HV109 - Nhân cách lớn Trần Hữu Trang

07 Tháng Mười Một 2016 9:36 SA
DƯƠNG THỊ LIÊN CHI*

Bookmark and Share

Hình ảnh của HV109 - Nhân cách lớn Trần Hữu Trang

Một nghệ sĩ - chiến sĩ cách mạng suốt đời đấu tranh giữ vững ngọn cờ văn nghệ yêu nước và xã hội chủ nghĩa

Sống ở mảnh đất Tiền Giang (trước đây là tỉnh Mỹ Tho, trước nữa là tỉnh Định Tường) nơi diễn ra nhiều phong trào yêu nước, Trần Hữu Trang không sợ hiểm nguy khi che giấu người làm cách mạng bị mật thám theo dõi; khi cầm bút ông thể hiện tư tưởng tiến bộ và cái nhìn sâu sắc về số phận con người nên đã từng được chiến sĩ cộng sản Nguyễn Chí Diểu đến gặp và trò chuyện bàn về quan niệm, khuynh hướng sáng tác “tả thực xã hội”. Đó là may mắn cho Trần Hữu Trang và cho cả phong trào văn nghệ khi ấy, bởi nhờ sự khơi gợi mang tính định hướng đó mà trước Cách mạng tháng Tám trong giới nhà văn, soạn giả viết tuồng cải lương đã xuất hiện Trần Hữu Trang - người luôn giương cao và kiên trì giữ ngọn cờ “tả thực xã hội” trong suốt quá trình sáng tác. “Ông là một trong số soạn giả hiếm hoi không chịu uốn cong ngòi bút vì áp lực của bọn cầm quyền, vì cám dỗ của tiền bạc hay vì những lời khen chê của công chúng nông nổi”(1).

Trong phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, soạn giả Trần Hữu Trang cùng số đông nghệ sĩ cải lương tham gia đội ngũ hoạt động cách mạng trên nhiều địa bàn, vị trí khác nhau, có thể kể Năm Châu, Tám Danh, Ba Du, Bảy Vân, Triệu An, Năm Thanh Hương, Ngọc Trai, Phùng Há… Với địa bàn hoạt động rộng, từ nội thành đến chiến khu miền Đông, miền Trung, miền Tây Nam Bộ, đội ngũ văn nghệ sĩ tiên phong này đã có rất nhiều đóng góp cho cách mạng, cho nền văn hóa, văn nghệ trong giai đoạn này.

Sau Cách mạng tháng Tám, soạn giả Trần Hữu Trang tham gia hoạt động chính trị nhiều hơn sáng tác. Thời gian này, ông có nhiệm vụ ở lại Sài Gòn làm công tác vận động trí thức, văn nghệ sĩ. Cùng với soạn giả Nguyễn Thành Châu (Năm Châu) tổ chức gánh hát Con Tằm, gánh Năm Châu rồi Việt kịch Năm Châu. Gánh hát diễn những vở có nội dung yêu nước, tiến bộ: Tuyết băng và bạo lực, Nợ dâu, Một tối tân hôn, Chiếc áo thiên nga, Tây Thi gái nước Việt, Người với Người, Miếng thịt người, Hậu chiến trường, Tấm lòng trinh… hầu hết mang ý nghĩa khơi gợi ý thức dân tộc, lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh chống bất công, bạo tàn, áp bức… Bên trong gánh hát là cơ sở bí mật tập hợp lực lượng hướng về kháng chiến, là địa điểm liên lạc, cư trú của cán bộ nằm vùng, chiến sĩ cách mạng. Chính trong thời gian này, soạn giả Trần Hữu Trang dần dần tạo dựng uy tín chính trị qua nhiều hoạt động nghề nghiệp, như thành lập Hội Nghệ sĩ ái hữu (1948), khu nhà tập thể của diễn viên và công nhân sân khấu ở dốc cầu Bông (Gia Định, 1956) thường được gọi là Trại Phước Chung, Nghiệp đoàn nghệ sĩ công nhân sân khấu (1957). Thực chất, những cơ sở này là địa bàn hoạt động cách mạng của Trần Hữu Trang và Năm Châu, cùng một số soạn giả, cán bộ nòng cốt tiếp cận văn nghệ sĩ, những nhà báo tiến bộ để cảm hóa, giác ngộ, thu hút họ cùng đứng vào đội ngũ chống lại áp bức, bất công, thẳng thắn bày tỏ quan điểm trên văn đàn, sân khấu… với mục đích bảo vệ quyền lợi chính đáng của nghệ sĩ và công nhân sân khấu, như đấu tranh phản đối bọn cầm quyền địa phương áp chế nghệ sĩ, đấu tranh đòi bồi thường cho đào kép hát thất nghiệp, đòi hỏi nghệ sĩ và công nhân sân khấu quyền tham dự ban quản trị, đấu tranh đòi quyền ấn định nguyên tắc và giá biểu bản quyền…, đồng thời vừa tổ chức sắp xếp bảo vệ, che chở nhiều cán bộ cách mạng được an toàn khi hoạt động trong nội thành và khôn khéo hỗ trợ các đồng chí mình hoàn thành nhiệm vụ trước “hang hùm miệng sói”…

