HV105 - Những điều còn lại sau chuyến đi của ông Obama

20 Tháng Chín 2016 9:06 SA
NGUYỄN VĂN THỊNH

Bookmark and Share

Hình ảnh của HV105 - Những điều còn lại sau chuyến đi của ông Obama

Chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Obama từ ngày 23-5 đến 25-5-2016 đã kết thúc theo chiều tích cực. Tuy nhiên, nói là mọi trở ngại với cả hai bên đã được giải tỏa để có được mối quan hệ bình thường là điều dù chúng ta rất mong mỏi nhưng con đường ấy còn nhiều thử thách và tiềm ẩn nguy cơ. Trước hết bởi hai nước có quá trình lịch sử khác nhau và đặc biệt có một giai đoạn lịch sử khó khăn khác nhau ở nền tảng văn hóa, thể chế chính trị, trình độ dân trí, vị trí địa chính trị, sự ổn định xã hội; hơn nữa Hoa Kỳ là một cường quốc hàng đầu với những tham vọng là cố tật của bất kỳ kẻ mạnh nào. Trong khi chúng ta vừa thoát ra khỏi chiến tranh, nền kinh tế chậm phát triển và đang lúng túng trong nhiều cơ chế ràng buộc, xã hội có hòa bình nhưng tiềm ẩn nhiều nguy cơ, quá trình hội nhập có tác động hai chiều thuận nghịch phân tâm lòng người, những biến động thời cuộc khó lường và áp lực của nhiều cường quốc tác động đa chiều tới mọi sinh hoạt xã hội và nhân tâm.

Qua chuyến đi công cán hơn 40 tiếng đồng hồ của ông Obama để lại cho ta nhiều điều suy nghĩ. Trước hết, một bộ phận không nhỏ đã tự phô bày ra điểm yếu của mình. Trước sự đón tiếp nồng hậu của nhân dân ta với nguyên thủ một quốc gia đã từng để lại bao nhiêu đau thương tang tóc trên đất nước này và những vết thương vẫn còn đang rỉ máu, ông Obama nói: “Tim tôi đã nhiều lần rung động bởi sự tử tế mà dường như đối với người Việt Nam là chuyện bình thường”, lại được những ai tráo từ đổi ý thành: “Bài phát biểu được đánh giá chạm tới trái tim của người Việt Nam!”. Phải chăng ngài Obama đã chạm đến trái tim của TS Khuất Thu Hồng, khiến bà quên béng mình là ai, xúc động thốt lên: “Bằng chuyến đi và lời phát biểu của mình, bằng việc ngồi ăn bún chả hay uống cà phê sữa hay bắt tay người dân, thì ông Obama đã tạo nên một thần tượng mà từ nay người Việt Nam luôn luôn hướng đến, mơ ước và mong mỏi rằng một ngày nào đó mình sẽ có những thần tượng như thế ở đất nước này”. Thưa bà, xây dựng hình ảnh một thần tượng không dễ có được trong ngày một ngày hai và nó rất khác nhau với mỗi người, mỗi giới, mỗi cộng đồng và mỗi quốc gia. Nếu như ông Obama sang sống ở Việt Nam thì chưa hẳn đã làm nên đại sự, giống như nhà toán học Ngô Bảo Châu sinh ra ở Việt Nam, lớn lên ở Việt Nam, trở thành người làm toán giỏi ở môi trường khác, nhưng khi về Việt Nam thì tiếng nói của anh ta nghe khó lọt tai! Thần tượng của dân chúng Việt Nam hiện không phải là ông Obama, cũng không phải là ông Bill Clinton, mà là ở cách đào tạo và sử dụng nhân tài của họ. Như bà Hillary Clinton, bà Rice, bà Albright, ông Powel, ông Obama được trao cho những trọng trách quốc gia không phải từ yêu cầu của chính sách ưu tiên phụ nữ, ưu tiên người sắc tộc, mà do người ta biết giao việc cho người có thực tài, và dù có tài mà không được việc cũng bị người ta thay thế tức thời.

