế là thành người dân xứ “Độc lập”. Ta mừng ta hát, ta làm ta ăn là sung sướng. Có biết đâu sau này lại có một lớp cán bộ nhà nước được sống khá hơn”. Lời nói của nhà thơ Ngân Giang rất đúng như bài thơ chị đã làm năm đó:

Năm cửa ô cùng lên tiếng hát
Đón muôn nhịp bước chín thu ròng
Đã khơi nguồn sống trong dân tộc
Đẹp cỏ hoa và đẹp núi sông.
...
Hà Nội tưng bừng hồn Tổ quốc
Thét lên thành nhạc, nói thành thơ
...
Lắng bước anh hùng trong tiếng nhạc
Nghe hồn thiêng dân tộc dẫn đường về…

(Chín mùa trông đợi)

Một lần đi họp ở Hội Văn nghệ Hà Nội, tôi mời chị ăn phở ở Lý Quốc Sư, hai chị em nói chuyện say sưa quá đà, chị lại đứng lên đọc lại bài Trưng Nữ Vương:

Bốn phương gió bãi lùa chân ngựa,
Tám nẻo mưa ngàn táp đóa mai
Máu đỏ cốt xong thù vạn cổ
Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai!
Hồn người chín suối cười an ủi
Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi
Lạc tướng quên đâu lời huyết hận
Non Hồng quét sạch bụi trần ai
Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận
Gót ngọc gieo hoa ngát mấy trời.
Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi
Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá
Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi…

(Trưng Nữ Vương, 1934)

Chị càng đọc, đôi mắt càng sáng, người và lời thơ như bay lên giữa Hà Nội. Tôi hình dung 1934 khi bài thơ Trưng Nữ Vương ra đời như một quả bom tấn nổ giữa trời Hà Nội. Một lần nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã nói ở lớp học chúng tôi: “Khi bài thơ của Ngân Giang ra đời, chúng tôi tìm đọc và càng muốn tìm đọc vì đó là bài thơ đầy khí tiết của một nữ sĩ được ra đời giữa Hà Nội”.

 
Nhà thơ Ngân Giang, người đứng thứ ba từ trái sang phải, chụp cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhâ Đại hội Hội Nhà văn lần thứ V .

Nếu ngồi nói chuyện với chị, đến thơ ca, chị như người lên đồng cứ lúng liếng, đọc hết bài thơ này sang bài thơ khác. Chị ít kể về thời hoạt động của mình, chỉ một lần duy nhất chị nói: “Chị đã được gặp Bác Hồ ở Phủ Chủ tịch”, nói xong chị ca ngợi Chủ tịch đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ.

Những năm đó tôi còn làm ở tổ thơ của báo Văn Nghệ, chị cho con mang đến cả một xấp thơ chị viết trên giấy trắng, những bài thơ hầu như ít được đăng, nên tôi hay tìm để trả về cho chị (thời đó chưa có phô-tô, nên thơ viết ra rất dễ bị mất). Khi được gặp nhà thơ Anh Thơ, câu chuyện của tôi và chị Anh Thơ hay xoay quanh chủ đề về Ngân Giang: “Khi mình còn nhỏ được đến nhà của chị Ngân Giang ở Hà Đông, chị đẹp, sống sang trọng trong một ngôi nhà giàu có với đầy đủ sập gụ tủ chè”. Với Ngân Giang, Anh Thơ phục về tài và sắc.

Trong suốt cuộc đời vất vả của Ngân Giang, Anh Thơ luôn luôn ở bên giúp đỡ. Khi căn nhà được cấp ở Bách Khoa (do anh em báo chí, báo Văn Nghệ, Hội Nhà văn đấu tranh cho chị được phân ở) chị bán nhà được phân, mua đất ở ngoài bãi Yên Dũng (Hà Nội) dựng nhà. Sau này chị cũng được Hội Nhà văn trợ cấp khó khăn, trợ cấp sáng tác, nhưng cũng chỉ là đỡ dăm bảy bữa cho bớt một phần nhỏ khó khăn. Căn nhà số 48 (trước là nhà số 3) ở Nghĩa Dũng có hai khóm trúc Phật Bà trồng trước cửa, một thời chị cũng bán trà chén sống qua ngày:

Còm cõi bên sông tóc úa dần
Tay nâng chén nước lệ đầy khăn
Bữa cơm rau muống chia từng ngọn
Giấc ngủ giường tre đêm khắc lần.

(Quán mưa bãi vắng, 1976)

Cuộc sống sau này của nhà thơ càng vất vả khi tuổi ngày càng cao. Cuộc đời làm thơ của chị đã cho ra đời các tác phẩm: Những người sống mãi (thơ in chung, 1931), Giọt lệ Xuân (thơ, 1931), Tiếng vọng sông Ngân (thơ, 1944), Thơ Ngân Giang (1990, 1994), Tuyển tập thơ Ngân Giang (1996). Trong đó có: Thơ Ngân Giang in 1996 do một giám đốc bao bì là Hồ Ngọc Chương in cho chị 3000 quyển không lấy tiền.