Dưới sự dẫn dắt của đồng chí Nguyễn Văn Hiếu (sau này là Bộ trưởng Bộ Văn hóa và Thông tin), của Trần Hữu Trang và Năm Châu, công tác giáo dục nội bộ rất được chú trọng, tác phong sinh hoạt theo “đời sống mới”, không cờ bạc, hút xách, rượu chè be bét… được thực hiện nghiêm túc. Tất cả cơ sở và điều kiện đó là tiền đề cho phong trào đấu tranh chính trị sôi nổi, đầy khí thế những năm cuối thập niên 50 thế kỷ XX, có tác động sâu sắc đến toàn giới sân khấu cải lương miền Nam. Cụ thể, gánh Việt kịch Năm Châu bắt đầu đấu tranh trực diện với chính quyền qua vở cải lương Người mặt cháy (1955), nhằm chống thủ đoạn đốt nhà, chiếm đất của bọn cầm quyền. Mặc dù bị đe dọa, đàn áp nhưng gánh vẫn dựng tiếp vở Người nghèo trong khói lửa (của Phạm Trần - tức soạn giả Phi Vân, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, con rể của soạn giả Trần Hữu Trang), sau đó là Người mẹ hiền. Do bị bọn cầm quyền hăm dọa, soạn giả Năm Châu buộc phải rời đi, tạm lánh. Với những vở tuồng tiến bộ, có ý hướng đấu tranh, gánh hát bị bọn cầm quyền Ngô Đình Diệm liên tiếp trấn áp, không để yên cho gánh diễn tại Sài Gòn, nên Việt kịch Năm Châu phải mở đường lưu diễn miền Trung. Nhờ có kỷ luật, tinh thần tập thể đoàn kết chiến đấu, tác phong nghiêm túc của những nghệ sĩ - chiến sĩ, gánh Việt kịch Năm Châu đi đến đâu đều gieo tình cảm, ấn tượng tốt đẹp với nhân dân về một đội ngũ văn nghệ sĩ tiến bộ trên các tuyến đường lưu diễn. Gánh hát phải đổi tên thành thành Phước Chung từ năm 1956, nhằm tạm thời tránh sự săn lùng, đàn áp của địch.

Trong vòng 5 năm, Phước Chung đã ra mắt hàng loạt vở cải lương mang nội dung yêu nước, đậm đà tính dân tộc và có ý hướng đả phá cường quyền được đông đảo công chúng yêu thích đón nhận như: Nhụy hoa lan, Cây tương tư, Chị chồng tôi, Gió ngược chiều, Thủ cấp của ai, Giờ thức tỉnh… Có lúc gánh hát bị tấn công dữ dội bằng hàng loạt bài viết trên các báo Sài Gòn. Để tránh sự công kích, đàn áp của địch, gánh phải chạy về miền Tây, ra miền Trung lưu diễn lần thứ hai… Trở về Sài Gòn năm 1959, nhân dịp nữ nghệ sĩ Lan Chi đoạt Huy chương vàng Giải Thanh Tâm, gánh Phước Chung hiên ngang tái diễn Nhụy hoa lan (một màn), lần này địch thẳng tay khủng bố tìm bắt soạn giả Trần Hữu Trang và giam giữ soạn giả Phạm Trần. Do đó, Phước Chung lần thứ ba phải bôn ba ra miền Trung tạm lánh, song vẫn kiên trì tiếp tục dựng các vở nêu cao tinh thần yêu nước đậm nét hơn, như: Hồn thiêng sông núi, Vì tôi là người Việt, Lối về Nhật Tảo