Trả lời câu hỏi của một phóng viên VietNamnet: “Vì sao một Tổng thống Mỹ như ông Obama lại nhắc tới tư tưởng Phan Châu Trinh như một tinh hoa của tri thức Việt Nam, gợi mở cho chúng ta điều gì trong bối cảnh hiện nay?”, ông giáo sư ngữ văn trường Đại học Quốc gia Hà Nội Trần Ngọc Vương trả lời đại ý như sau: “Phan Châu Trinh với tất cả trải nghiệm cá nhân, bi kịch gia đình cũng như truyền thống học vấn và khát vọng cá nhân, ông sớm nhận ra cái khó khăn của công cuộc cải tạo xã hội và những chặng đường gập ghềnh của tiến bộ xã hội. Vì vậy, ông không chủ trương dùng bạo lực mà đi theo con đường khai sáng với tư tưởng: Khai dân trí – Chấn dân khí – Hậu dân sinh. Mọi hoạt động của ông đều minh bạch và công khai. Bên cạnh đó, Phan Châu Trinh chủ trương “Ỷ Pháp cầu tiến bộ”. Ở đây, Phan Châu Trinh đã nhận ra mặt thứ hai của chủ nghĩa thực dân, ấy là mặt xây dựng chứ không chỉ là mặt phá hoại. Đó là cái nhìn tiến bộ và xa hơn rất nhiều so với Phan Bội Châu. Chúng ta chứng kiến một thực tế về sau này là chính hệ thống giáo dục của nước Pháp đã đào tạo ra một đội ngũ trí thức mà chúng ta vẫn gọi là “thế hệ vàng” của trí thức Việt Nam. Và chính những trí thức này sau đó đã góp mt phần rất lớn trong việc loại bỏ “Chủ nghĩa thực dân và tạo nền móng cho mt xã hi hiện đại tại Việt Nam”.

Thưa ông giáo sư, cụ Phan Châu Trinh là một nhà yêu nước, được nhân dân cả nước tôn kính và không ít người trong thế hệ thanh niên thời ấy bị hệ lụy kẻ nhiều người ít bởi lòng yêu kính cụ. Người viết đã ở tuổi “cổ lai hy”, có ông và cha nằm trong số đó. Mong được giáo sư làm rõ để minh bạch công khai điều mà hậu thế lòng còn khắc khoải: Từ cuối thế kỷ XIX, người Việt Nam đã thành dân vong quốc. Những cuộc nổi dậy chống ách nô dịch thực dân với nhiều hình thức khác nhau, kể cả hình thức đấu tranh ôn hòa nhằm phục hồi và canh tân văn hóa truyền thống của giới sĩ phu đều bị nhà nước thực dân đàn áp dã man tàn bạo. Đầu thế kỷ XX, liên tục xảy ra ba cái chết oan khiên mờ ám của các vua Dục Đức, Kiến Phúc, Hiệp Hòa. Kế đến là ba vua khí phách Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân bị đày đi biệt xứ. Đồng thời là những vụ án xử hàng loạt các sĩ phu chí sĩ danh tiếng gây chấn động lòng người: các cụ Phan Bội Châu, Lương Văn Can, Ngô Đức Kế, Lê Văn Huân, Đặng Nguyên Cẩn, Nguyễn Quyền, Dương Bá Trạc, Phạm Tuấn Phong… đều bị đi đày, có người biệt tích. Trong nhóm tam hùng của đất Quảng Nam thì TS Trần Quý Cáp bị chặt đầu, TS Huỳnh Thúc Kháng bị đày 11 năm ngoài Côn Đảo. Riêng Phó bảng Tây Hồ thì giặc Pháp có nương tay chứ không phải chúng sợ cái Ủy ban Nhân quyền Quốc tế. Từ án tử hình giảm xuống trảm giam hậu, đày ra Côn Lôn. Sau hai năm, Toàn quyền Pháp lệnh cho Thống đốc Nam kỳ đích thân ra đảo làm cuộc thẩm vấn riêng. Quân chiếm đóng không thể không biết về cái chết của ông Quản cơ nghĩa quân Phan Văn Bình(1). Trong lúc đất nước đau thương khốn khổ và bốn bể năm châu mịt mù tăm tối thì những người tâm huyết với đất nước có những cách nhìn, lối đi khác nhau là lẽ tự nhiên. Bọn thực dân cáo già hiểu ra đường lối chủ trương của cụ Phan Châu Trinh chẳng thể làm rụng một cái lông chân của kẻ cầm quyền, nên chúng nhân nhượng để tỏ ra nhà nước bảo hộ có nhân quyền, dân chủ, văn minh. Chúng rước cụ về đất liền, mời cụ qua Paris dạy chữ Hán, lại cho cả người con trai cùng đi theo để mở mang sự học. Cụ được tha hồ viết sách truyền bá tư tưởng cầu thân với Pháp, viết thư vạch mặt xấu xa của vua Khải Định. Tuy nhiên nhà nước thực dân lúc ấy thấy cần phải răn đe thì nó cũng cho cụ vào tù.

