HV111 - Chữ “Nghĩa” trong Tết người Việt

18 Tháng Giêng 2017 3:07 CH
HỮU NGỌC

Bookmark and Share

Hình ảnh của HV111 - Chữ “Nghĩa” trong Tết người Việt

Câu nói dân gian “Chuyến đò nên nghĩa” rất điển hình cho tính cách người Việt. Khái niệm này về ứng xử xã hội bao gồm nhiều lĩnh vực, từ tình yêu - hôn nhân, gia đình đến làng xóm, đất nước, nhân loại và mở rộng cả đến thiên nhiên. Là một giá trị nhân văn quan trọng của các nước Đông Á (Trung Quốc, Nam Bắc Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam) chịu ảnh hưởng Khổng học. Qua lịch sử và trên thực tế, khái niệm này mang màu sắc khác nhau giữa các dân tộc ấy.

Văn hóa Trung Quốc truyền thống thể hiện chữ nghĩa rất khắt khe. Thí dụ trong quan hệ con cái với bố mẹ, chữ nghĩa thể hiện bằng chữ hiếu. Chữ hiếu có tính chất thần bí dẫn đến những hành động hiếu nghĩa cuồng tín, như chuyện kể trong sách Nhị thập tứ hiếu (24 tấm gương hiếu nghĩa đa số sống trước công nguyên): một cậu bé vui lòng để cho dì ghẻ và bố đánh đập xỉ vả suốt ngày, một cô gái 13 tuổi khóc bố chết đuối trong 7 ngày rồi nhảy xuống sông tự tử, một chú bé 4 tuổi nhịn ăn khi bố mẹ bị ốm, một người 10 năm không ăn một miếng thịt nào để tưởng nhớ bố chết…

Áp dụng vào quan hệ giữa bầy tôi và vua chúa, quan hệ giữa người làm và chủ, chữ nghĩa có nội hàm chữ trung cũng nghiệt ngã. Có thể lấy thí dụ nghĩa tử (chết vì nghĩa), vào thời điểm nước Nhật thua trận cuối thế chiến thứ II: có những “phi công tự sát” lao máy bay vào phi cơ oanh tạc Mỹ, những sĩ quan và nhà lãnh đạo cao cấp tự sát để “tận nghĩa” với Thiên hoàng. Chữ nghĩa cũng mang sắc thái có khi còn khắt khe hơn, chỉ một món nợ đạo lý cần phải trả bằng bất cứ giá nào kể cả bằng cái chết. Như vở kịch Vụ tự tử vì tình ở Sonezaki của Chikamatsu - thế kỷ 17. Nội dung chính như sau: Cô gái giang hồ Ohatsu yêu chàng Tokubei. Vì chàng không đòi được tiền nợ để chuộc nàng ra khỏi lầu xanh, đôi tình nhân cùng nhau tự tử để vẹn nghĩa. Họ rủ nhau vào một khu rừng, hai người tự cuốn thừng vào một gốc thông, chàng đâm chết nàng rồi tự đâm mình để cùng được chết bên nhau.

Ngày nay, qua những phim điện ảnh, ta thấy ở Hàn Quốc cũng thể hiện hiếu nghĩa của con cái vẫn còn sâu nặng, đôi khi rất khắt khe.

Ở Việt Nam, về phương diện tình ái và vợ chồng, khái niệm nghĩa của Khổng học đã mang một màu sắc riêng, tuy vẫn giữ cái cốt và nghĩa trong Khổng học chính thống được áp dụng ở các nước Đông Á khác. Ở trường hợp này, có lẽ Nguyễn Du trong Truyện Kiều đã đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về chữ nghĩa theo phong cách Việt Nam: “Xót thay chút nghĩa cũ càng/ Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”.

Câu thơ trên có ba yếu tố:

1. Thời gian (dài hay ngắn) chỉ cần thời gian đi đò cùng một chuyến cũng đủ thành nghĩa rồi. Huống chi chút nghĩa lại cũ càng.

2. Lý trí được tượng trưng bởi ngó sen (ngó ý). Ngó sen bị bẻ gãy.

3. Tình cảm được tượng trưng bởi những sợi tơ lòng, vẫn nối liền hai phần ngó sen bị gãy.

Tóm lại, nghĩa của ta là một khái niệm không thuần lý trí (nhiệm vụ, mệnh lệnh của lý trí, của lương tâm, như khái niệm impératif catégorique: bất khả kháng theo nghĩa của Kant). Nó còn đậm tình cảm, do những quan hệ con người với nhau.

