HV108 - Giáo sư Hoàng Trinh - Nhà nghiên cứu những lĩnh vực mới trong văn học

21 Tháng Mười 2016 3:55 CH
GS HÀ MINH ĐỨC*

Bookmark and Share

Hình ảnh của HV108 - Giáo sư Hoàng Trinh - Nhà nghiên cứu những lĩnh vực mới trong văn học

Giáo sư Hoàng Trinh sinh năm 1920 tại Hà Tĩnh. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động trong lĩnh vực tư tưởng và văn hóa, trực tiếp là Trưởng ty tuyên truyền, văn nghệ tỉnh Hà Tĩnh. Sau ngày hòa bình lập lại (1954), ông về Hà Nội đảm nhiệm nhiều trách nhiệm về văn hóa, văn nghệ, có lúc là thư ký cho Tố Hữu (Trưởng ban Tuyên huấn trung ương). Khi Viện Văn học được thành lập (1959), ông về công tác tại viện, sau đó làm Viện trưởng Viện Văn học trong một số năm. Năm 1995, khi tôi về làm Viện trưởng Viện Văn học, GS Hoàng Trinh thuộc thế hệ đàn anh. Ông đã nghỉ hưu nhưng vẫn có những đóng góp trong nghiên cứu và đào tạo các cán bộ trẻ.

Khi hòa bình lập lại, trong hoạt động văn hóa văn nghệ xuất hiện hai lớp văn nghệ sĩ được hình thành từ hai môi trường: hoạt động chính trị và quân đội. Trong số những cán bộ văn hóa hoạt động trong công tác tuyên truyền, thông tin (chính trị), những người có trình độ học vấn được chuyển về các hoạt động nghiên cứu giáo dục, văn nghệ. GS Hoàng Trinh thuộc loại này. Ông thiên về nghiên cứu văn học nước ngoài. Ông đọc và viết được tiếng Pháp, say mê, yêu thích một số tác giả văn học Pháp và nước ngoài. Tập sách Phương Tây văn học và con người của GS Hoàng Trinh là một đóng góp của tác giả trong hướng mở rộng, nghiên cứu văn học nước ngoài của Viện Văn học. Tháng 6 năm 1995, khi tôi về Viện Văn học, được gặp gỡ, gần gũi ông. Việc đầu tiên là tổ chức sinh nhật 75 tuổi cho giáo sư. Buổi kỷ niệm sinh nhật đông người tham dự. Tuy đã nghỉ hưu nhưng uy tín và hoạt động của ông ở Viện Văn học vẫn tiếp tục phát triển. Sau nhiều năm dài hoạt động, đóng góp, va chạm, trải nghiệm trong phong trào, ở tuổi 75, GS Hoàng Trinh mang phong độ của một người cao tuổi hiền lành, dễ gần gũi. Có lẽ vào lúc này ông thích thiên nhiên và cuộc sống vui vẻ. GS Hoàng Trinh người tầm thước, nhỏ nhắn, dáng vẻ trí thức. Ông thường ăn mặc thiên về âu phục, đội mũ phớt, khoác áo blouson đẹp, kiểu cách. Ông nói năng nhỏ nhẹ, thích lắng nghe hơn là bộc lộ, phát biểu. GS Hoàng Trinh đi một số nước như Hungary, Pháp, Mỹ. Ông bắt đầu tiếp nhận những xu hướng nghiên cứu hiện đại về ngôn ngữ, về ký hiệu trong văn học, từ lý thuyết vận dụng vào thực tiễn. Ông tham dự một số cuộc họp chuyên ngành ở nước ngoài về những lý thuyết thông tin và ký hiệu học, say mê vận dụng trong nghiên cứu một số tác phẩm văn học Việt Nam đặc biệt là văn học dân gian và tuồng, chèo. Sau những năm trao đổi và nghiên cứu về học thuật ở Hungary, năm 1979, ông được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Hungary. Trong cuộc họp của Viện Hàn lâm, ông trình bày luận án khoa học về những vấn đề văn hóa và văn nghệ Việt Nam bằng tiếng Pháp và được các viện sĩ ghi nhận giá trị khoa học của công trình. PGS-TS Thành Duy cũng có mặt trong cuộc họp đó vui vẻ chúc mừng thành công của GS Hoàng Trinh. Lúc này, danh hiệu viện sĩ ở Việt Nam đặc biệt trong lĩnh vực khoa học xã hội còn rất hiếm trừ trường hợp tiêu biểu là Giáo sư-Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn.