Cụ Tây Hồ đứng đầu nhóm “Ngũ long” nổi tiếng, được bà con Việt kiều ở Pháp đặt vào nhiều hy vọng, nhưng cụ không hợp với ai: “Tôi xem anh Nguyễn Ái Quốc, anh Nguyễn Thế Truyền và ông Phan Văn Trường, là người thông minh bực nhứt xứ ta, nhưng xem ra ông nào cũng bị mt chứng bệnh nặng cả, chẳng biết ngày sau có làm ra công hiệu gì cho nòi giống ta được nhờ chăng? Hay là trước học Tàu là ông đồ hủ Nho, nay học Tây là anh đồ hủ Âu mà thôi!”. Mỏi mòn chờ đợi mặt thứ hai của chủ nghĩa thực dân là xây dựng chứ không chỉ là phá hoại mà vẫn chưa thấy đâu, trong khi nước vẫn mất, dân tình vẫn lầm than. Vả lại, nói đến sứ mệnh hai mặt (double mission) thì phải hiểu rằng Các Mác nói đến thực dân Anh ở Ấn Độ - cánh thực dân này trẻ và cấp tiến chứ ở Đông Dương thì thực dân Pháp chỉ có bóc lột, khai thác là nhiều. Ông Trần Ngọc Vương vận dụng luận điểm này không tính tới hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Cụ bất lực và kiệt sức, đòi về xứ thì nhà nước thực dân cũng chiều theo. Cụ vẫn được tự do diễn thuyết trước công chúng về các chủ đề “Luân lý và đạo đức Đông Tây”, “Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa” thì vô sự. Ông Nguyễn An Ninh diễn thuyết về “Quyền tự do dân chủ của nhân dân” thì bị nó bắt bỏ tù!

Trong khi ông Nguyễn Ái Quốc sớm nhận ra rằng: “Cụ Phan Châu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương là sai lầm, chẳng khác gì xin giặc rủ lòng thương”, đã tìm một lối đi riêng. Bằng sự nhạy cảm và sáng suốt của người cách mạng, bền gan vững chí vượt mọi gian khó hy sinh, với tài tổ chức và vận động của người lãnh đạo, ông đã khôn khéo tranh thủ tối đa sự ủng hộ của các bạn đồng minh, tập hợp và vận động quần chúng nhân dân, tạo thời dựng thế và không bỏ lỡ thời cơ giành lại độc lập chủ quyền cho tổ quốc.

