HV110 - Người bạn muôn đời

10 Tháng Mười Hai 2016 9:58 SA
PHAN QUANG

Bookmark and Share

Hình ảnh của HV110 - Người bạn muôn đời

Sách không chỉ là tập giấy

Sách không đơn thuần là “Tập hợp một số lượng nhất định những tờ giấy có chữ in, đóng gộp lại thành quyển”, như nhiều cuốn từ điển phổ thông định nghĩa. Trong số đó có Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (NXB Khoa học Xã hội, 1988), Từ điển phổ thông Pháp ngữ (NXB Hachette, Paris ấn hành nhân Hội nghị cấp cao Pháp ngữ họp tại Hà Nội tháng 11-1997), từ điển tiếng Pháp Larousse quen thuộc với những người có biết ít nhiều tiếng Tây. Tổ chức UNESCO còn chu đáo hơn, chuẩn mực hơn: Sách là “Xuất bản phẩm không định kỳ được in gồm ít nhất 49 trang, không bao gồm các trang bìa”. Từ điển tiếng Pháp Le Petit Robert tương đối cập nhật (1973) viết, sách là “Tập hợp một số lượng tờ giấy mang những ký hiệu để cho người ta đọc”. Cách dẫn giải này phù hợp với quan điểm của Viện hàn lâm Pháp, chế định có trách nhiệm ban hành tiêu chuẩn ngôn ngữ Pháp: “Tập hợp những trang giấy chép tay hoặc in để đọc”.

Định nghĩa này thể hiện được hai ý quan trọng: Sách bao gồm sách in và sách chép tay, và sách là để cho người ta đọc. Ý sau quán xuyến tất cả. Tuy nhiên, đó cũng chỉ nói đến sách in hoặc sách chép trên những trang giấy. Ngày nay một học sinh cấp II vẫn có thể nhếch mép: “Cháu ngày nào chẳng đọc sách trên mạng, có cần đến giấy đâu!”.

Tôi cố tình tầm chương trích cú nhằm đi tới nhận xét: Chữ, theo các nhà cổ học, xuất hiện với loài người cách ta chừng mươi thiên niên kỷ trở lại đây(1) và sách, phương tiện dùng để cố định và lưu truyền chữ viết cho hậu thế dưới nhiều dạng vật chất chứ không đơn thuần trang giấy, khoảng bảy, tám nghìn năm về trước, vậy mà chức năng chủ yếu (và cao quý) của sách vẫn chưa hẳn được tất cả những người thường xuyên tiếp cận và sử dụng sách cảm nhận trọn vẹn.

Cuốn sách là một vật dụng thường ngày như bát cơm ăn, tấm áo mặc, chiếc nón đội đầu, cây dao đi rừng của bà con miền núi hay chiếc xe gắn máy giúp người đô thị dịch chuyển... Chức năng của sách, gắn liền với chữ, tồn tại ít nhất 40.000 năm nay, gắn bó với người, thúc đẩy sự tiến triển của xã hội. Sách không một phút xa rời cuộc sống cơm áo (vật chất) và đời sống tinh thần (tâm linh) của người. Sách không đơn thuần là một tập hợp những trang giấy, hay ngược thời gian, những thanh tre, tấm lá cọ, những phiến đất sét nung như gạch ngói ta vẫn dùng..., sách có hồn, hồn của sách chính là hồn nhân loại.

Đối với người phương Tây, những dạng sách đầu tiên có thể xuất hiện ở vùng Lưỡng Hà. Các nhà khảo cổ học đã khai quật và tìm thấy 12 phiến đất sét nung thành gạch (tôi gọi gạch bởi trông nó dày và chắc chắn bền hơn những tấm ngói lợp nhà) chép một phần Trường ca Gingamet(2), thiên sử thi truyền tụng việc khai thiên lập địa không giống với cách được biết phổ cập hơn qua chương Khai sáng chép trong Kinh Thánh của đạo Do Thái và đạo Cơ Đốc.

