Ông Phạm Quỳnh và báo Nam Phong

27 Tháng Tư 2011 7:00 SA
ĐẶNG MINH PHƯƠNG

Bookmark and Share

Hình ảnh của Ông Phạm Quỳnh và báo Nam Phong

L.T.S: Đánh giá công minh người và việc của quá khứ là việc khó. Nó cần rất nhiều điều kiện mà trước hết cần chỗ đứng nhìn, cần hiểu bối cảnh lịch sử và tư liệu lịch sử… Ngày nay, chúng ta cần có thái độ cởi mở khoan dung, gạn lọc công bằng… nhưng cũng không được làm đảo lộn lịch sử, lờ mờ thật giả, đưa đến sai lệch, nguy cơ cho lịch sử và cho cả hiện tại. Trên tinh thần đó, chúng tôi đăng bài của nhà báo kỳ cựu Đặng Minh Phương để mở đầu cho một chuyên mục cần trao đổi, thảo luận…

 Nửa đầu thế kỷ XX, ông Phạm Quỳnh là người rất nổi tiếng ở nước ta. Bởi ông là một nhà báo viết nhiều, là tác giả của một khối lượng công trình biên soạn khá đồ sộ (phần lớn đăng báo, sau in lại trong tập “Nam Phong tòng thư” và “Thượng Chi văn tập”). Về sau, ông là Lại bộ Thượng thư đứng đầu bộ máy quan lại cao nhất của triều đình nhà Nguyễn dưới thời thực dân Pháp thống trị nước ta.

Ông sinh năm 1892 ở Hải Dương. Lúc làm báo và quyền cao chức trọng, ông được khen nhiều và bị chê không ít.

Những năm gần đây, các tác phẩm của ông được tái bản nhiều, tên tuổi của ông được nói đến với những lời ca ngợi gần như lật ngược lại hầu hết những điều mà những bậc thức giả, những nhà yêu nước cùng thời với ông chê trách ông. Với lý do “trả lại sự công bằng” cho ông, một số người tán dương ông là “Người nặng lòng vì nước”, “Hết lòng đấu tranh cho nền độc lập Việt Nam”, “Một người thông thái đã nói lên những lời bất hủ”…

Khen chê ai là quyền của mỗi người, tùy theo chỗ đứng, cách nhìn, nhận thức, sự hiểu biết thực tế và tấm lòng của mình. Nhưng “trả lại sự công bằng” cho nhân vật này, nhân vật nọ đều phải căn cứ vào những việc mà người đó đã làm với chứng cứ xác thực chứ không thể tùy theo ý thích chủ quan của mình. Mọi thái độ đấu tranh chống sự cực đoan theo hướng này bằng sự cực đoan theo hướng ngược lại đều không thỏa đáng và không công bằng.

Vậy ông Phạm Quỳnh là người như thế nào?

Trước hết, hãy bắt đầu từ tờ tạp chí Nam Phong, nơi ông khởi nghiệp và nổi tiếng.

Sau khi xảy ra chiến tranh thế giới lần I (1914-1918), thực dân Pháp lo bảo vệ thuộc địa Đông Dương, đã cử sang nước ta những tay cai trị sừng sỏ, đứng đầu là toàn quyền An-be Xa-rô (Albert Sarraut). Sarraut đem theo Louis Marty, Marty được cử làm chánh mật thám Liên Bang Đông Dương cùng với Sarraut hoạch định chính sách về văn hóa.

Thực dân Pháp thấy cần phải triển khai tuyên truyền văn hóa Pháp bằng tiếng Việt qua chữ Quốc ngữ. Tờ Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh ra đời năm 1913 là vì thế.


Bìa Nam Phong tạp chí

Nhưng sai lầm của Đông Dương tạp chí là đề cao văn hóa Pháp quá lố lăng, mạt sát ra mặt các sĩ phu cổ học, thậm chí có những lời lẽ bất kính với cụ Phan Bội Châu. Do đó, ngày 30/12/1916, toàn quyền Sarraut ký nghị định cho ra tờ tạp chí Nam Phong, xuất bản mỗi tháng một kỳ.

Tháng 7/1917 ra số đầu tiên. Phần chữ Quốc ngữ do Phạm Quỳnh làm chủ bút. Phần chữ Nho do Nguyễn Bá Trác – một người từng theo Đông Du với cụ Phan Bội Châu, sau phản bội, đầu hàng giặc, làm chủ bút. Chỉ đạo chung tờ báo là thanh tra mật thám Đông Dương Louis Marty.

Tạp chí Nam Phong do Pháp lập ra dành cho giới thượng lưu trí thức bản xứ. Mục đích thứ nhất của Nam Phong là đào tạo các trí thức cũ theo lề lối Pháp, lớp người vẫn ảnh hưởng nhiều trong xã hội bản xứ (tầng lớp nhà nho và ảnh hưởng của nho học).