Đầu năm 1960, trong tình thế bức bách (không có soạn giả Năm Châu), Phước Chung đứng trước hai lựa chọn: hoặc phải giải tán, hoặc đối đầu với khủng bố, gian nguy và tù tội. Soạn giả Trần Hữu Trang đã chủ trì cuộc họp tập thể cán bộ và nghệ sĩ trong gánh hát để bàn thảo, kết quả cuối cùng: mọi người thống nhất chấp nhận mọi gian nan, thử thách để tiếp tục con đường hành động cách mạng. Cũng trong năm 1960, soạn giả Trần Hữu Trang tham dự Đại hội thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (20-12-1960) và được bầu vào Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, sau đó ông nhận nhiệm vụ Chủ tịch Hội Văn nghệ Giải phóng. Giữa lúc cuộc chiến với văn hóa thực dân mới đang trở nên gay gắt, nhiều khó khăn hơn thì do yêu cầu công tác, một số thành viên trụ cột của gánh Phước Chung được rút vào chiến khu, chuyển hướng công tác, như: Ba Thanh Loan, Ba Thừa Vĩnh, Nguyễn Mỹ, soạn giả Phong Anh, Phi Vân, Chín Châu... Sự thay đổi này ảnh hưởng rất lớn đến tính chiến đấu của gánh hát, nếu như Phước Chung trước đó là một mũi nhọn đột kích về văn hóa và tư tưởng giữa lòng địch thì thời điểm này vừa phải bảo đảm tổ chức, chiến đấu sinh tử với địch, vừa phải đối phó với khó khăn nhiều mặt mới có thể tồn tại trước sự cạnh tranh dữ dội của nhiều đại ban cải lương khác như Thanh Minh - Thanh Nga, Hương mùa thu, Dạ lý hương, Kim Chưởng…

Trên mặt trận văn hóa khi đó, về phía địch, bên cạnh việc liên tục đàn áp, khủng bố gánh hát, không cho biểu diễn, vây bắt văn nghệ sĩ, Mỹ triển khai mạnh việc truyền bá, đầu độc thanh niên ta bằng nhiều loại văn hóa độc hại, phản động, đồi trụy. Trước nguy cơ nô dịch văn hóa, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chủ trương phát động phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc (1966). Vừa được phát động, phong trào đã lan rộng, nhận được sự hưởng ứng nhiệt thành, đa dạng của đông đảo giới trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên, học sinh... Riêng ở lĩnh vực sân khấu, soạn giả Việt Thường (con trai của soạn giả Trần Hữu Trang) kế tục sự nghiệp Phước Chung (từ 1965 đến 1969), cùng với các đồng chí Hai Nữ, soạn giả Phi Hùng, Tùng Linh, Hoài An (Trương Bỉnh Tòng), Mai Quân… đã hợp lực lèo lái gánh hát trong điều kiện hết sức khó khăn, ngặt nghèo, nhưng gánh vẫn dựng được một số vở: Mông Kha đại đế, Cù Thị Ai Vương, Trăng soi đầu máu… Tháng 2-1969, Phước Chung được giải thể, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử với 18 năm tồn tại và chiến đấu kiên cường trên mặt trận văn hóa, tư tưởng.

Cuối năm 1960, Trần Hữu Trang ra chiến khu để xây dựng lực lượng văn nghệ giải phóng, cho tới ngày 27 tháng chạp 1965, soạn giả Trần Hữu Trang đã hy sinh trong trận bom B-52 đầu tiên Mỹ đánh vào căn cứ Trung ương Cục… Ông mất đi là một tổn thất lớn của sân khấu miền Nam, để lại biết bao thương tiếc cho đồng nghiệp, đồng đội, đồng chí và đông đảo văn nghệ sĩ, công chúng yêu quý ông.