Người Ả Rập, nhờ phát hiện những phiến đá khắc chữ cổ đã có thể hình dung thậm chí xác định những nơi hình thành các bộ lạc du mục đầu tiên, tổ tiên của họ, cũng như con đường tổ tiên họ từ bán đảo Ả Rập đến Trung Đông cùng người bản địa thành lập nước Syria, một điểm nóng trên hành tinh chúng ta ngày nay, lộ diện qua nhiều loại chữ viết và hình ảnh, âm thanh, đồ họa… trên các phương tiện truyền thông toàn thế giới.

Người Việt Nam tiếp cận nền văn minh Trung Hoa cổ đại từ 2.000 năm trước, vì vậy chúng ta không lạ gì chuyện chữ khắc trên mai rùa, phiến đá, những thanh tre trước khi in trên lụa và trên giấy. Nhiều nước phương Đông dùng chữ tượng hình có làm ra loại sách ghép bằng những tấm lá bằng vàng (kim sách) hoặc bạc (ngân sách) để chép đế phả, vương phả của dân tộc mình. Người viết bài này có lần được một người bạn Đài Loan cho xem rồi tặng một bản chụp lại bộ “đồng sách” - ghép bằng những tờ kim loại - ghi chép dòng dõi họ tộc ông, vốn từ một miền núi cao trong đại lục, qua từng bước du cư về đồng bằng, rồi được các cụ mang theo khi “tùy nghi di tản” sang đảo này cùng tàn quân Tưởng Giới Thạch năm 1949. Tại miền núi nước ta, một số dân tộc thiểu số nay vẫn giữ những bản sách gia truyền chép trên những thanh tre già kết nối bằng những sợi chỉ gai bền, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, lưu giữ thông tin về nguồn gốc và hành trình các chuyến di cư của tổ tiên trong lịch sử.

Đối với nền văn minh sông Nil ở châu Phi, sách in gắn liền với papyrus, nguồn gốc các từ papier, paper trong tiếng Pháp, tiếng Anh. Papyrus là tên một loài cói mọc hoang ven các bờ suối hoặc đầm lầy, thớ sợi cói rất mịn, người ta có thể xếp các cây cói sát vào nhau trên tấm ván, dùng chày đập nhẹ cho chúng bẹp lại và kết dính, rồi tiếp tục đập nữa, đập mãi cho đến khi hình thành tờ mỏng đều, đưa ra phơi nắng cho thật khô, thành một loại giấy mỏng và đẹp, rất bền. Du khách thăm “đất nước các kim tự tháp” ngày nay có thể đăng ký nhập các tua lữ hành nội địa, sau hành trình du ngoạn trên con thuyền gắn máy len lỏi qua nhiều con suối, nguồn khe hoang dại, sẽ dừng lại một ngôi làng truyền thống xem người dân Ai Cập sản xuất giấy papyrus đúng lối cổ truyền hơn 5.000 năm về trước. Bạn có thể mua một bức tranh dân gian nhiều màu sắc, in hình một đức Pharaon hoặc chân dung Nữ hoàng Nefertiti xinh đẹp và nổi tiếng về tài tham chính mấy ngàn năm trước, với cái giá chưa bằng một lon bia dùng trong nhà nghỉ nhiều sao.

Người lục địa Ấn Độ theo đạo Ấn, đạo Bà La Môn, đạo Phật và muôn vàn tôn giáo khác - thi hào Rabindranath Tagore chẳng từng gọi đất nước ông là “xứ sở của triệu triệu thần linh” đó sao - chép kinh, sách của đạo mình trên một loại lá cọ. Một số chùa thờ Phật giáo Nam tông ở miền Nam nước ta ngay nay vẫn còn lưu giữ được một phần nhỏ những trang Kinh Phật chép bằng chữ Phạn hoặc chữ Pali trên những tấm lá khô làm theo lối ấy.

