HV110 - Cảo thơm lần giở: Malaparte nghĩ gì?

05 Tháng Giêng 2017 8:50 SA
HỮU NGỌC

Bookmark and Share

Hình ảnh của HV110 - Cảo thơm lần giở: Malaparte nghĩ gì?

Trong những tác phẩm văn học miêu tả chiến tranh phá hủy tính người mà tôi đã được đọc, có hai tác phẩm Ý gây ấn tượng mạnh mẽ nhất đối với tôi: Hỏng bét (Kaputt, 1944 - tiếng Đức, cũng có thể dịch là Tan nát, Hủy diệt) và Da (La Pelle, 1949). Đọc bản dịch tiếng Pháp, phong cách của tác giả Malaparte (1898-1957) rất độc đáo: hiện thực trắng trợn, tục tằn, cảm thương kín đáo, hài hước rùng rợn, cảm giác chán đến nôn mửa. Trong tập truyện ngắn Da, ông phản ánh nỗi cực nhục của nhà nước Ý sau thế chiến II. Xin kể vài chuyện trong đó: truyện Dịch hạch đề cập chủ đề “ruỗng thối” xuyên qua tất cả các truyện với đủ mùi hôi thối. Sự ruỗng thối trước tiên ăn vào phụ nữ (đi làm đĩ công khai, có khi chỉ vì một thanh sô cô la của lính Mỹ), rồi lan sang tất cả mọi người (do đói khổ); cuối truyện là cảnh những đền đài cổ La Mã sát một cánh đồng thanh bình (gợi lên thế giới cổ đại vẫn nguyên vẹn bên thế giới hiện đại xáo động). Tác giả miêu tả quang cảnh thành phố Napoli đổ nát như một thế giới đau khổ mà chưa dỡ bỏ (Cuộc ẩu đả bên thây người chết). Trong Gió đen, Con chó Febo thể hiện lương tâm của người viết, đau khổ chán chường sự độc ác của văn minh; dân tộc Ý cùng khổ, nhục nhã, “người ta không chiến đấu vì danh dự, tự do, công lý nữa, mà vì mảnh da, cái xác thịt bẩn thỉu này”.

Curzio Malaparte là nhà thơ, nhà viết kịch, làm phim Ý. Cha ông người Đức, mẹ người Ý. Ông tình nguyện tham gia chiến tranh thế giới I, viết cho nhiều báo. Khoảng năm 1922, ông vào Đảng Phát xít, ca tụng Mussolini, nhưng sau ông bị gạt ra khỏi đảng vì không theo tư tưởng chính thống. Trong chiến tranh thế giới II, ông làm phóng viên chiến tranh của Ý ở mặt trận Liên Xô; nhưng do những bài viết làm cho Bộ chỉ huy Đức bực bội, ông bị đưa sang mặt trận Phần Lan. Ông làm sĩ quan liên lạc cho quân đội Mỹ sau khi quân đội Đồng minh đổ bộ vào Ý. Sau chiến tranh, ông lại trở về nghề báo và nghề văn: lập trường tư tưởng không rõ rệt, không ra tả, không ra hữu; cuối đời, tư tưởng của ông tiến bộ hơn. Hai tiểu thuyết phóng sự nổi tiếng thế giới của ông là Hỏng bét (1944) viết về châu Âu suy sụp dưới sự tàn bạo vô nghĩa của chiến tranh và Da (1949). Ông còn viết cả bằng tiếng Tây Ban Nha và tiếng Pháp; cuốn Kỹ thuật đảo chính (Technique du coup d’Etat, 1931), tiếng Pháp, đã bị cấm lưu hành ở Ý và ở Đức.

Sau đây là một số tư duy của Malaparte:

+ Lịch sử các cuộc cách mạng của ba thế kỷ gần đây chỉ là lịch sử những hỏa hoạn gây ra ở châu Âu bởi sự cuồng tín của tầng lớp tiểu tư sản.

+ Khi đã hèn, thì hãy hèn đến cùng.

+ Tôi rất kính trọng những người tự bán mình vì đói; nếu tôi đói... tôi sẽ không ngần ngừ chút nào, mà sẵn sàng bán cái đói của tôi.

+ Điều kỳ lạ trong tính cách người Ý là lương tâm của họ chỉ thể hiện khi có đổ máu, vì họ đặt mọi việc lệ thuộc vào sự tôn trọng cuộc sống.

+ Chế độ toàn trị là một chế độ trong đó tất cả những gì cấm thì lại buộc phải làm.

+ Chớ nhé! Đối với những bạo chúa, đừng giết đi, mà phải chế giễu chúng. Không nên đổ máu chúng, mà chỉ nên giễu cợt chúng. Đó là luận lý của lịch sử nước Ý, mà nhân dân đã theo từ 900 năm nay.

+ Nền độc tài là hình thức toàn vẹn nhất của sự đố kỵ.

+ Tại sao các người không bảo vệ miếng bánh mì của mình chống lại bọn cướp bóc? Khi một dân tộc thua trận, bọn cướp bóc ăn tươi nuốt sống dân tộc ấy.

  • Viet nam air
  • free hit counter script