Trong hoạt động quốc tế, GS Hoàng Trinh tiếp tục được giao một số trách nhiệm như Hội viên Hiệp hội ký hiệu học quốc tế, Phó chủ tịch Hiệp hội các Hội đồng Khoa học xã hội châu Á và Thái Bình Dương, Phó chủ tịch Ủy ban Quốc gia UNESCO. Năm 1995, cũng là thời điểm mà Nhà nước quyết định trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước cho văn nghệ sĩ và các nhà khoa học. Lần đầu chỉ trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Với tư cách là Viện trưởng Viện Văn học, tôi được tham dự một cuộc họp bầu Giải thưởng Hồ Chí Minh cho một số nhà khoa học, công việc tiến hành cũng đơn giản và nhẹ nhàng. Cuộc họp được tổ chức ở Ủy ban Khoa học xã hội gồm có tám người ngồi họp trong một phòng. Phía trên do hai giáo sư Nguyễn Duy Quý và Vũ Khiêu chủ trì. Bên trái gồm ba giáo sư Hà Văn Tấn, Phan Huy Lê và Đặng Xuân Kỳ. Dãy bên phải cũng gồm ba người là các giáo sư Đinh Gia Khánh, Hoàng Trinh và tôi. Cuộc họp bàn luận từng người chủ yếu thuộc thế hệ đàn anh. Tôi nhớ về văn học được đề cập là các giáo sư Đặng Thai Mai, Hoàng Trinh và Đinh Gia Khánh. GS Đặng Thai Mai, GS Vũ Khiêu được thông qua nhẹ nhàng. Các trường hợp như Phạm Huy Thông, Trần Đức Thảo do nhiều lý do khó xác định nên để lại sau. Với các giáo sư Hoàng Trinh, Đinh Gia Khánh được xem xét, luận bàn. Về GS Hoàng Trinh, GS Đặng Xuân Kỳ phát biểu: “Giáo sư Hoàng Trinh có uy tín quốc tế”. Ông Nguyễn Duy Quý nói tiếp: “Bây giờ bàn đến GS Phan Huy Lê, GS Hà Văn Tấn, GS Hà Minh Đức”. Các giáo sư Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn đều từ chối và xin để lại lần sau. Về tôi, tôi cũng xin rút lui, với lý do là còn móc xích với các anh khác cùng một thế hệ. Giữa chừng cuộc họp có một đồng chí bộ đội đem hồ sơ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào. Về trường hợp này tôi phát biểu: “Hồ sơ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp phải chuyển sang hội đồng chuyên ngành cấp cao của Bộ Quốc phòng, không thuộc phạm vi chuyên ngành của khoa học xã hội”. Ý kiến của tôi có căn cứ và được chấp thuận. Cuối cùng, hồ sơ được chuyển sang hội đồng chuyên ngành cao cấp khác. Cuối buổi họp, tôi bổ sung và hoàn thành ba bản báo cáo thành tích của ba giáo sư Đặng Thai Mai, Hoàng Trinh và Đinh Gia Khánh. Công việc lúc đầu của việc luận bàn đánh giá và trao Giải thưởng Hồ Chí Minh chỉ được tiến hành như thế. Năm năm sau, Hội đồng xét duyệt do Bộ trưởng Chu Tuấn Nhạ phụ trách. Mỗi thành viên được xét đều do hai người phản biện đọc kỹ và được mời đến phát biểu tại hội đồng. Công việc khó khăn hơn nhiều và đến mười năm sau thì việc xét duyệt đã theo nguyên tắc và quy trình rõ rệt qua bốn hội đồng: cấp cơ sở, cấp bộ, cấp các chuyên viên chuyên ngành và cấp của Nhà nước. Thành viên được xét duyệt ở các hội đồng đều phải đạt 3/4 số phiếu, và năm 2016 đòi hỏi 9/10 số phiếu. Câu nói “Vạn sự khởi đầu nan” không thích hợp trong việc bầu bán này. Mọi việc lúc đầu không khó khăn mà nhẹ nhàng, đơn giản.