Có độc lập tự do rồi thì “Dân trí – Dân khí – Dân sinh” mới được khai phóng. Phải chăng tư tưởng Hồ Chí Minh là cái gốc và tư tưởng Phan Châu Trinh là cái ngọn? Ấy thế mà cái “Giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh” của các nhà dân chủ mới lại chê rằng: Thắng lợi mà chết nhiều như thế thì còn nghĩa lý gì?! Các ông đều đầy bụng chữ mà có biết ở thế kỷ XIII, ba lần nhà Trần chống giặc Nguyên-Mông và ở thế kỷ XV, Lê Lợi 10 năm đánh đuổi quân Minh, thì dân ta tổn thất bao nhiêu? Cuối đại chiến thế giới thứ hai, giặc Pháp manh tâm bán nước ta cho Nhật, chỉ trong một năm có tới hai triệu người chết đói! Và qua lịch sử nước Mỹ, trong cuộc nội chiến Bắc-Nam, quân đội hai bên đánh nhau bằng những loại vũ khí thông thường mà chỉ trong bốn năm, có hơn nửa triệu binh lính bỏ mạng. Các ông hãy chỉ ra trong bốn ngàn năm dựng nước, hàng chục lần nước ta bị cường quốc xâm lăng, có lúc nào một ai khoanh tay cúi đầu cầu xin giặc rủ lòng thương mà nó tha cho?

Ông giáo sư Vương nói tới một “thế hệ vàng” của trí thức Việt Nam thì cần hiểu rõ “thế hệ vàng” ấy hình thành như thế nào. Xin trích ra một đoạn trong bức thư của nhà triết học trẻ Trần Đức Thảo lúc bấy giờ đang dạy học ở Paris gửi về Hà Nội sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công: “… Khi nhà cầm quyền Pháp cho phép những thanh niên Việt Nam gia đình khá giả vào theo trung học và đại học là hy vọng rằng họ theo học Pháp mà quên đi những ý niệm yêu nước của các nhà Nho thời xưa và sẽ đứng về phía người Pháp ở thuc địa hợp thành mt giai cấp thống trị mới Pháp - Nam, có học vấn như nhau, quyền lợi cũng giống nhau. Nhờ đó người Pháp sẽ có thể đứng vững ở nước này…”. Tất nhiên tầng lớp trí thức tay sai ấy được bình đẳng trong hệ thống cai trị của nhà nước thực dân. Hệ thống giáo dục của nhà nước bảo hộ đào tạo được bao nhiêu trí thức? Chỉ những trí thức chân chính tự nguyện gắn mình với sự mất còn của tổ quốc và dân tộc, đấu tranh cho một nước Việt Nam thống nhất, hòa bình, hưng thịnh như Mai Văn Ngọc, Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Thái Văn Lung, Nguyễn Ngọc Nhựt, Phạm Ngọc Thảo, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Văn Huyên, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, Phạm Ngọc Thạch, Phan Anh, Vũ Đình Hòe, Ngụy Như Kontum… dù đứng trong hay ngoài Đảng Cộng sản họ xứng đáng được gọi là “thế hệ vàng” của trí thức Việt Nam. Cuộc kháng chiến trường kỳ chống ngoại xâm tạo điều kiện để họ tự trui rèn thành vàng luyện, khác nào lò luyện linh đan biến vàng thô thành vàng ròng, là một quá trình đãi sạn tìm vàng nhọc nhằn mà quý giá.

