HV100 - “Có việc gì hãy hỏi lại lịch sử”

03 Tháng Hai 2016 3:34 CH
HỮU THỈNH*

Bookmark and Share

Hình ảnh của HV100 - “Có việc gì hãy hỏi lại lịch sử”

 Tôi thật sự ngạc nhiên khi được ngài Chai Nakhonchai, giám đốc Nhà xuất bản Đương Đại - Thái Lan cho biết một tin vui bất ngờ. Với kết quả nghiên cứu mới nhất, có độ tin cậy cao của ngành Nhân chủng học Thái Lan bước đầu đưa ra một kết luận: Tổ tiên dân tộc Thái Lan có nguồn gốc từ châu thổ sông Hồng.

Tổ tiên dân tộc Thái Lan có nguồn gốc châu thổ sông Hồng! Trong lúc chúng ta đang phấn đấu để đến năm 2015 xây dựng khối ASEAN thành một cộng đồng chung thì một tin vui như thế chẳng có ý nghĩa lắm sao? Trong sự phấn chấn trước sự phát hiện tầm cỡ vừa mang lại, tôi lục lại các ấn tượng, những lời chỉ dẫn liên quan đến sự kiện rất quan trọng này. Một hạt lúa được chôn dưới lòng đất dưới chân thành Cổ Loa trên 3.000 năm còn có thể nảy mầm và mọc lên một đám lúa con gái xanh tốt, thì việc hai dân tộc cùng sinh thành trên cùng châu thổ sẽ kết thành những “cây đại thụ” về văn hóa, về tình hữu nghị. Say với chất men của quá khứ, tôi vội đi tìm cuốn sách quý: Luật tục Thái - Việt Nam của hai tác giả Ngô Đức Thịnh - Cầm Trọng do NXB Văn Hóa Dân Tộc ấn hành năm 2003. Đây là một cuốn sách quý, dày 1.047 trang, tôi đã được đọc một phần từ dạng bản thảo. Một bộ sách nghiên cứu về luật học mà chứa đựng bao nhiêu kiến thức quý báu về quan hệ xã hội, thiên nhiên, vũ trụ, tâm linh, kinh tế, văn hóa và sau tất cả là những quan niệm về giá trị đạo đức. Tôi đã đọc say mê như đọc một cuốn sách văn chương đích thực. Đây, tôi xin trích một vài câu ở chương Về đạo lý làm người:

- Có việc gì hãy hỏi lại lịch sử.

- Những việc cong queo không theo là tốt nhất.

- Vỗ tay cần nhiều ngón.

- Tiền bạc đặt ngôi dưới, lúa thóc đặt ngôi trên.

- Lẽ làm người như đào đất, có từng lớp nhưng không bao giờ tận.

- Chọn con dao chứ không phải chọn vỏ dao.

v.v… và v.v...

Luật pháp nhằm điều chỉnh các mối quan hệ về con người. Muốn trị người, trước hết phải hiểu người. Một trong những nét độc đáo nhất của Luật tục Thái - Việt Nam là, trước khi đưa ra những chế tài quy định các mối quan hệ xã hội, nó tiến hành khảo sát về con người. Chỉ riêng Luật tục ở mường Mai Châu đã định ra 47 loại người với những tính cách và hành vi cụ thể của họ. Ví dụ:

- Đối với loại người cầm đòn dọa nạt người lấy của, gọi là người ăn cướp (cồn cướp).

- Đối với loại người ai xưa tốt với mình thì hay quên, ai xưa ghét mình mà vẫn quý, nay thấy họ nghèo, mình lại bỏ đi, gọi là người bất nhân (cồn bất nhân).

- Đối với loại người không ai khiến bảo, thấy giặc tự ra đánh, gặp hổ tự giết hổ, gọi là người gan dạ (cồn hổ).

Một sự hiểu biết về con người như thế, đâu chỉ cần thiết cho các nhà soạn thảo các chế tài pháp lý, nó cần thiết cho tất cả những ai quan tâm đến cuộc sống và số phận con người. Luật tục Thái - Việt Nam còn phản ánh các cuộc chuyển động dân cư của dân tộc Thái từ châu thổ sông Đà, sông Thao chuyển dần lên phía Tây Bắc. Chẳng hạn chữ Viêng là chỉ hệ thống hào lũy bảo vệ xung quanh châu mường, nó cũng có sự di chuyển theo sự di chuyển dân cư, lan tỏa theo vết chân người. Viêng có khá nhiều ở Lào và Thái. Chẳng hạn như Viêng Chăn. Đó là một bằng chứng thú vị qua ngôn ngữ để hiểu dân tộc học. Tôi không giấu nổi vui mừng có một cẩm nang du ngoạn trong thế giới tinh thần của người Thái.

