Tại sao cần đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục và đào tạo?

26 Tháng Tám 2013 11:14 SA
Phan Hoàng Mạnh

Bookmark and Share

Hình ảnh của Tại sao cần đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục và đào tạo?

Có thể bạn cũng như chúng tôi, không đồng tình tất cả với những ý kiến của tác giả bài này. Thực ra những cứ liệu, những ý kiến trong bài này không mới, nó đã được nói đến nhiều rồi. Nhưng tôn trọng ý kiến của tác giả, Hồn Việt vẫn đăng lên cho "rộng đường dư luận".

Để chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6, Bộ Chính trị đã chỉ đạo: Cần đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục và đào tạo. Toàn ngành giáo dục đã nô nức thảo luận góp ý vào đề án trình Hội nghị Trung ương 6, nhưng nội dung chưa đạt yêu cầu nên Hội nghị Trung ương 6 chưa ra nghị quyết về giáo dục và đào tạo. Tư tưởng ấy được xác định từ Nghị quyết Đại hội Đảng thứ XI, được nhắc lại trong Quyết định của Thủ tướng về “Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020” (số 711/QĐ-TTg, ngày 15-6-2012). Tuy nhiên, việc phân tích lý do tại sao cần đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục thì rất nhiều đề án của các cơ quan có trách nhiệm về giáo dục cũng như nhiều nhà giáo dục kỳ cựu vẫn chưa có được sự nhất trí minh bạch. Mà đây là vấn đề mấu chốt phải khẳng định và thống nhất trước tiên, trước khi đi vào các đề nghị đổi mới cụ thể.

Do có rất nhiều ý kiến rất khác nhau của nhiều tổ chức đã góp ý, nên ở đây tôi chỉ xin nêu ý kiến trên cơ sở một văn bản chính thống và mới nhất:

lVăn bản dự thảo của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 9-4-2013.

Văn bản này, trong Phần thứ hai “Thực trạng giáo dục và đào tạo”, đã nêu 7 thành tựu và 4 hạn chế yếu kém. 4 hạn chế yếu kém là:

1. Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém, là nguyên nhân của nhiều yếu kém khác, gây bức xúc kéo dài trong xã hội.

2. Chất lượng giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.

3. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn nhiều bất cập.

4. Cơ chế tài chính và sơ sở vật chất giáo dục còn lạc hậu.

Về phần các thành tựu, tôi nghĩ không có gì lớn cần góp ý. Nói chung, đất nước được đổi mới, kinh tế và đời sống đi lên, nước ta thoát khỏi khu vực các nước nghèo, đang tích cực hội nhập quốc tế…, tất cả những thành tựu lớn lao đó tất nhiên có sự đóng góp của sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Nhưng cái chính ở đây là phải phân tích cho đúng các mặt yếu kém, thì mới có thể tìm biện pháp đổi mới một cách căn bản được.

pic

4 điểm yếu kém của văn bản như đã nêu trên hoàn toàn không trúng căn bệnh trầm trọng hiện nay của nền giáo dục mà tôi cho rằng đã đến mức hiểm nghèo, rất cần được chỉ rõ, được phân tích, được đánh giá tác hại, thì mới có thể tìm ra được chủ trương, biện pháp khắc phục.

Tôi không hề có ý muốn phủ định các thành tựu to lớn của chúng ta, nhưng tôi cho rằng bệnh đã quá nặng, nếu không tỉnh táo và đầy trách nhiệm phân tích cho đúng nguyên nhân thì không thể nào tìm được phương thuốc và biện pháp chữa bệnh kiến hiệu được.

Tôi đề nghị chúng ta cùng suy nghĩ trả lời những câu hỏi và những vấn đề sau đây:

- Tại sao nền giáo dục của chúng ta đã có những thành tựu huy hoàng trước đây, mà đến nay, sau hơn 30 năm thống nhất đất nước, được đầu tư mạnh hơn trước, có đội ngũ giáo viên trình độ cao hơn trước, trường sở thiết bị tốt hơn trước… mà chất lượng đang xuống thấp, kém hơn nhiều nước trong khu vực? Kết quả thi tốt nghiệp phổ thông những năm gần đây chứng minh quá rõ ràng sự đi xuống ấy. Có hàng ngàn điểm 0 về Toán, về Sử. Năm 2012, Bộ GD&ĐT đã đặt điểm sàn tuyển vào đại học ở mức khá thấp, mà số lượng học sinh được nhận vào đại học vẫn không đủ chỉ tiêu, nhiều trường phải bỏ nhiều ngành đào tạo. Tình hình như vậy, có thể xem là một tình hình bình thường không?