Như thế là GS Hoàng Trinh đã có hai giải thưởng quan trọng: Giải thưởng Hồ Chí Minh và chức danh Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Hungary. Ông vẫn lặng lẽ, ít nói, không khoa trương. Nhưng ông hiểu giá trị của những chức danh.

***

Năm 1982, tôi và GS Phạn Cự Đệ được trường Đại học Harvard mời tham dự hội thảo khoa học. Đến nước Mỹ lần đầu không khỏi bỡ ngỡ trong sinh hoạt, nhưng trong học thuật tham dự hội thảo về văn học Việt Nam, chúng tôi lại chủ động với phần chuyên môn của mình. Các giáo sư cùng họp có lần rủ chúng tôi tham dự những cuộc vui chơi nhưng chúng tôi ngại ngần và thường từ chối. Ngược lại, thời điểm này GS Hoàng Trinh cũng ở Mỹ. Ông có người thân là anh Nguyễn Khắc Thìn làm việc ở cơ quan Thông tấn xã tại Mỹ. Anh Thìn giúp đỡ GS Hoàng Trinh tìm hiểu sinh hoạt nước Mỹ và GS Hoàng Trinh quyết định phải hiểu mặt trái của xã hội Mỹ. Khi về ông kể nhiều chuyện vui. Ông có nhiều dịp đến Mỹ, đặc biệt là được trường Đại học Cornell, trường lớn nhất chuyên về Đông Nam Á ở Mỹ, mời đến nghiên cứu trong vòng bốn tháng với tiêu chuẩn của các nhà nghiên cứu khoa học có kinh nghiệm và tên tuổi. Lúc này ông đã sử dụng được tiếng Anh, mặc dù tuổi cao nhưng GS Hoàng Trinh vẫn cần cù học tiếng Anh vì nó rất thiết thân trong việc nghiên cứu khoa học. Trước những ngành khoa học mới, ông đã chịu khó nghiên cứu học hỏi từ việc học ngoại ngữ đến các ngành khoa học hiện đại. PGS-TS Trương Đăng Dung nhận xét: “Đối với ông, nhiệm vụ lớn nhất là học, học và học”. Ông nêu một tấm gương tự học cho lớp trẻ. Ông luôn kiên trì lặng lẽ theo đuổi những nhiệm vụ khoa học của mình. Trong quan hệ với các trường đại học, GS Hoàng Trinh là người gần gũi, ông thường tham gia giảng dạy với sinh viên và nghiên cứu sinh, kể cả lúc nhà trường ở nơi sơ tán. Ông đến Thái Nguyên vào những ngày đông giá lạnh, tại khu sơ tán Đại Từ vẫn dáng điệu ung dung, nhẹ nhàng, chan hòa với mọi hoàn cảnh khó khăn. Bữa ăn đạm bạc chỉ một chiếc bánh bao nhân hành, một quả trứng luộc và một bát canh măng suông ông cũng không kêu ca gì. Ông ăn ít, kể cả những buổi liên hoan. Ông thường ăn xong trước mọi người. Mọi người mời ông ăn tiếp, ông xua tay và nói: “Thôi, thế là đủ”.