Vào năm 1995, trong tuyên bố bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, để an lòng một bộ phận không nhỏ dân chúng Mỹ chưa quên mối hận tháng Tư, Tổng thống Bill Clinton phải nói: “Tôi tin rằng việc bình thường hóa và tăng cường các cuc tiếp xúc giữa người Mỹ và người Việt Nam sẽ thúc đẩy sự nghiệp tự do ở Việt Nam như đã từng diễn ra ở Đông Âu và Liên Xô trước đây” khiến nhiều người Việt Nam nghi ngại. Và 20 năm sau, Tổng thống Barack Obama nói những lời mà người Việt Nam thấy mát lòng: “Tôi đến đây với lòng tôn trọng sâu sắc đối với di sản cổ xưa của Việt Nam. Hàng thiên niên kỷ Văn Miếu đứng đó tượng trưng cho lòng hiếu học của dân tc các bạn. Nhưng trong nhiều thế kỷ, số phận của các bạn thường do người khác áp đặt, mảnh đất yêu thương của các bạn không phải lúc nào cũng nằm trong tay các bạn. Nhưng tinh thần không thể bẻ gãy của các bạn như những cây tre. Cuối cùng thì người Việt Nam sẽ quyết định tương lai của mình. Mỹ sẽ không tìm cách áp đặt lên Việt Nam nhưng tập trung vào tương lai, vào sự thịnh vượng, an ninh và phẩm giá con người mà chúng ta có thể cùng nhau thúc đẩy”, và ông không quên để lại đây một món quà: “Chúng tôi rất hào hứng khi mùa thu này Đại học Fulbright (FUV) sẽ khai trương ở TP.Hồ Chí Minh, trường đại học đc lập phi lợi nhuận đầu tiên ở Việt Nam, nơi sẽ có tự do học thuật hoàn toàn và học bổng cho sinh viên khó khăn”, khiến không ít người vội sướng cuồng lên. Chưa biết món quà ấy quý giá mức nào, nhưng khi máy bay của ông vừa cất cánh, thì công luận ở Việt Nam đã chia thành hai phe xem ra khó dung hợp được(2).

Một là, người được chỉ định làm Chủ tịch Hội đồng tín thác (như chức Chủ tịch Hội đồng quản trị) của ngôi trường hữu nghị này là ông Bob Kerrey bị tố cáo là tội phạm chiến tranh khi cầm đầu một nhóm biệt kích SEAL ở Thạnh Phong (Bến Tre) vào năm 1969, đã giết hại 21 thường dân gồm toàn người già, trẻ em và phụ nữ, trong đó có người đang mang thai!

Hai là, hiệu trưởng (như chức giám đốc) của FUV dự kiến là bà Đàm Bích Thủy, từng du học ở Mỹ với học bổng Fulbright và hiện có tên trong danh sách “Hồ sơ Panama”.

Những người không tán thành vị trí của Bob dựa vào cơ sở đạo đức, nhân cách là điều nhạy cảm trong việc trồng người. Những người tán thành thì dựa trên cơ sở xóa bỏ hận thù, tha thứ để người gây tội ác có cơ hội phục thiện. Điển hình là ông Chu Hảo viết trên Google Tiên Lãng như sau: “Chúng ta hiểu về cuc chiến tranh đã qua, cách chúng ta nhìn nhận quá khứ và hướng tới tương lai là mt câu chuyện rất dài và rất phức tạp. Phức tạp đến nỗi sau 50 năm mà rất ít người có lương tri, hiểu biết và nghiêm túc ở cả hai phía, dám tự nhận là mình có thể trả lời mt cách rõ ràng và đầy đủ các câu hỏi: Cuc chiến tranh tàn khốc và đau đớn ấy thực chất là cuc chiến tranh gì? Là “Ý thức hệ ủy nhiệm”? “Xâm lược”? Hay “Giải phóng”? Thật uổng công nhân dân thắt lưng buộc bụng ưu ái nuôi ông ăn học tưởng để thành người! Chính là ông Chu Hảo cố tình làm phức tạp lịch sử! “Ý thức hệ ủy nhiệm” là thế nào? Năm 1848, khi “Tuyên ngôn đảng cộng sản” ra đời ở mãi trời Tây, thì từ lâu trước đó, người Việt đã thấy những người Tây phương (đến truyền giáo). Sau rồi là những tàu đồng chở đầy lính với những súng to súng nhỏ bắn rầm rầm gây bao nhiêu đau thương tang tóc. Từ giữa thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, trong các trào lưu chống ngoại xâm, lúc nào cũng có người trí thức tham gia không nhiều thì ít. Mỗi giai đoạn lại nổi lên một giai tầng lãnh đạo khác nhau theo sự biến thiên của lịch sử, mà nước vẫn không giữ được! Những người trí thức thiết tha với vận mệnh của tổ quốc đi tiên phong trong việc tìm đến với chủ nghĩa Mác như một phương tiện cứu cánh dân tộc mình.