Một nghệ sĩ tài hoa bình dị

Nhiều người vẫn gọi ông thân thiết bằng cái tên anh Tư Trang, thầy Tư hay ông Tam Tạng, ông Phật, vì tính nết điềm tĩnh, đôn hậu, đặc biệt ông là trung tâm kết nối các quan hệ đoàn kết. “Tình đó, nghĩa đó, ai mà không phục. Bởi vậy, khi có chuyện giận hờn xích mích nhau trong nội bộ mà vắng mặt anh, thì hai tiếng Tư Trang là khẩu hiệu tự nhiên nhắc nhở đào, kép, họa sĩ, nhạc công đoàn kết” - nhận định của soạn giả, nghệ sĩ Tám Danh cũng là ý nghĩ chung của nhiều văn nghệ sĩ từng làm việc với soạn giả Trần Hữu Trang. Người nghệ sĩ - chiến sĩ với cách sống, hành xử chân thành, hòa nhã, khiêm nhường và bản lĩnh như ông mới đủ sức thuyết phục, tạo ảnh hưởng, cảm hóa đối với những cá tính phức tạp trong giới để giữ vững lập trường yêu nước, giương cao ngọn cờ đấu tranh chống cường quyền, khơi gợi cho văn nghệ sĩ thể hiện điều đó bằng tác phẩm, vai diễn. Trong giai đoạn cách mạng nhiều khó khăn, thử thách ấy, chính ông là ngọn cờ tập hợp, đoàn kết lực lượng văn nghệ sĩ cải lương và nhà báo tiến bộ Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định trong cuộc đấu tranh sinh tử với kẻ thù.

Với sự nghiệp sáng tác, ông giữ một phong thái gần như không thay đổi: cố gắng viết giản dị, dễ hiểu, gần với số đông quần chúng, khi có điều kiện là sửa chữa, trau chuốt lại kịch bản, nâng cao sức hấp dẫn từ chất trữ tình, hòa quyện với tính hiện thực trong hành động, lời nói của nhân vật. Khi đã có tiếng tăm, ông vẫn thường chăm chú lắng nghe góp ý của mọi người từ diễn viên đến nhạc công, suy nghĩ kỹ để sửa chữa tác phẩm, dù đó là tác phẩm đã được dư luận đánh giá rất cao. Tác phẩm Đời cô Lựu là một điển hình. Trong bức thư ông gửi cho soạn giả Sỹ Tiến (ngày 26-6-1965) nhân dịp Đời cô Lựu công diễn ở Hải Phòng, Hà Nội: “…Vở Đời cô Lựu tôi viết vào khoảng năm 1936, hồi ấy trong hoàn cảnh bế tắc dưới chế độ của thực dân Pháp, nên về nhận thức cuộc sống cũng như cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề của tôi trong vở cũng bị hạn chế. Cuối vở kịch, giết tên hội đồng Thăng là giải quyết một cách dứt khoát, kẻ sâu độc, gian ác phải đền tội, nhưng lại để cô Lựu đi tu là tiêu cực. Sau đó, tôi muốn làm một cảnh vĩ thanh, cảnh hai cha con ông Hai Thành dìu nhau, đi đến một chân trời mới, nhưng kiểm duyệt của chúng lúc đó không cho…”. Không phải người cầm bút nào cũng có trách nhiệm với con chữ, tác phẩm của mình như thế và cũng không có nhiều người nhìn ra thiếu sót của mình, thẳng thắn giãi bày hạn chế của mình một cách chân thành như thế. Và Đời cô Lựu đã được ông gia công sửa chữa, trau chuốt để trở thành tác phẩm cải lương kinh điển, hay nhất (trước Cách mạng tháng Tám) và có sức sống bền bỉ trong suốt 8 thập niên qua.

Soạn giả Trần Hữu Trang là người chỉn chu, thích ngăn nắp, trật tự trong khi làm việc. Bắt đầu cầm bút sáng tác cho tới khi đã là soạn giả nổi tiếng, ông vẫn giữ cách viết bản thảo chu đáo, cẩn trọng như khi còn là người thư ký chép vở bình thường. Ban ngày bận nhiều việc, ông viết vào buổi tối. Ông làm việc, đọc sách, nghiên cứu, sáng tác đều đặn, không tùy hứng, không thức quá 2 giờ sáng. Tác phong đó thật đáng nể phục trong giai đoạn người nghệ sĩ không chỉ cầm bút mà còn phải cầm súng, sáng tác trong điều kiện khó khăn, nhiều áp lực.