Cách sống của ông thường thu lại trong căn phòng nghiên cứu, ít có biểu hiện giao du và mở rộng ra ngoài xã hội. Tuy nhiên, ông lại rất ưa thích các hoạt động ngoại khóa của viện nhất là những chuyến đi tham quan du lịch. Tổ chức công đoàn thường mời ông tham dự những chuyến đi dã ngoại. Viện Văn học một lần tổ chức đi thăm một số nơi thuộc các tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa. Buổi sáng ô tô xuất phát từ 7 giờ, đến 8 giờ rưỡi thì đến rừng Cúc Phương. Trời nóng, khi xe đi vào rừng, không khí mát rượi, mọi người vui tươi tham quan các khu vực; anh em trẻ reo lên: “Rừng ơi ta đã về đây”. GS Hoàng Trinh tươi cười hòa nhịp với không khí chung. Khoảng 10 giờ lại đi tiếp đến Phát Diệm - Bùi Chu, nghỉ ngơi, ăn cơm rồi vào thăm viếng nhà thờ, nghe cha đạo giải thích về lịch sử của nhà thờ, các đấng có công trong Thiên Chúa giáo. Buổi chiều, về Sầm Sơn tắm biển. Buổi tối, dạo chơi trên bãi biển và đi hát karaoke. Sáng mai dậy, sau khi ăn sáng, GS Hoàng Trinh đã một mình đi ra biển, ông có vẻ thích thú với nhiều cảnh vật. Những điều thu hoạch được từ ngày qua, nào rừng, nào biển, nào đạo, nào đời và hôm nay một mình ông thong dong ngắm biển. Buổi trưa mọi người đã vào bữa ăn nhưng vẫn thấy thiếu GS Hoàng Trinh. Ông đi đâu, lạc lối ở nơi nào. Gần trưa ông trở về nét mặt tươi vui, tay cầm một xấp ảnh, ông nói: “Mải chơi vui và chụp ảnh”. Họ xốc ông lên con ngựa vằn và chụp cho ông nhiều kiểu, có kiểu đội mũ đỏ đi trên ngựa như lính của Napoléon ra trận. Ông khoe các tấm ảnh với mọi người và bảo: “Nó cứ thế bắt mình chụp các kiểu”. Các kiểu ảnh là kỷ niệm một chuyến đi mà các thành viên trong đoàn không ai có được. Lại một chuyến đi xa, viện tổ chức lên vùng Lạng Sơn tham quan các thắng cảnh. Ông như ngơ ngác với vẻ đầy hứng thú trước cảnh sắc thiên nhiên. Vào buổi chiều, đoàn ra chợ mua bán ít quà làm kỷ niệm. Ông Hoàng Trinh cũng một mình vào thăm thú các cửa hàng. Lúc lên xe, ông bảo ông bị mất tiền, có lẽ do người bán hàng nhầm lẫn. Ông không băn khoăn vì tuổi già cũng dễ nhầm và số tiền cũng không đáng kể. Lạng Sơn có một món đặc sản là thịt vịt quay. Chị Lưu Khánh Thơ phụ trách công đoàn mua cho mỗi người một con vịt quay còn nóng hổi. Vịt được bọc kỹ trong túi ni lông, chị giao cho GS Hoàng Trinh và bảo: “Phần của bác đây”. Ông hỏi: “Cái gì thế?”. Và cứ thế ôm vào lòng. Lúc về đi được một đoạn đường, ông hỏi: “Cái gì mà nó nóng thế?”. Mọi người trả lời: “Đó là con vịt quay phần bác mua về cho bác gái”. Lại một lần nữa, ông đi về vùng quê Thanh Hóa rồi lại đến Sầm Sơn. Xe lên chùa Độc Cước, mọi người nghỉ ở một quán hàng và uống nước dừa, những quả dừa xanh nước mát và trong vắt, mấy anh thanh niên ôm cả quả dừa nâng lên cao và uống ngon lành. GS Hoàng Trinh băn khoăn và hỏi: “Mình uống thế nào được?”. Mọi người tìm cho ông cái cốc, ông uống rất ít và nói: “Uống nước dừa phải uống như các anh thì mới sướng. Tôi nhớ một bức ảnh ông Khrushov về thăm một vùng quê được mời uống nước dừa. Ông giơ cao quả dừa và uống, nước mát chan hòa. Mình già rồi không bắt chước được”.