Có thể gắn “tình nghĩa” với thành ngữ nôm na của ta là “yêu thương”. Yêu để nói tình cảm mê say, nhiều khi vượt lên lý trí, đôi khi mù quáng, thấy cái gì của người yêu cũng tốt đẹp. Thương để nói tình cảm yêu bớt bồng bột, trìu mến, ít nhiều có lý trí, nhận ra được những nhược điểm của người yêu nhưng thông cảm, chấp nhận hay chịu đựng điều mình không thích của người yêu, vì nghĩa. Ta còn nói tình nghĩa: khi tuổi yêu bồng bột đã qua, vợ chồng già vẫn mến nhau vì nghĩa. Có lần ở Paris, tôi nói chuyện về văn học dân gian Việt Nam. Hôm sau, một thính giả là ông P. Devillers, nhà sử học gặp tôi ở nhà một bà bạn. Ông thích thú tâm sự với tôi: “Tối qua nghe ông phân tích chữ ‘thương’ và chữ ‘yêu’, tôi thấy rất hợp với tôi và vợ tôi quá. Vợ tôi ngủ hay ngáy, tôi không bực mình vì ‘yêu’ đã chuyển thành ‘thương’”.

Sự khác biệt ta nhận thấy giữa tình (yêu) và nghĩa (thương) phù hợp với sự phân tích rất khoa học của nhà văn Pháp thế kỷ 19 Stendhal trong tác phẩm nổi tiếng: Luận về ái tình (De l’amour, 1822).

Khái niệm nghĩa theo Khổng học có nhiều nghĩa, nghĩa chính là: điều theo luân lý đạo đức người ta phải làm, nên làm (Đào Duy Anh); điều được coi là hợp lẽ phải (Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học). Theo cuốn từ nguyên Tìm về cội nguồn chữ Hán của Lý Lạc Nghi và Gim Walers: nghĩa có nghĩa là nghĩa vụ, gần với uy nghi, mẫu mực. Đạo đức Khổng học đề cao nhân nghĩa, nhân chỉ lòng thương người, nghĩa chỉ việc làm chính đính, theo lẽ phải. Từ nghĩa trong tiếp Pháp là droit, justice, devoir; tiếng Anh là rightness, duty; tiếng Đức là Gerechtigkeit - những từ này cũng thể hiện nội dung trên.

Khổng Tử nhấn mạnh chữ nhân, ít nói chữ nghĩa, tuy nhân nghĩa đi liền nhau. Mạnh Tử thường nói chung nhân nghĩa. Hai mặt nhân (tình, thương yêu) và nghĩa (lý, bổn phận) cần bổ sung cho nhau. Chữ nghĩa của Việt Nam được thể hiện trong ứng xử, thường lý và tình quyện vào nhau, nhấn mạnh về mặt tình cảm thuộc phạm trù tình (nhân) hơn là phạm trù lý tính. Có thể lấy ví dụ trong ngôn ngữ: Ta nói “nghĩ bụng”, “nghĩ trong lòng”, như vậy là tư duy nằm trong tình cảm, vì “bụng” và “lòng” được coi là nơi chứa đựng tình cảm.

Chữ nghĩa Việt Nam với màu sắc tình là biết ơn, quan hệ tình cảm thủy chung được thể hiện trong mọi mối quan hệ từ gia đình đến làng xóm, đất nước, có khi cả với thiên nhiên. Trong câu ca dao: “Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, chữ công nặng về lý tính, chữ nghĩa nặng về tình cảm. Đôi nam nữ yêu nhau nhưng không lấy được nhau, phải lập gia đình riêng, mất tình nhưng nghĩa vẫn còn, như ca dao nói: “Duyên xưa tình trước nghĩa sau/ Có con ta gả cho nhau thiệt gì”.

Đầu xuân, ngày Tết là dịp chữ nghĩa được thể hiện trong các mối quan hệ nói lên các mối ân tình:

Ân tình với trời đất và thần linh, đêm giao thừa làm lễ trừ tịch, tiễn vị thần năm cũ, đón vị thần năm mới, cúng bánh chưng, đi lễ chùa, tế thần hoàng làng, lễ tịch điền, lễ ông táo.

Ân tình với tổ tiên: Đi thăm mồ mả trước Tết, bày bàn thờ thắp hương từ chiều 30 Tết để đón ông bà tổ tiên về ăn tết - đặt hai cây mía bên bàn thờ làm gậy chống…

Ân tình với bố mẹ ông bà: Chúc tết và mừng tuổi ngày mùng 1.

Ân tình với họ hàng, làng xóm: Chúc tết nhau, gạt bỏ những mối oán thù trong mấy ngày Tết, tổ chức các lễ hội mùa xuân.

Ân tình đối với thầy học, thầy lang và những người bề trên trong công việc: Ngày Tết có tục lệ tặng quà cho người trên và mừng tuổi cho người dưới. Đó là một tục lệ đẹp, mang nặng tình nghĩa tượng trưng. Ngày nay, việc này đã biến tướng thành thói đút lót, “phong bì”, mua quan bán tước. Rất tiếc là những tục lệ ân tình ngày Tết khác cũng đang suy thoái, làm mất hồn Tết Việt Nam.