- Chúng ta nói nhiều về bệnh thành tích trong giáo dục, nhưng phải thấy thực chất vấn đề là bệnh gian dối đã nhiễm sâu vào toàn bộ hệ thống giáo dục kể từ các cấp lãnh đạo xuống đội ngũ giáo viên. Hiện tượng Đồi Ngô sở dĩ bị phát hiện do thái độ quá trơ trẽn và ngớ ngẩn của hội đồng coi thi Đồi Ngô, còn hiện tượng gian dối trong coi thi chắc chắn phải là khá phổ biến nhưng được che đậy khôn ngoan hơn và được sự đồng tình giúp đỡ của “quần chúng nhân dân” nên khó bị phát hiện. Những năm Bộ GD&ĐT quản lý nghiêm ngặt (phong trào Hai không) thì có tỉnh chỉ đạt 35%-40% học sinh phổ thông tốt nghiệp, có trường 0%. Thế mà năm 2012, một số tỉnh vốn yếu kém lại đạt 95%-98% học sinh tốt nghiệp (hơn cả Hà Nội, Nam Định…!). Một nền giáo dục công nhận sự gian dối phổ biến như thế, từ các nhà lãnh đạo Sở, Phòng, đến giáo viên và học sinh ngậm miệng cùng nhau gian dối để lấy thành tích…, một nền giáo dục như thế có thể chấp nhận và để yên được không?

- Tại sao có hiện tượng xô đổ cổng của trường Thực nghiệm (Hà Nội)? Rất nhiều phụ huynh cố gắng cho con đi học phổ thông ở nước ngoài là vì quá chán ngán với nền giáo dục của ta. Thầy giáo và học sinh đều dạy và học khá vất vả, mà chỉ nhằm đối phó với quy chế thi cử và đành cứ phải chịu đựng như thế trong nỗi bất bình triền miên (và có cả phẫn nộ). Giáo dục như vậy làm sao có chất lượng tốt, làm sao đạt mục tiêu xây dựng nhân cách, phát triển tư duy?

- Tại sao trong khi ở nhiều nước, học sinh phổ thông học thoải mái mà vẫn đạt chất lượng tốt, còn ở ta, học sinh học đêm ngày, học ở lớp rồi học thêm đến rạc cả người, mà vẫn chất lượng kém? Chương trình phổ thông quá nặng, mấy năm qua đã cố gắng giảm tải vẫn không có hiệu quả vì giảm tải bằng cắt xén chương trình chứ không phải bằng xây dựng chương trình mới nhẹ hơn. Chương trình nặng như thế, còn đâu thời lượng cho các hoạt động thể thao, hoạt động ngoài lớp học, sinh hoạt ngoài nhà trường… để giáo dục nhân cách, để gắn nhà trường với xã hội? Vấn đề chương trình giáo dục phổ thông quá nặng gây phản ứng trong nhân dân đã đưa đến việc Thường vụ Quốc hội trực tiếp tổ chức đi kiểm tra chương trình giáo dục phổ thông ở một số tỉnh. Rõ ràng mục tiêu giáo dục phổ thông là sai lệch: chạy theo kiến thức văn hóa, cố nhồi nhét kiến thức, không chú ý nội dung giáo dục nhân cách, cho rằng chất lượng thể hiện ở khối lượng kiến thức nên không thoát được tình trạng chương trình quá nặng. Hiện nay, Bộ GD&ĐT đang cải tiến chương trình phổ thông, không rõ cải tiến theo phương hướng nào, nếu không nhằm khắc phục các bệnh trạng trên thì lại lãng phí tiền của, công sức mà nền giáo dục phổ thông vẫn sễ tiếp tục đi xuống, gây tác hại lâu dài đến toàn thể nền giáo dục quốc dân.