Mục đích thứ hai của Nam Phong là phải làm ra bộ độc lập vô tư. Điều cốt yếu là làm cho người đọc chấp nhận sự bảo hộ của Pháp về phương diện tinh thần và trí thức, vì yêu thích và do đọc báo mà hiểu rõ hơn văn hóa Pháp, choáng lóa trước ánh sáng của nền văn hóa ấy.

Mục đích mà thực dân Pháp giao cho Nam Phong là dùng chữ Quốc ngữ vận động cho “Chủ nghĩa Pháp – Việt”, nhằm cột Việt Nam vào Pháp bằng dây thừng văn hóa như vậy thì vững bền hơn.

Mục đích chính trị của tờ báo là vậy nhưng trong quá trình thực hiện, Nam Phong cũng có ý truyền bá học thuật Á – Âu, luyện quốc văn, cố nhiên là theo phương hướng được chính quyền thực dân ủng hộ.

Nam Phong có vai trò nhất định ở nước ta hồi đầu thế kỷ XX là do có nhiều nhà trí thức cũ và mới đã viết bài cho tạp chí, giới thiệu, dịch thuật nhiều tài liệu của nền văn học cổ Việt Nam cùng với tài liệu văn hóa Trung Hoa, Pháp.

Cả một lực lượng trí thức đông đảo, trong đó có nhiều học giả uy tín đã giúp sức cho Nam Phong có bề thế. Họ cùng nhau trao đổi, đem cái sở trường của họ giúp cho Nam Phong thành một cơ quan truyền bá văn hóa, nâng cao chất lượng quốc văn. Người đọc đang khao khát muốn biết các nền văn hóa mới, muốn trang bị thêm kiến thức, thì gặp Nam Phong nên được thỏa mãn phần nào tinh thần cầu học của họ.

Giáo sư Sử học Văn Tạo có nhận xét: “Ông Phạm Quỳnh có công chuyển tải văn hóa Đông – Tây trên văn đàn, báo giới Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm cho ngôn ngữ văn hóa Việt Nam. Điều đáng chê trách nhất ở ông là đã ra làm chủ bút cho báo Nam Phong do tên trùm mật thám Louis Marty chủ trì. Với chức danh đó, ông không thể không có sai lầm làm hại đến quyền lợi dân tộc”.

Một điều đáng ngạc nhiên là trong khi viết về khảo cứu học thuật, ông tỏ ra có sự nghiêm túc, nhưng khi bàn đến các vấn đề cụ thể có liên quan đến thời sự chính trị, văn học thì ông lại không giữ được sự nghiêm túc khách quan. Trong lúc đó ông tỏ ra tận tụy với chính quyền thực dân và với Nam Triều.

Trên bình diện chính trị, ông càng lộ thêm những điều mà kẻ thức giả không thể nào chấp nhận. Báo Nam Phong của ông không cần nghiên cứu thật - giả, đúng - sai thế nào, chỉ một mực nói theo luận điệu xuyên tạc, công kích chủ nghĩa Bôn-sê-vích Nga, và tất nhiên cũng lên án phong trào cách mạng trong nước.

Báo này còn hô hào phục vụ cho “mẫu quốc” (Pháp) trong chiến tranh thế giới lần thứ II, cổ động đóng góp tiền cho Pháp. Cái khẩu hiệu “Rồng Nam phun bạc, đánh đổ Đức tặc” cũng do đó mà ra. Ông ca ngợi vua Khải Định quá lố. Chính vì vậy mà nhiều người hết sức chê bai ông.

Cụ Phan Châu Trinh phát biểu: “Còn các anh như Phạm Quỳnh mà tôi thấy trong nhật trình thì không những là giả dối, vẽ vời mà còn có nhiều điều hại cho thanh niên nhiều lắm”. Cụ Ngô Đức Kế xem ông là “văn sĩ lốt lép”. Cụ Huỳnh Thúc Kháng nói ông là kẻ không quân tử.

Ông chủ trương cái thuyết “lập hiến” nhưng không xây dựng thành một lý thuyết gì. Cũng như trong câu chuyện sùng bái Truyện Kiều, người ta thấy rõ dụng ý đề cao Truyện Kiều là để đánh lạc hướng thanh niên và thấy cái thuyết “lập hiến” của ông là trò lừa gạt.

Nguyễn Văn Vĩnh nêu ra thuyết trực trị, Phạm Quỳnh chủ trương “lập hiến”, hai ông đã tranh luận với nhau.

Khi còn làm báo, trong buổi lễ kỷ niệm cụ Nguyễn Du ở “Hội khai trí tiến đức”, năm 1924, ông đã trịnh trọng tuyên bố một câu nổi tiếng, về sau trở thành đề tài cho bao nhiêu cuộc tranh luận. Đó là câu: “Truyện Kiều còn tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn, có điều chi nữa mà ngờ!”.