* * *

Trong gần 10 lần sang Việt Nam, giáo sư Khăm Sỉnh hầu như lần nào cũng tìm cách lên Tây Bắc. Các Công chúa Hoàng gia Thái Lan đến Việt Nam ưu tiên lên Tây Bắc trước rồi mới đi thăm các danh lam thắng cảnh khác. Tây Bắc hấp dẫn họ trước hết là lịch sử. Tìm lại lịch sử là nguồn cảm hứng mãnh liệt của bất cứ ai quan tâm đến hiện tại và tương lai.

Hai dân tộc hình thành trên cùng một vùng châu thổ sông Hồng. Rất tiếc, tôi biết được điều quan trọng này sau 10 năm đến Thái Lan lần đầu. Đó là cuộc gặp gỡ không chính thức. Số là tôi được mời sang Hoa Kỳ dự cuộc Hội thảo mùa hè năm 1993 của Trung tâm William Joiner thuộc Đại học Massachusetts. Lúc đó, Mỹ chưa xóa bỏ cấm vận chống Việt Nam. Chúng tôi phải bay sang Bangkok để vào sứ quán Mỹ tại đó xin visa nhập cảnh Hoa Kỳ. Trong lúc ăn đợi nằm chờ, tôi tranh thủ đi dạo qua một vài phố chính, ăn một vài món ăn lạ, ghé qua một số cửa hiệu, mua một vài thứ kỷ niệm nho nhỏ. Tôi bị thuyết phục trước một cảng hàng không hiện đại. Nhưng thuyết phục hơn là những ánh mắt, những nụ cười, những cử chỉ thân thiện có thể gặp ở bất cứ đâu. Và tôi đã đến khu Chùa Vàng thưởng thức sự nổi tiếng của nó, thắp nén hương dâng Phật và tiến hành cầu nguyện. Tôi chưa hề biết một tiếng Thái nào, nhưng tâm linh thì lấy sự chân thành để dịch thẳng những điều sâu kín nhất. Với ít ỏi những sự tiếp xúc như vậy, tôi hiểu là tôi đang gõ cửa một nền văn hóa đặc sắc với nhiều nét tương đồng.

Những nét tương đồng này sẽ được khám phá sâu hơn trong chuyến thăm chính thức diễn ra vào năm 1999. Lần này tôi đến Bangkok với giấy mời nhận giải thưởng văn học ASEAN do Thái Lan đăng cai và đại diện Hoàng gia chủ trì. Một vương quốc với nền quân chủ lập hiến, lại chọn đạo Phật là quốc đạo thì sự phong phú về các nghi lễ là biểu hiện của sự trọng thị và lòng mến khách ở cấp độ thượng lưu. Tôi không thấy sự khác nhau mấy giữa sự tôn kính khi đứng trước nhà vua, đứng trước đức Phật và đứng trước những người bạn. Đó là sự bình đẳng của các tôn giáo. Và đó còn là quà tặng của lịch sử: Lòng tự tin. Đất nước này chưa hề biết đến sự khinh miệt của chủ nghĩa thực dân. Người dân của xứ sở này chưa một ngày nếm mùi nô lệ trong một quá khứ gần. Phong thái tự do, bình đẳng là một trong những bản năng gốc tạo nên nét đặc trưng văn hóa. Tự do và tính thiện đều có tuổi thọ ngang nhau.

pic

Chùa Wat Arun, Thái Lan

Nhưng sự khám phá sau đây với tôi là rất đặc biệt: Một đất nước không quen chiến tranh nhưng rất giàu tinh thần tranh đấu. Lần ấy, sau Lễ trao giải thưởng hết sức trang trọng tại khách sạn Hoàng gia, tôi được giáo sư Khăm Sỉnh mời đến thăm nhà. Khăm Sỉnh còn là một chính khách, một nhà văn rất tên tuổi ở Thái Lan. Căn nhà gỗ giản dị dường như tỷ lệ nghịch với sự nổi tiếng của ông. Nhờ sự giản dị và đầm ấm của nó mà tôi được tiếp xúc với một tiểu không gian văn hóa Thái. Lòng mến khách được thể hiện nhuần nhuyễn qua từng cử chỉ của bà chủ nhà, các cô con gái và các vị khách. Rất đông khách. Họ là những giáo sư đại học, nhà báo, thầy thuốc, các chủ doanh nghiệp, những viên chức trong bộ máy công quyền. Hai mươi năm trước, họ là những người đồng chí, hoạt động trong một phong trào rộng lớn ủng hộ sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của Việt Nam. Các bạn nói rằng, chúng tôi từng bao vây sân bay Cò-rạt (Thái Lan), phá hủy máy bay Mỹ để ủng hộ Việt Nam, nhưng một nhà văn Việt Nam thì đây là lần đầu chúng tôi được gặp. Các chiến sĩ quốc tế đã dành cho tôi những tình cảm đặc biệt, tôi gặp hết bất ngờ này đến bất ngờ khác. Đó là nữ giáo sư Pornpen Hantrakool, chuyên gia hàng đầu về văn học Việt Nam. Chị sang Việt Nam ngay từ lúc chiến tranh đang diễn ra ác liệt, và đã hoàn thành luận án tiến sĩ về thơ Tố Hữu. Trong buổi tiếp, chị đọc nhiều bài thơ của Tố Hữu viết về Bác với đôi mắt ngấn lệ. Đó là một dàn nhạc dân tộc dồn dập gây bất ngờ cho tôi khi họ liên tiếp cử các bản nhạc của Việt Nam. Toàn là những bài hát thời chống Mỹ. Những bài hát của một thời áo lính vang lên ở một xứ sở thanh bình, khiến tôi bồi hồi xúc động, có cảm giác được nhận lại ánh sáng mặt trời qua phản chiếu của mặt trăng.