Đế quốc Ai Cập suốt mấy ngàn năm trị vì, giữ độc quyền sản xuất giấy papyrus. Người châu Âu thời trung đại, muốn có giấy để chép và truyền bá Thánh Kinh đạo mình buộc phải dùng loại giấy sản xuất bằng da bê hoặc da bò (giấy da bò không mềm, không mỏng bằng giấy da bê) nhưng da bê hay giấy da bò loại nào cũng hiếm, cũng đắt tiền. Thời ấy đã có người Âu châu phát minh cách làm giấy làm bằng giẻ bông, vải vụn, tuy nhiên sản phẩm chế biến từ thứ nguyên liệu dân giã này lại không thể dùng để sao chép và truyền bá những lời dạy bảo của các đấng tối thiêng liêng.

Châu Âu lẩn quẩn trong vòng khó khăn ấy mãi đến thế kỷ XII, các thương lái Trung Hoa và Ả Rập mới qua đường biển du nhập các loại giấy dó, giấy bản sản xuất từ bột thực vật vốn được dùng khá phổ biến từ nhiều thế kỷ trước tại Trung Hoa để in sách bằng những bản chữ khắc trên gỗ (mộc bản). Giấy từ phương Đông cập bến bán đảo Sicile nước Ý và bờ biển Tây Ban Nha ngày nay, từ đó lan tỏa vào Lục địa cũ. Người châu Âu mày mò học theo cách ấy, làm ra giấy, tạo tiền đề để sau khi người Đức mang tên Johannes Gutenberg (1395-1468) phát minh thành công kỹ thuật ấn loát với cách xếp những con chữ chì đúc rời thành dòng thành cột, số Kinh Thánh của đạo Cơ Đốc từ vài ba vạn bản trong toàn bộ châu Âu tăng vụt lên hơn 10 triệu bản trong vòng mấy chục năm sau. Cái gọi là văn hóa đọc ở châu Âu thật sự ra đời là nhờ tài năng của bác thợ thủ công nước Đức.

Sự ra đời của chữ viết

Chữ Hán (thời trước dân gian ta gọi chữ Nho), phương tiện khởi đầu và chuyển tải một nền văn minh lớn ở phương Đông cổ đại không phải do vua Hoàng đế làm ra như từng lưu truyền suốt mấy ngàn năm trong mọi kinh sách Trung Hoa, và các cụ nhà Nho ta thời xưa vẫn nói dựa theo. Lý do đơn giản là Hoàng đế chỉ là nhân vật hư cấu, ngài chưa từng tồn tại trong thực tế.

Gần đây các nhà khoa học Trung Quốc dựa trên những di tích khảo cổ được phát hiện như mai rùa, khúc xương có khắc chữ tượng hình, phỏng đoán chữ viết ở Trung Quốc ra đời vào khoảng 1.800 năm trước Tây lịch, tức cách chúng ta hơn 3.800 năm.

Ai Cập cũng là một nước có chữ viết lâu đời nhất thế gian, còn sớm hơn chữ Hán nhiều. Các nhà cổ học nước ấy cũng như Âu Mỹ đều gần như nhất trí cho là “tiếng Ai Cập” loại ngôn ngữ cổ nhất của Ai Cập, nay không còn dùng, ra đời vào khoảng năm 2690 trước Tây lịch - tức trước chữ Hán đến 900 năm(3). Đó là ngôn ngữ được cho là hình thành xưa nhất sau tiếng Sumer ở miền Lưỡng Hà, mà thời điểm xuất hiện sớm nhất được phỏng định vào khoảng giữa thế kỷ 31 đến thế kỷ 26 trước Tây lịch - nói cách khác, cách chúng ta trên dưới 5.000 năm!

Chữ viết ở châu Âu ra đời muộn hơn, nhưng để lại dấu ấn lớn với hai tác phẩm được cho là của Homère: Các thiên sử thi Iliade kể về cuộc chiến thành Troie và Odyssée, chuyến trở về quê của nhân vật Ulysse, sau chiến thắng ở chiến trường vượt trùng dương trở lại hòn đảo quê hương gặp người vợ yêu quý mười năm đằng đẵng chờ chồng. Hai thiên sử thi từ xưa đã được coi là những tác phẩm đặt nền tảng cho văn học Tây phương, ngày nay được chốt lại một câu chắc như đinh đóng cột: “Iliade Odyssée, hai thi phẩm sáng lập (poèmes fondateurs) nền văn minh châu Âu”.