Chị Lý Thị Trung có nhờ các anh Đàm Quang Trung, sau đó là Mạc Văn Trọng (Giám đốc Thư viện Quân Đội mua hộ 1000 quyển phân cho bộ đội có thơ Ngân Giang đọc). Còn lại chị bán lắt lay mãi sau này. (Ban Nhà văn nữ thường họp ở nhà chị Phan Thị Thanh Nhàn, khi họp xong chúng tôi thường nhắc tới việc thăm chị Ngân Giang. Chị Cẩm Lai và chị Lý Thị Trung thường nhắc chúng tôi tới thăm thì nên mua gạo chở đến cho chị để có cái ăn dài dài (đó là những năm 1997, 1998, 1999, 2000, mà chị vẫn còn thiếu gạo).

Riêng chị Cẩm Lai mỗi lần đến thăm là đưa gạo, chị Lý Thị Trung thì chuẩn bị thức ăn. Tình thương của các chị nó gắn rất chặt với đời sống thực tế và cũng là thương nhau lắm lắm, mặc dù tuổi cao mà luôn nhớ thương nhau. Còn sự giúp đỡ của các cơ quan quanh Hội Nhà văn, Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, bạn bè cũng chỉ vơi đi một chút khó khăn thường nhật.

Những năm đó chúng ta chưa đưa vấn đề nghèo khó của văn nghệ sĩ ra cho toàn xã hội cùng tham gia góp sức giúp đỡ. Giá chị sống đến bây giờ thì sẽ có nhiều bàn tay giúp đỡ chị hơn khi mà vấn đề người nghèo và sức khỏe của người khó khăn được toàn xã hội quan tâm đến.

Chị sống ở Hà Nội nhưng cũng đổi nhiều chỗ ở như gác 3, số 175 Bà Triệu, Bách Khoa, nhà 48 Nghĩa Dũng. Chị mất năm 2002 vào mùa mưa ở bãi Nghĩa Dũng, căn nhà có hai khóm trúc trước nhà ngập cùng bãi sông Hồng, bà con phường Nghĩa Dũng và gia đình đẩy chị trên một chiếc trõng tre đưa lên bờ đê sông Hồng rồi mới chuyển vào nhà tang lễ Phùng Hưng.

Chị ra đi trong khi nước sông Hồng tràn vào nhà, bà con nâng chị trên tay cùng sông nước, những cảnh đó ít người biết đến. Nhưng ngày truy điệu thì đông vô cùng, dân chúng mến mộ thơ chị đến đặt vòng hoa tưởng niệm.

Chị không làm ở một cơ quan nào khác, nhưng người yêu thơ chị tự bỏ tiền túi mua hoa viếng một nữ sĩ tài hoa, một nữ sĩ đẹp người, đẹp cả tâm hồn.

Hình ảnh một nhà thơ lên ngâm thơ, chị múa cùng thơ, chân tay đeo rất nhiều vòng, cổ đeo chuỗi hạt lấp lánh mà công chúng thủ đô đã được xem trên ti-vi, trên bục thơ còn đọng lại trong lòng họ. Không mấy ai biết chị sống cơ cực ra sao, nhưng mỗi chúng ta đều ngầm hiểu chị đã suốt đời say thơ, cống hiến cho độc giả những vần thơ hay nhất của mình.

Ngược lại công chúng yêu thơ luôn luôn yêu chị về những bài thơ mà Ngân Giang đã “làm thức tỉnh mọi người, thức tỉnh cả Hà nội, nhờ bài thơ Trưng Nữ Vương của Ngân Giang” (lời của Nguyễn Tuân).

Chị đã đi xa chúng ta 8 năm, nhưng suy nghĩ về văn chị đã viết:

“Tuổi cầm bút của tôi gần bằng tuổi đời. Những truân chuyên điêu đứng của tôi lại hơn cả tuổi đời và tuổi cầm bút. Tôi chỉ có một chủ trương: Phục vụ dân tộc, xã hội; sẵn sàng quật khởi chống lại bạo lực, giai cấp bóc lột, thống trị, tha thiết hy sinh cho xã hội, dân tộc, nhân loại, hòa bình. Trong tôi, luôn là một tình cảm, một tâm hồn xa với quyền và lợi. Tôi yêu quê hương, yêu xã hội vô cùng. Cho nên, dù những năm tháng qua tôi sống rất khó khăn nhưng cuối cùng tôi tồn tại… Tôi luôn biết hy vọng ở tương lai”.

Đây cũng là tâm huyết của một cây bút đã bảy mươi năm làm thơ yêu nước, đọc xong chúng ta ngẫm nghĩ được rất nhiều điều trong đó.

Nhận xét
  • PArner Honvietquochoc
  • Viet nam air
  • free hit counter script