HV109 - Kể chuyện nhân sĩ trí thức Sài Gòn - Gia Định tham gia kháng chiến chống Pháp* - Hoạt động bí mật trong lòng địch

07 Tháng Mười Một 2016 9:18 SA
TS PHAN VĂN HOÀNG

Bookmark and Share

Hình ảnh của HV109 - Kể chuyện nhân sĩ trí thức Sài Gòn - Gia Định tham gia kháng chiến chống Pháp*  - Hoạt động bí mật trong lòng địch

Trong khi những nhân sĩ trí thức ra chiến khu thì một bộ phận ở lại hoạt động bí mật trong lòng địch. Cũng có người - như kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, bác sĩ Trần Cửu Kiến… - ra chiến khu một thời gian lại được phân công trở vô nội thành Sài Gòn để công tác.

Hoạt động trong vùng tạm chiếm rất đa dạng: hoạt động vũ trang, làm báo bí mật, vận động nhân sĩ, trí thức, công tư chức…

Hoạt động vũ trang

Xin nêu một vài trường hợp điển hình như luật sư Thái Văn Lung, kỹ sư nông nghiệp Nguyễn Văn Tư (Tư Hà)…

Theo học ba trường bên Pháp (Đại học Luật, Trường Khoa học Chính trị và Trường Thuộc địa), về nước Thái Văn Lung làm luật sư tại Tòa thượng thẩm Sài Gòn. Năm 1945, ông tham gia phong trào Thanh niên Tiền phong, được cử phụ trách Ban huấn luyện quân sự. Ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền rồi kháng chiến chống Pháp, được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa I.

Làm chủ tịch Ủy ban Kháng chiến quận Thủ Đức, ông thành lập một lực lượng vũ trang do ông trực tiếp chỉ huy, nhân dân thường gọi là “Bộ đội Thái Văn Lung”.

Sách vở ca ngợi ông: “Ông hăng say chiến đấu, luôn luôn xáp trận cùng chiến sĩ, không chịu ngồi ở doanh trại chỉ huy. Dù Pháp đã chiếm đóng hết các nơi xung yếu và đầu mối giao thông, ông vẫn bám trụ chiến đấu kiên cường”(1). Nhà nghiên cứu Thiếu Sơn cho biết thêm: Ông là người chỉ huy nhưng “ông lại thường xung phong đi trước, đồng cam cộng khổ với anh em, chịu đựng một cách dễ dàng tất cả mọi gian nguy và thử thách”(2).

Trong một trận đánh không cân xứng lực lượng, ông bị bao vây và bị giặc bắt. Biết ông có quốc tịch Pháp, từng du học bên Pháp v.v…, địch tìm cách dụ dỗ ông cộng tác với họ, nhưng bị ông cự tuyệt. Họ tra tấn ông dã man, nhưng cũng không khuất phục được ông. Họ bắt cả vợ ông.

Trước khi qua đời, ông trối lại với vợ: “Tôi biết chắc sẽ không còn sống lâu hơn nữa. Nhưng nếu tôi có chết, tôi cũng không có gì ân hận. Tôi sung sướng là đã làm tròn nghĩa vụ. Nếu em không chết và sẽ được thả, thì em nói lại với những chiến hữu của tôi là nên cố gắng đạt tới mục đích chung cho đến ngày thắng lợi”(3). Năm đó ông mới 30 tuổi (1916-1946).

Kỹ sư Nguyễn Văn Tư được cử làm chỉ huy dân quân Sài Gòn - Chợ Lớn. Bị địch bắt, ông được anh em tù Khám Lớn Sài Gòn bầu làm tổng đại diện Liên đoàn tù nhân Khám Lớn. Cuối năm 1947, giặc đày ông ra Côn Đảo.

Theo kế hoạch của Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ, bốn mặt trận tiền tuyến được thành lập ở bốn hướng nhằm bao vây quân Pháp trong nội thành Sài Gòn. Ở phía Nam là mặt trận số 4 do Nguyễn Văn Trân (nguyên sinh viên du học tại Pháp, sau sang học Đại học Phương Đông ở Mátxcơva) làm chỉ huy và Trần Bạch Đằng (tức thầy giáo Triều) làm chính trị viên. Trong tháng mở đầu cuộc kháng chiến, hai ông đã chỉ huy các lực lượng vũ trang trên một địa bàn khá rộng, từ ngã ba Kinh Tẻ đến đầu cầu Bình Đăng (nay thuộc quận 7, huyện Bình Chánh của TP.Hồ Chí Minh và các huyện Cần Đước, Cần Giuộc của tỉnh Long An), cô lập quân Pháp trong nội thành, làm thất bại âm mưu “chiến tranh chớp nhoáng” của chúng, tạo thời gian cho quân và dân các tỉnh Nam Bộ có điều kiện xây dựng lực lượng trước khi bước vào kháng chiến.