Câu nói dân gian “Chuyến đò nên nghĩa” rất điển hình cho tính cách người Việt. Khái niệm này về ứng xử xã hội bao gồm nhiều lĩnh vực, từ tình yêu - hôn nhân, gia đình đến làng xóm, đất nước, nhân loại và mở rộng cả đến thiên nhiên. Là một giá trị nhân văn quan trọng của các nước Đông Á (Trung Quốc, Nam Bắc Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam) chịu ảnh hưởng Khổng học. Qua lịch sử và trên thực tế, khái niệm này mang màu sắc khác nhau giữa các dân tộc ấy.

Văn hóa Trung Quốc truyền thống thể hiện chữ nghĩa rất khắt khe. Thí dụ trong quan hệ con cái với bố mẹ, chữ nghĩa thể hiện bằng chữ hiếu. Chữ hiếu có tính chất thần bí dẫn đến những hành động hiếu nghĩa cuồng tín, như chuyện kể trong sách Nhị thập tứ hiếu (24 tấm gương hiếu nghĩa đa số sống trước công nguyên): một cậu bé vui lòng để cho dì ghẻ và bố đánh đập xỉ vả suốt ngày, một cô gái 13 tuổi khóc bố chết đuối trong 7 ngày rồi nhảy xuống sông tự tử, một chú bé 4 tuổi nhịn ăn khi bố mẹ bị ốm, một người 10 năm không ăn một miếng thịt nào để tưởng nhớ bố chết…

Áp dụng vào quan hệ giữa bầy tôi và vua chúa, quan hệ giữa người làm và chủ, chữ nghĩa có nội hàm chữ trung cũng nghiệt ngã. Có thể lấy thí dụ nghĩa tử (chết vì nghĩa), vào thời điểm nước Nhật thua trận cuối thế chiến thứ II: có những “phi công tự sát” lao máy bay vào phi cơ oanh tạc Mỹ, những sĩ quan và nhà lãnh đạo cao cấp tự sát để “tận nghĩa” với Thiên hoàng. Chữ nghĩa cũng mang sắc thái có khi còn khắt khe hơn, chỉ một món nợ đạo lý cần phải trả bằng bất cứ giá nào kể cả bằng cái chết. Như vở kịch Vụ tự tử vì tình ở Sonezaki của Chikamatsu - thế kỷ 17. Nội dung chính như sau: Cô gái giang hồ Ohatsu yêu chàng Tokubei. Vì chàng không đòi được tiền nợ để chuộc nàng ra khỏi lầu xanh, đôi tình nhân cùng nhau tự tử để vẹn nghĩa. Họ rủ nhau vào một khu rừng, hai người tự cuốn thừng vào một gốc thông, chàng đâm chết nàng rồi tự đâm mình để cùng được chết bên nhau.

Ngày nay, qua những phim điện ảnh, ta thấy ở Hàn Quốc cũng thể hiện hiếu nghĩa của con cái vẫn còn sâu nặng, đôi khi rất khắt khe.

Ở Việt Nam, về phương diện tình ái và vợ chồng, khái niệm nghĩa của Khổng học đã mang một màu sắc riêng, tuy vẫn giữ cái cốt và nghĩa trong Khổng học chính thống được áp dụng ở các nước Đông Á khác. Ở trường hợp này, có lẽ Nguyễn Du trong Truyện Kiều đã đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về chữ nghĩa theo phong cách Việt Nam: “Xót thay chút nghĩa cũ càng/ Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”.

Câu thơ trên có ba yếu tố:

1. Thời gian (dài hay ngắn) chỉ cần thời gian đi đò cùng một chuyến cũng đủ thành nghĩa rồi. Huống chi chút nghĩa lại cũ càng.

2. Lý trí được tượng trưng bởi ngó sen (ngó ý). Ngó sen bị bẻ gãy.

3. Tình cảm được tượng trưng bởi những sợi tơ lòng, vẫn nối liền hai phần ngó sen bị gãy.

Tóm lại, nghĩa của ta là một khái niệm không thuần lý trí (nhiệm vụ, mệnh lệnh của lý trí, của lương tâm, như khái niệm impératif catégorique: bất khả kháng theo nghĩa của Kant). Nó còn đậm tình cảm, do những quan hệ con người với nhau.