Nhà văn hóa Đặng Thai Mai cho đó là một “câu nói lập dị, ngụy biện, nói dối để che đậy một lập trường bán nước hại dân mà ngày nay vẫn có người khoái chá ngâm thơ, mới nghe tưởng chừng như sâu sắc lắm!”.


Từ trái sang: Phạm Duy Tốn, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh

Trong quá trình chủ trì báo Nam Phong, ông Phạm Quỳnh đã lọt mắt xanh của nhà cầm quyền Pháp cho nên người ta đã vời ông vào Kinh đô Huế để giữ một chức quan tay hòm chìa khóa và sau lên đến tột đỉnh triều đình.

Về việc này, ông Phạm Tôn, trên báo Xưa và Nay tháng 9/2006 viết: “Làm báo Nam Phong, Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư.

Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ là để rồi lấy danh nghĩa chính phủ Nam triều đòi Pháp phải trở lại hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực tình là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm”! (Xin được lưu ý ông Phạm Tôn là ông Phạm Quỳnh từng nói nước ta còn mà!)

Tác giả Nguyễn Khắc Viện, trong sách “Việt Nam, thiên lịch sử” (Nxb Lao Động, 2006) viết: “Để che giấu việc đàn áp, chính quyền thực dân đưa ra vài cải cách hình thức hòng lừa gạt quần chúng và mua chuộc tầng lớp “thượng lưu”…

Vua Bảo Đại sống ở Pháp được đưa về Huế để cải cách nền quân chủ. Người ta bố trí cho ông ta một công chức trung thành với chính quyền thực dân là Phạm Quỳnh giữ chức “ngự tiền văn phòng” và Ngô Đình Diệm, một viên quan người công giáo vốn đã được chú ý trong cuộc đàn áp 1930-1931 làm Thượng thư.

Một sự tranh chấp quyết liệt đã nhanh chóng đối lập hai con người này, mỗi bên được một tập đoàn thực dân khác nhau ủng hộ”.

Trong nội các cải tổ của Nam Triều, theo chỉ dụ 29 ngày 2/5/1933 của vua Bảo Đại, ông Phạm Quỳnh được cử làm Thượng thư bộ Quốc dân giáo dục (Bộ Học) kiêm sung chức Ngự tiền Văn phòng Tổng lý đại thần và làm “Điều tra Tổng tiên thẩm ủy viên” của Hội đồng cải cách dưới sự điều khiển của Khâm sứ Trung Kỳ (quan cai trị người Pháp đứng trên cả vua).

Nhờ được tín nhiệm cao, cho nên ông nhanh chóng được cất nhắc từ Thượng thư bộ Học lên thượng thư bộ Lại – chức quan cao nhất của triều đình, đứng dầu các bộ (như Thủ tướng).

Về việc ông sang Pháp “đòi” hay “xin” Pháp thực hiện hòa ước 1884 (hòa ước mà triều đình Huế đã ký chịu đầu hàng Pháp), báo Ngày Nay ngày 26/8/1939 viết:

“Trong bảy năm ông làm một trụ cột trong triều đình Huế, lương cao, bổng hậu, ông đã không làm được một mảy may cho dân cho nước. Và mới đây công việc ông định làm là sang Pháp xin trở lại hòa ước 1884 và sát nhập Bắc Kỳ vào Trung Kỳ dưới triều đình Huế - thật là một việc thất sách và vụng về hết chỗ nói…

Dân đất Bắc như ông Phạm Quỳnh nói, cũng muốn lắm có một “tổ quốc để mà thờ” nhưng tổ quốc ấy phải là một tổ quốc hiện thực. Chứ đòi về một thứ tổ quốc “bố vờ” mà lại mất hết những thứ hiện có thì ôi thôi, chúng tôi xin bái ngoảnh ông Phạm Quỳnh lẫn công ty của ông và cả mũ cánh chuồn của ông nữa!”.

Cũng trên báo Ngày Nay, ông Hoàng Đạo với bài: “Đi về thôi, đi về, ông Phạm Quỳnh”, viết:

“… Tướng công ao ước một nước Nam tự trị, đặt dưới quyền thống trị của vua nhưng thực quyền là ở trong tay nghị viện do dân bầu lên” nghĩa là tướng công hồi đó mến một chủ nghĩa dân chủ…, bỗng thanh vân gặp bước, phút chốc bỏ cán bút nhà ngôn luận, mặc áo trào, đội mũ cánh chuồn, nghiễm nhiên trở nên một trụ cột quan trọng nhất của Nam triều…

Thế rồi, bảy năm đã qua, bảy năm, một khoảng thời gian khá dài, đủ để cho một nhà chính trị có tài như tướng công nêu lên cho bàn dân thiên hạ biết những kết quả tốt đẹp của công cuộc thí nghiệm to tát của tướng công… Nhưng kết quả thế nào? Sự thật bắt chúng tôi buồn rầu mà trả lời rằng: kết quả cuộc thí nghiệm của tướng công là hư vô.