Homère là một nhà thơ. Cái tên Homère đồng nghĩa với hai từ “thi nhân”. Nhưng định mệnh bắt ông phải mù. “Nữ thần Thi ca đã đoạt mất của ông đôi mắt, bù lại, ban cho ông giọng ngâm thơ kể chuyện tài hoa” - người xưa truyền tụng thế.

Người mù thường có đôi tai thính, và đặc biệt trí nhớ tốt, đầu đuôi mạch lạc. Phải chăng những người hát xẩm của nước ta xưa ở miền Bắc hay những người nói vè ở miền Trung, định mệnh cũng bắt phần đông trong số họ phải chịu cảnh mù lòa. Một học giả nổi tiếng hùng biện thời Hy Lạp cổ là Dion Chrysostome quả quyết: “Tất cả các thi nhân đều là người mù, nếu không mù lòa thì làm sao có thể trở thành nhà thơ!”.

Homère vốn là một người đi hát thơ rong (gọi nói thơ có lẽ đúng hơn)(4), chuyên kể nội dung hai thiên sử thi vừa dẫn ở trên, Iliade Odyssée. Ông là người hát, người ngâm, người kể tác phẩm do người khác làm hay là tác phẩm của chính ông? Dường như lịch sử cổ đại Hy Lạp từ thời xa xưa đã thiên về giả thuyết Homère chính là tác giả. Vì vậy, sử sách châu Âu xưa cũng như nay, khi nói về hai thiên sử bất tử ấy thường dùng đại từ sở hữu “của”: “Iliade Odyssée của Homère”.

Thi nhân mù đôi mắt. Lẽ đương nhiên đã là người mù thì không thể tự tay mình viết ra tác phẩm. Thiên sử thi Iliade kể về cuộc chiến thành Troie trên thực tế diễn ra cách thời Homère sống những 400 năm. Và các câu chuyện do nhà thơ vĩ đại nhất trong tất cả các nhà thơ từ xưa tới nay hát, ngâm hay nói, sẽ được chép thành văn bản hoàn chỉnh vào triều đại Pisistrate, thế kỷ IV trước Tây lịch. Sử thi Iliade gồm 84 thiên. Sử thi Odyssée được phân thành ba phần, gồm 24 thiên. Các nhà nghiên cứu khẳng định: Iliade Odyssée thể hiện cái mốc truyền chuyển văn học từ dạng lời sang dạng chữ ở châu Âu.

Giá không có sự truyền chuyển bằng văn tự ấy, làm sao chúng ta ngày nay có thể thưởng thức các câu chuyện hùng tráng với cách thể hiện tài hoa về Cuộc chiến thành Troie và Chuyến viễn hành trên biển cả của chàng Ulysse, cùng bao nhiêu kiệt tác khác?

Như vậy, chữ viết là điều kiện hình thành và tồn tại nội dung cuốn sách. Và đổi lại, sách thể hiện mong ước và quyết chí của con người muốn vật chất hóa bền lâu một văn bản vốn chỉ được suy ngẫm trong đầu hay đang trong quá trình sáng tạo.

Nói sách là thể xác, chữ là trí tuệ và tâm hồn, bởi một thể xác vắng trí tuệ, thiếu tâm hồn không phải là con người, và tâm hồn thiếu thể xác thì chỉ có thể là đấng thần linh không không có có mà thôi.

 

_____

(1) Khoảng từ thiên niên kỷ IX đến thiên niên kỷ IV trước Tây lịch.

(2) Xem Sử thi huyền thoại Đông Tây, NXB Văn học, 2009, 2011.

(3) Ngôn ngữ chính thức của nước Ai Cập ngày nay là “tiếng Ả Rập Ai Cập”.

(4) Tiếng miền Trung nước ta gọi là “người nói vè”, nói mà vẫn có nhạc điệu, lại còn đệm đàn.

  • Viet nam air
  • free hit counter script