pic

- Trong giáo dục đại học, một căn bệnh nguy hiểm mà kéo dài đến mức kinh niên là bệnh chạy theo số lượng, không thèm chú ý đến chất lượng nên chất lượng ngày càng sa sút. Từ 2001 đến 2010, số lượng trường đại học và cao đẳng tăng 2,5 lần: từ 153 (69 đại học, 84 cao đẳng) lên 386 (171 đại học, 215 cao đẳng), số sinh viên tăng hơn 10 lần trong khi số giáo viên chỉ tăng 3 lần, đó là chưa tính đến việc giáo viên trường đại học còn phải dạy các hệ giáo dục thường xuyên, phải dạy nghiên cứu sinh thạc sĩ và tiến sĩ. Trong 2 năm 2007-2008 tăng thêm 95 trường, tức tốc độ mỗi tuần thêm một trường mới. Tốc độ phát triển các trường đại học và cao đẳng đã làm Quốc hội lo lắng, và mặc dù Bộ GD&ĐT có cả một hệ thống thanh tra hùng hậu, Quốc hội vẫn phải lập nhiều đoàn thanh tra để phát hiện vạch mặt những trường được cho thành lập mà hoàn toàn không có được cơ sở vật chất và số giáo viên tối thiểu. Nhiều trường, nhất là các trường ngoài công lập, không tuyển sinh đủ chỉ tiêu vì không được nhân dân tin tưởng. Đặc biệt năm 2012 vừa qua, nhiều trường đang đứng trước nguy cơ phải giải thể vì quá ít đơn xin tuyển, đến mức báo chí đã phải giật tít thảm thiết “Cứu trường ngoài công lập” và ông Trần Hồng Quân đã phải khẩn thiết kiến nghị Chính phủ có biện pháp cứu các trường ngoài công lập, đề nghị để cho các trường tự ý tuyển chọn sinh viên không phụ thuộc vào điểm sàn do Bộ GD&ĐT quy định. Mà điểm sàn của năm 2012 đã thấp như thế nào, mọi người đều đã biết!

Như vậy làm sao có được chất lượng tốt?

- Chiến lược phát triển đến năm 2020 vẫn đặt mục tiêu phải đạt 350-400 sinh viên/vạn dân. Dự thảo đầu tiên là 450, bị nhiều ý kiến phản đối quá nên rút lại 350, nhưng cuối cùng văn bản Chiến lược chính thức vẫn giữ con số tỷ lệ mềm dẻo là 350-400, nghĩa là vẫn muốn cố gắng đạt 400. Muốn đạt tỷ lệ ấy (hơn 4 triệu sinh viên), phải có 600 trường đại học - cao đẳng, phải có khoảng 250.000 - 300.000 giáo viên trong khi tổng số giáo viên hiện nay là 70.430 người (49.740 ở đại học, 20.6690 ở cao đẳng). Từ nay đến 2020, làm sao có thể đào tạo thêm 200.000 giáo viên, trong đó tất nhiên phải bảo đảm một tỷ lệ thạc sĩ, tiến sĩ theo các tiêu chí tối thiểu về chất lượng đã quy định?

Vậy mà trong bản Chiến lược đến năm 2020, cũng như trong bản dự thảo ngày 9-4-2013 của Bộ GD&ĐT không hề có một ý nào phê phán quan điểm chạy theo số lượng. Điều đó càng nói lên rõ ràng tư tưởng “chạy theo số lượng, xem thường chất lượng” là một quan điểm khá “sâu sắc” của các nhà lãnh đạo, các vị đã bỏ ngoài tai bao nhiêu ý kiến phản biện của các chuyên gia trong và ngoài ngành giáo dục trong mấy năm qua.

Trong khi đó, rất nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng không tìm được việc làm. Báo chí đã đưa tin hàng ngàn cử nhân, kỹ sư tốt nghiệp xin đi làm công nhân, lao động giản đơn; Đà Nẵng dồn ứ giáo viên tốt nghiệp hàng ngàn người. Vậy mà ngành giáo dục vẫn ra sức chạy theo chỉ tiêu sinh viên/vạn dân, vẫn tiếp tục cho phép mở thêm nhiều trường mới bất kể điều kiện giáo viên và trường sở!

- Ngoài khoảng vài chục trường đại học có chất lượng tốt, xứng với tên đại học (mặc dù chưa có trường nào được các tổ chức quốc tế xếp vào danh mục Top 300 của thế giới), còn thì bằng cấp của ta không được ai công nhận. Chúng ta có 1,4 vạn tiến sĩ, tức là gấp 5 lần Thái Lan, gấp 6 lần Malaysia, nhưng số bài báo khoa học thì thua họ xa: Năm 2008, Việt Nam có 900 bài báo khoa học, trong khi Thái Lan 3.300, Malaysia 2.191, còn Singapore 5.553. Năm 2009, số lượng bài báo khoa học được công bố quốc tế của toàn Việt Nam là 403 bài, trong khi riêng trường Chulalongkorn của Thái Lan đã có 416 bài. Cái nạn bằng rởm, tiến sĩ rởm đã trở thành chuyện bình thường trong xã hội. Nói chung, ta không có gì để vui vẻ và tự hào với số lượng trường đại học và cao đẳng phát triển nhanh, với tổng số sinh viên tốt nghiệp, với số lượng tiến sĩ vượt xa các nước bạn. Không nên đưa số lượng phát triển ấy vào các thành tựu, mà trái lại, nên phê phán mạnh vào chất lượng đang đi xuống.