Ông Chu Hảo không phân biệt được cuộc chiến đấu ấy là “xâm lược” hay là “giải phóng”! Mời quý vị lắng nghe lời nói từ phía bên kia. Trong hồi ký “Nhìn lại quá khứ – Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam” của Robert S. McNamara – bộ óc điện tử của nước Mỹ, một trong số người hoạch định cuộc chiến tranh đó, viết: “Chúng ta đã sai lầm, sai lầm một cách tồi tệ. Chúng ta mắc nợ các thế hệ tương lai câu giải thích tại sao lại sai lầm như vậy? Đến khi người lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Nam Việt Nam năm 1973, chúng ta đã mất 58.315 người cả nam lẫn nữ, nền kinh tế chúng ta bị tàn phá bởi những chi phí cao và bất hợp lý cho cuộc chiến tranh trong nhiều năm liền, và sự thống nhất chính trị của xã hội chúng ta bị tan nát vài thập kỷ sau vẫn không khôi phục được”. Trung tá James G. Zumwalt, xuất thân từ một dòng tộc có truyền thống binh nghiệp, ba cha con ông đều có thời gian trực tiếp tham chiến ở Việt Nam và gia đình ông là một bi kịch về hậu quả của cuộc chiến tranh ấy, trong cuốn sách nhan đề Chân trần chí thép, ông dẫn lời nói của Cụ Hồ – linh hồn của cuộc chiến tranh giải phóng Việt Nam, nói với một nhà báo khi cuộc chiến ở lúc gay go nhất: “Chúng tôi không muốn là người chiến thắng. Chúng tôi không muốn là anh hùng. Chúng tôi chỉ muốn điều duy nhất là họ (quân xâm lược Mỹ) cút ngay khỏi đây thôi”! Và ông ta kết luận: “Bất chấp khác biệt về văn hóa và chính trị, chúng ta đáng phải nhìn nhận nỗi đau khổ của họ, đáng phải khâm phục quyết tâm của họ. Lịch sử cho thấy chúng ta phạm nhiều sai lầm trong chính sách về Việt Nam và sai lầm lớn nhất là đã không nhận ra được rằng chúng ta đang chiến đấu với “Thế hệ vĩ đại nhất” của đất nước này”!

Ông Nguyễn Mạnh Quang, thời chính quyền Sài Gòn được nhận học bổng Mỹ đi du học. Ông dạy về xã hội học nhiều năm ở trường Trung học thực nghiệm Thủ Đức nổi tiếng. Năm 1975, ông tự nhận thuộc lớp người đầu tiên cư trú chính trị ở Mỹ. Từ đó, ông tập trung nghiên cứu lịch sử Việt Nam, đã viết như sau: “Đưa ra luận điệu “Không cần phải phát động chiến tranh, Pháp - Mỹ cũng phải trao trả độc lập cho Việt Nam”, là luận điệu vong ân bội nghĩa đối với hàng triệu nhà ái quốc của hàng chục lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân từ cuối thập niên 1850 cho đến ngày 30-4-1975”.

TP.HCM, 10-6-2016

 

________

(1) Nhưng không có tư liệu lịch sử nào viết rằng cha Phan Châu Trinh bị giết trước mặt cậu bé Phan Châu Trinh 13 tuổi như ông viết.

(2) Xin xem các bài về Bob Kerrey trong số này (H.V)

  • Viet nam air
  • free hit counter script