Trung Kỳ là nơi dân được hưởng ít tự do nhất, nơi dân thiếu học nhiều nhất, nơi dân được hưởng ít công lý nhất. Cuộc thí nghiệm của tướng công đã hoàn toàn thất bại. Đâu là hiến pháp, đâu là dân quyền ở trong Trung? Vậy mà tướng công còn muốn lùi rộng biên giới phòng thí nghiệm của tướng công ra cả khắp Bắc Kỳ ư?... Trong bảy năm, tướng công chỉ là một cái bù nhìn đáng thương. Cho nên, vì tướng công, ngu dân chúng tôi kêu lên: “về đi thôi, từ chức đi thôi, ông Phạm Quỳnh!.

Có người viện dẫn “bản phúc trình tối mật” đề ngày 8/1/1945 của Khâm sứ Trung Kỳ Hê-lơ-uyn gửi cho Toàn quyền Decoux và Tướng Mordant nói rằng Phạm Quỳnh phiền trách Pháp về việc trưng dụng lúa gạo để cung cấp cho Nhật, trích lời của ông Khâm sứ lưu ý quan toàn quyền là ông Phạm Quỳnh “có thể trở thành kẻ đối địch bất khả quy của chúng ta, nếu một khi ông ta bị lôi cuốn bởi lối hứa hẹn cho một chủ thuyết Đại Đông Á”, và cho rằng ông Phạm Quỳnh trước sau đều “kiên quyết đấu tranh cho nền độc lập”!


Nam Phong tạp chí

Thực ra, đến đầu năm 1945 ông Phạm Quỳnh mới tỏ ý phiền trách Pháp về việc trưng dụng quá mức lương thực của Việt Nam để cung cấp cho Nhật thì có gì gọi là dũng cảm, đấu tranh cho độc lập…

Bởi tháng 1/1945 là lúc thực dân ở Đông Dương như ngàn cân treo bằng sợi tóc trên mũi lưỡi lê của phát xít Nhật. Ông Khâm sứ Pháp có tình nghi Phạm Quỳnh ăn ở hai lòng, không còn trung thành với chủ cũ thì đâu có gì là lạ vì sau đó đúng hai tháng, bọn cầm quyền Pháp ở Đông Dương bị phát-xít Nhật tóm cổ cho vào tù. Cái biểu hiện chống Pháp của ông Phạm Quỳnh nếu có chút ít thì cũng là quá muộn vậy!

Còn một câu nói của Phạm Quỳnh mà có người đến ngày nay nhắc lại với thái độ thán phục là: Ông Phạm Quỳnh đã từng phản bác lại kẻ lên án ông là người bán nước thì ông đã trả lời: “Khi tôi sinh ra (1892) thì nước đã mất rồi, tôi làm sao bán được!”.

Khi thì ông nói nước ta còn (vì Truyện Kiều còn, tiếng ta còn), khi thì ông thừa nhận nước ta đã mất. Nhưng theo lập luận của ông thì những kẻ bán nước là những người đã trưởng thành trước khi nước ta bị Pháp thôn tính, còn những người tận tụy phục vụ bọn xâm lược, làm mật thám bắt bớ tra tấn, bắn giết nhân dân, đàn áp dã man các cuộc nổi dậy chống ách thống trị của Pháp ở Yên Bái, Nghệ Tĩnh, Nam Kỳ, Bắc Sơn, Đô Lương… đâu phải là người bán nước.

Lời nói và việc làm của ông Phạm Quỳnh đều đã được ghi trên giấy trắng mực đen, được người cùng thời chứng kiến cho nên mới có những nhận xét xác đáng như ý kiến của các nhà chí sĩ, các bậc thức giả đã nêu ở trên (dù chỉ là một phần rất nhỏ), đâu phải vu oan giá họa cho ông một cách vô căn cứ mà ngày nay chúng ta phải dày công “trả lại sự công bằng”.

Chúng tôi không muốn nhắc lại những chuyện lịch sử không lấy gì làm vui, nhất là gia đình cụ Phạm có những người con có cống hiến xuất sắc về khoa học và nghệ thuật, hết lòng phục vụ tổ quốc, nhân dân… Tiếc rằng cây muốn lặng, gió chẳng dừng. Một số người cứ muốn “đặt lại vấn đề”, làm sai lệch những gì đã diễn ra trong lịch sử chưa xa.



  • PArner Honvietquochoc
  • Viet nam air
  • free hit counter script