- Còn rất nhiều vấn đề “rất căn bản” như: Cơ cấu hệ thống giáo dục và đào tạo nhiều chỗ rất bất hợp lý, việc quản lý toàn ngành giáo dục bị chia cắt, cơ cấu đội ngũ nhân lực mất cân đối nên hiệu quả toàn đội ngũ rất thấp, nội dung và phương pháp đào tạo lạc hậu, đầu tư cho giáo dục đã quá thấp mà còn chưa trúng v.v… Nhưng chỉ riêng mấy nội dung đã trình bày trên (dù chỉ đưa ra một ít số liệu chứng minh) đã có thể đưa đến một kết luận không thể né tránh là:

Nền giáo dục của ta đang đi xuống, đã xuống đến mức quá thấp so với thế giới và trong khu vực, tư duy giáo dục lạc hậu và lệch lạc, hệ thống giáo dục quốc dân quá bất hợp lý, mục tiêu giáo dục sai lệch, càng ngày càng bị các nước láng giềng bỏ xa, đang ở tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Trong thế kỷ XXI, thế kỷ của nền kỹ thuật chất lượng cao, năng lực cạnh tranh và khả năng đi lên của mỗi nước chủ yếu dựa vào chất lượng của đội ngũ nhân lực. Ta đã quá chậm, quá trì trệ, nếu bây giờ mà chưa nhận thấy điều đó thì sẽ chậm thêm vài thập kỷ nữa!

Cho nên cần gióng một hồi chuông cấp báo cho các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước nhận thức đúng mức tình trạng nguy hiểm và thật sự cấp bách của nền giáo dục nước ta, để có sự giật mình đúng đắn, có sự lo lắng đúng mức để tỉnh táo và mạnh bạo đề ra những chủ trương sáng suốt và quyết liệt để có thể đưa nền giáo dục của ta vượt qua khủng hoảng.

Những nhận định của tôi thực ra không có gì mới, vì nhiều ý kiến đã được nhiều nhà giáo dục kỳ cựu cũng như nhiều nhà lãnh đạo phát biểu trong những năm qua. Tôi tự xét mình hoàn toàn không phải là con người cực đoan, tôi không hề muốn phủ định những thành tựu về giáo dục của ta trong những năm qua. Nhưng tôi cho rằng hài lòng quá nhiều với những thành tựu (những thành tựu có thật) mà không lo lắng đau xót đúng mức với những sai lầm yếu kém, những bệnh nặng thuộc về bản chất của nền giáo dục của ta là ta đã rơi vào cái tâm lý nguy hiểm của thời đại, mà thế gíới gọi là “Cái bẫy của Thu nhập trung bình” đang tác động tiêu cực đến sự phát triển của nhiều nước trên thế giới.

Cho nên, lần này, hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng, tôi cho rằng: Đây là cơ hội quý báu, là thời cơ hãn hữu để các nhà giáo dục cùng toàn Đảng toàn dân phá tan những xiềng xích của tư duy lạc hậu và cơ chế giáo dục sai lạc của ta hiện nay, để thực hiện một bước chuyển mạnh, đưa nền giáo dục của ta làm đúng được chức năng: Giáo dục là quốc sách hàng đầu.

Nếu lần này ta không tạo được một biến chuyển mạnh mẽ, căn bản và toàn diện cho giáo dục và đào tạo, thì dù cho ta có tiến bộ nhiều về mặt này hay mặt khác, chắc chắn là đất nước ta sẽ tiếp tục tụt hậu xa hơn nữa so với các nước láng giềng trong khu vực.

Và không biết đến bao giờ mới theo kịp người ta!l

Tháng 5-2013

 

_____

* Nguyên Vụ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Phó Chủ tịch Hội Cựu giáo chức Bộ Giáo dục và Đào tạo (H.V.)

Nhận xét
  • PArner Honvietquochoc
  • Viet nam air
  • free hit counter script