***

Năm tháng trôi qua, GS Hoàng Trinh về ở khu Kim Liên. Tuổi cao, ông vẫn nghiên cứu và thỉnh thoảng viết bài cho một tạp chí về văn học. Trong một căn phòng nhỏ để tiếp khách, đồ đạc đơn giản, trên tường vẫn là hai hình ảnh gây ấn tượng: một là bằng Viện sĩ do Hungary trao tặng, hai là ảnh Chủ tịch nước Lê Đức Anh trao cho ông Giải thưởng Hồ Chí Minh. Ông ngồi tiếp khách vui vẻ, nhưng rất ít nói. Mọi người hỏi thăm ông, chuyện trò và nói cho ông nhiều tin tức, ông chỉ gật đầu: “Thế à, thế à, thế à”. Tuy nhiên, ông thường hỏi han đến sinh hoạt và hoạt động khoa học của lớp trẻ và rất vui trước những tin tốt lành. Nói như PGS Thành Duy: “Ông là người hiền, luôn muốn cho mọi người có những điều tốt lành”. Sống rất kín đáo, ít bộc lộ mình, càng về già, ông lại càng ít giao tiếp. Gia đình ông cho biết thỉnh thoảng ông hay kể lại những chuyến mộng du. Và một lần câu chuyện mộng du đã thành sự thật. Ông dậy sớm ra đi khỏi nhà từ lúc tờ mờ sáng và gặp một anh xe ôm thì nhờ chở đến nhà ông Thành Duy. Người nhà sớm phát hiện, đi tìm, gặp ông và mời ông trở về.

Ông bà sinh được bốn người con, ba gái và một trai. Chị con gái thứ hai Hồ Mỹ Duệ là Vụ trưởng ở Phủ Thủ tướng, phụ trách về khoa học xã hội. Năm 1997, chị Hồ Mỹ Duệ đã đi cùng đoàn với tôi dự Hội thảo về trí thức toàn cầu ở Canada do Bộ trưởng Chu Tuấn Nhạ làm trưởng đoàn. Chị là người năng động và cũng có những kinh nghiệm trong quan hệ quốc tế. GS Hoàng Trinh có ý thức trong việc giáo dục con cái, việc học hành.

Hơn 90 năm sống, hoạt động và cống hiến cho sự phát triển khoa học xã hội, điều đáng quý của GS Hoàng Trinh là sự chuyển hóa, đổi thay trong tư duy, từ Trưởng ty Tuyên truyền văn nghệ Hà Tĩnh trở thành một cán bộ nghiên cứu văn học. Thiên hướng chung của những nhà nghiên cứu văn học xuất thân từ công tác tuyên truyền thông tin ở các tỉnh thường đi về hướng nghiên cứu văn học xã hội học ở trong nước. Còn GS Hoàng Trinh thì chuyển sang một lĩnh vực nghiên cứu có xu hướng hiện đại về thông tin, ký hiệu học. Ông thường nói với tôi: “Đi vào lĩnh vực này, mình phải bắt đầu từ đầu, học ngôn ngữ, học tiếng Anh, học lý thuyết về ký hiệu học”. Nhiệt tình, lòng ham hiểu biết những khoa học và phương pháp nghiên cứu hiện đại là động lực thúc đẩy ông đạt kết quả.

Trong giao lưu quốc tế ông được một số bạn bè nước ngoài quý trọng. Trong các công trình ông để lại nói lên sự nỗ lực công phu của một nhà nghiên cứu cố gắng đi tìm những lĩnh vực khoa học mới. Bên cạnh hiệu quả, không tránh khỏi hạn chế. Đây là thời kỳ mà những khuynh hướng nghiên cứu của văn học phương Tây như học thuyết Freud, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến của Garaudy, chủ nghĩa hiện sinh đều bị phê phán nặng nề, thậm chí phủ nhận. Ngày nay trong tìm hiểu văn học phương Tây, các nhà nghiên cứu đã có các xu hướng tiếp cận mới hơn: cố gắng tìm ra những mặt giá trị bên cạnh những hạn chế lịch sử của nó.

GS Hoàng Trinh mất năm 91 tuổi. Theo người nhà kể lại, trong một buổi trưa, ông chỉ ăn mấy thìa cháo và nói: “Để cho tôi được yên nghỉ”, rồi quay vào phía trong, và nửa giờ sau ông ra đi, chuyến mộng du cuối cùng vào chốn thiên thu.

 

_____

* Giải thưởng Hồ Chí Minh.

  • Viet nam air
  • free hit counter script