Trong các mối quan hệ, ông có vẻ ngoài ít nói, điềm tĩnh, nhưng khi tiếp xúc, nói chuyện nghề với đồng chí, đồng nghiệp, bạn bè thì rất cởi mở, sôi nổi, chia sẻ và lắng nghe để suy ngẫm. Con người nghệ sĩ ắt cũng có nhiều thời khắc bay bổng lãng mạn nhưng ẩn chìm bên trong, dường như chỉ bộc lộ trong tác phẩm, trong con chữ. Khi nổi tiếng, nhiều đoàn hát tranh nhau dựng vở của soạn giả Trần Hữu Trang, nhưng chưa bao giờ ông giàu có, chính xác hơn là ông không dư dả, nhiều khi túng thiếu, trong khi nhiều gánh hát thu được lợi nhuận rất lớn. Từng có một ký giả trên tờ báo Dân nguyện (năm 1954) đã lên tiếng, tỏ ý bất bình: “Anh Trần Hữu Trang vốn ít nói, không bao giờ anh chịu nói cả, nhưng tôi thấy phải nói. Tôi thấy phải nói vì tôi thấy anh Tư Trang mặc chiếc áo chemise màu trắng hóa ra màu ngà, cổ áo rách bươm, vai mạng vài chỗ. Tôi thấy tôi phải nói vì tôi hiểu rõ cách sống đạm bạc, thanh bần của anh Tư Trang”(2). Thời đó, có những gánh hát nghèo, ít vốn đến xin kịch bản, ông thường tặng không lấy tiền và ông chỉ cười, sống ung dung như thế.

Trong cuộc sống thường ngày, ông là người rất giản dị, khiêm tốn, nho nhã, chan hòa với mọi người, không mắc một chứng nghiện nào, cả khi ông là người có tiếng tăm. Trong khi đó, giữa thời chiến tranh nhiễu nhương, đa số văn nghệ sĩ dễ có tâm trạng chán chường trước cuộc sống bấp bênh, nhiều hiểm họa nên nếu không cờ bạc cũng hút xách, rượu chè, trai gái… Vậy mà “soạn giả thường lót dạ buổi sáng mấy củ khoai, một cái bắp, hoặc một chút xôi, bữa cơm có món mặn thường là cá kho và rau. Soạn giả rất ít khi đi ăn tiệm. Vui anh em rủ hoặc vì công việc thì đi, nhưng không bao giờ nhậu nhẹt đến mức say sưa cả. Quần áo thường dùng là bộ bà ba trắng. Mặc âu phục thì áo chemise luôn giắt trong quần, đội mũ cối trắng, đi dép (xăng-đan) chỉ khi nào cần lịch sự thì mới mặc vét-tông, thắt cà-vạt”(3). Xem ra, bản thân ông dường như không quan trọng trước mọi thứ nhu cầu cá nhân thường tình. Nhân cách đó, lối sống mẫu mực đó ai mà không trân trọng, quý mến.

Với gia đình, có lẽ may mắn trong cuộc đời soạn giả Trần Hữu Trang là ông có một người vợ - bà Võ Thị Ân, một phụ nữ đảm đang, đức hạnh, hết mực yêu thương và dành cả cuộc đời hy sinh trọn vẹn cho chồng con… Trong thời ly loạn, bà Ân nhiều lần chịu cảnh tang thương: bị địch đốt nhà ba lần (kể cả khi nhà chỉ là cái chòi bà cất ở tạm), nên nhiều tác phẩm của soạn giả Trần Hữu Trang bị mất, một số tác phẩm được lưu đến ngày nay do các gánh hát, các nghệ sĩ cất giữ. Lẽ nào soạn giả Trần Hữu Trang không biết, không thấu hiểu sự hy sinh âm thầm của vợ? Và trong những buổi đêm vắng lặng một mình sáng tác, có lẽ, những uất hận bè lũ cướp nước, hại dân và nỗi niềm nhớ thương trân trọng người vợ yêu đã được Trần Hữu Trang hòa lẫn vào nhân dáng, cuộc đời những người phụ nữ trong các tác phẩm của ông.

 

_____

* Trưởng phòng Văn hóa Văn nghệ - Ban Tuyên giáo Thành ủy TP.Hồ Chí Minh.

(1), (2), (3) Con người, tư tưởng và quan niệm sáng tác của soạn giả Trần Hữu Trang (phần 2, 3 - báo Cà Mau, ngày 18-3-2014).

  • Viet nam air
  • free hit counter script