Tinh thần tranh đấu ấy còn có tên gọi khác là sự hướng thiện. Nó thấm đẫm trong đời sống và văn chương Thái. Trong bài Nghệ sĩ - người sáng tạo nghệ thuật, nhà thơ Khomthuan Khanthanu viết:

Vung bút như bạt kiếm

Chém phi nghĩa trong đời

Một trời đầy giông bão

Gió mưa đập tơi bời

Nghệ sĩ - người sáng tạo

Quên thân mình vì ai

(Bản dịch của Nguyễn Mai Phương)

Khomthuan Khanthanu mở rộng nội hàm của sự sáng tạo. Sáng tạo theo ông không chỉ là sự tìm kiếm cái đẹp, mà còn là sự quên mình vì điều thiện.

Với một bút pháp khác, Withayakoru Chiangkul sau khi miêu tả cái ác như một định mệnh, đã gióng lên tiếng chuông kêu gọi Anh em hỡi cùng nhau chung sức để chặn đứng nỗi tuyệt vọng và sự an bài của số phận. Ông mơ ước:

Sẽ hái trăng, nhặt sao khắp thượng giới

Làm thức ăn người khó, không nhà

Duyên dáng điệu múa Thái

Bầu trời kia, từng miếng, hãy cắt ra

May khâu áo chia cho người nghèo khổ

(Ước mơ nơi thôn quê -
bản dịch của Trần Cẩm Tú)

Mở đầu bài viết này, tôi nói đến sự tương đồng về lịch sử, giữa Việt Nam và Thái Lan. Đó là sự tương đồng trong quá khứ. Những dòng thơ tôi vừa hân hạnh trích dẫn trên kia là bằng chứng hùng hồn về sự tương đồng trong hiện tại. Từ những vấn đề dân tộc, các nhà văn hai nước chúng ta còn gặp gỡ và chia sẻ biết bao lo âu về số phận của con người, vấn đề của toàn thế giới. Chắc chắn, nỗi thấp thỏm về sự mong manh của hòa bình trên trái đất không chỉ riêng của Sakariya Amataga:

Ôi mẹ ơi

Sân chơi của con liệu có mìn không nhỉ?

Đu quay của con liệu có bị xe tăng bắn tan không nhỉ?

Ngày mai, quán chè của bác Hatsan liệu có mở cửa không nhỉ?

Quán Alphirayu mà cha hay đến ngồi liệu có còn mùi cà phê thơm sực nữa không?

Sáng sớm liệu có sữa tươi cho con uống cùng bánh mì không nhỉ?

(Sân chơi của con liệu có nữa không nhỉ? - bản dịch của Trần Cẩm Tú)

Cứ thế, biết bao câu hỏi, nghẹn ứ, bức thiết và nóng bỏng. Những câu hỏi không phải chỉ dành riêng cho một người, nó là thông điệp gửi cho tất cả mọi sinh linh trên hành tinh nóng bỏng của chúng ta.

Đáp lại câu hỏi đó, tập sách Bông sen nở trong dòng suối văn học(1) ra đời, như là sự đánh dấu tâm nguyện chung của các nhà văn Việt - Thái cùng góp sức cho hòa bình, cho tình bạn, cho sự gắn bó giữa hai dân tộc. Rồi đây, chính tập sách này cũng sẽ trở thành lịch sử. Đến lượt nó, nó sẽ mách bảo với thế hệ mai sau những gì mà lương tâm cần lên tiếng.

 

_____

* Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam. Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học - nghệ thuật (H.V.)

(1) Tuyển tập văn học Thái Lan và Việt Nam do NXB Văn học Nghệ thuật đương đại (Thái Lan) ấn hành, 2013.

  • Viet nam air
  • free hit counter script