Có thể gắn “tình nghĩa” với thành ngữ nôm na của ta là “yêu thương”. Yêu để nói tình cảm mê say, nhiều khi vượt lên lý trí, đôi khi mù quáng, thấy cái gì của người yêu cũng tốt đẹp. Thương để nói tình cảm yêu bớt bồng bột, trìu mến, ít nhiều có lý trí, nhận ra được những nhược điểm của người yêu nhưng thông cảm, chấp nhận hay chịu đựng điều mình không thích của người yêu, vì nghĩa. Ta còn nói tình nghĩa: khi tuổi yêu bồng bột đã qua, vợ chồng già vẫn mến nhau vì nghĩa. Có lần ở Paris, tôi nói chuyện về văn học dân gian Việt Nam. Hôm sau, một thính giả là ông P. Devillers, nhà sử học gặp tôi ở nhà một bà bạn. Ông thích thú tâm sự với tôi: “Tối qua nghe ông phân tích chữ ‘thương’ và chữ ‘yêu’, tôi thấy rất hợp với tôi và vợ tôi quá. Vợ tôi ngủ hay ngáy, tôi không bực mình vì ‘yêu’ đã chuyển thành ‘thương’”.

Sự khác biệt ta nhận thấy giữa tình (yêu) và nghĩa (thương) phù hợp với sự phân tích rất khoa học của nhà văn Pháp thế kỷ 19 Stendhal trong tác phẩm nổi tiếng: Luận về ái tình (De l’amour, 1822).

Khái niệm nghĩa theo Khổng học có nhiều nghĩa, nghĩa chính là: điều theo luân lý đạo đức người ta phải làm, nên làm (Đào Duy Anh); điều được coi là hợp lẽ phải (Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học). Theo cuốn từ nguyên Tìm về cội nguồn chữ Hán của Lý Lạc Nghi và Gim Walers: nghĩa có nghĩa là nghĩa vụ, gần với uy nghi, mẫu mực. Đạo đức Khổng học đề cao nhân nghĩa, nhân chỉ lòng thương người, nghĩa chỉ việc làm chính đính, theo lẽ phải. Từ nghĩa trong tiếp Pháp là droit, justice, devoir; tiếng Anh là rightness, duty; tiếng Đức là Gerechtigkeit - những từ này cũng thể hiện nội dung trên.

Khổng Tử nhấn mạnh chữ nhân, ít nói chữ nghĩa, tuy nhân nghĩa đi liền nhau. Mạnh Tử thường nói chung nhân nghĩa. Hai mặt nhân (tình, thương yêu) và nghĩa (lý, bổn phận) cần bổ sung cho nhau. Chữ nghĩa của Việt Nam được thể hiện trong ứng xử, thường lý và tình quyện vào nhau, nhấn mạnh về mặt tình cảm thuộc phạm trù tình (nhân) hơn là phạm trù lý tính. Có thể lấy ví dụ trong ngôn ngữ: Ta nói “nghĩ bụng”, “nghĩ trong lòng”, như vậy là tư duy nằm trong tình cảm, vì “bụng” và “lòng” được coi là nơi chứa đựng tình cảm.

Chữ nghĩa Việt Nam với màu sắc tình là biết ơn, quan hệ tình cảm thủy chung được thể hiện trong mọi mối quan hệ từ gia đình đến làng xóm, đất nước, có khi cả với thiên nhiên. Trong câu ca dao: “Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, chữ công nặng về lý tính, chữ nghĩa nặng về tình cảm. Đôi nam nữ yêu nhau nhưng không lấy được nhau, phải lập gia đình riêng, mất tình nhưng nghĩa vẫn còn, như ca dao nói: “Duyên xưa tình trước nghĩa sau/ Có con ta gả cho nhau thiệt gì”.

Đầu xuân, ngày Tết là dịp chữ nghĩa được thể hiện trong các mối quan hệ nói lên các mối ân tình:

Ân tình với trời đất và thần linh, đêm giao thừa làm lễ trừ tịch, tiễn vị thần năm cũ, đón vị thần năm mới, cúng bánh chưng, đi lễ chùa, tế thần hoàng làng, lễ tịch điền, lễ ông táo.

Ân tình với tổ tiên: Đi thăm mồ mả trước Tết, bày bàn thờ thắp hương từ chiều 30 Tết để đón ông bà tổ tiên về ăn tết - đặt hai cây mía bên bàn thờ làm gậy chống…

Ân tình với bố mẹ ông bà: Chúc tết và mừng tuổi ngày mùng 1.

Ân tình với họ hàng, làng xóm: Chúc tết nhau, gạt bỏ những mối oán thù trong mấy ngày Tết, tổ chức các lễ hội mùa xuân.

Ân tình đối với thầy học, thầy lang và những người bề trên trong công việc: Ngày Tết có tục lệ tặng quà cho người trên và mừng tuổi cho người dưới. Đó là một tục lệ đẹp, mang nặng tình nghĩa tượng trưng. Ngày nay, việc này đã biến tướng thành thói đút lót, “phong bì”, mua quan bán tước. Rất tiếc là những tục lệ ân tình ngày Tết khác cũng đang suy thoái, làm mất hồn Tết Việt Nam.

  • Viet nam air
  • free hit counter script