HV120 - Căn bệnh ác tính của một nền giáo dục đại học

14 Tháng Mười Một 2017 10:12 SA
TS VLADISLAV INOZEMTSEV Nga)

Bookmark and Share

Hình ảnh của HV120 - Căn bệnh ác tính của một nền giáo dục đại học

Lời người dịch: Khoa học Xô viết thế kỷ 20 có nhiều thành tựu xuất chúng khiến phương Tây phải nể phục. Đặc biệt trong lĩnh vực vật lý hạt nhân, hàng không vũ trụ và vũ khí, những lĩnh vực liên quan đến khoa học toán lý, khoa học kỹ thuật.

Sau chuyến bay lên vũ trụ năm 1961 của Yuri Gagarin, Tổng thống Mỹ J.F. Kennedy đã phát biểu như sau: “Nền giáo dục Xô viết là tốt nhất trên thế giới. Chúng ta cần phải tiếp nhận nhiều điều từ nó. Liên Xô đã chiến thắng trong cuộc chạy đua vũ trụ từ ở sau bàn học sinh”. Đó cũng là kết luận của Ủy ban Liên bộ Chính phủ Mỹ sau khi điều tra nguyên nhân sự vượt trội của ngành vũ trụ Liên Xô thời điểm đó.

Một chỉ dấu khác về chất lượng của nền giáo dục đại học Xô viết là việc có một số lượng rất lớn các nhà khoa học và chuyên viên kỹ thuật Nga hội nhập thành công ở phương Tây với tư cách chuyên gia vào những năm 1990 và tiếp tục về sau này.

Tiếc rằng sau khi Liên Xô sụp đổ, nền giáo dục Nga đã dần rời xa triết lý giáo dục Xô viết dựa trên việc dạy lý thuyết cơ bản để đào tạo con người sáng tạo. Đồng thời nền giáo dục này cũng chưa đạt được triết lý giáo dục đào tạo chuyên gia sở hữu gói kỹ năng cập nhật của phương Tây và các nước phát triển khác.

Chúng tôi xin giới thiệu bài viết của TS Vladislav Inozemtsev, một nhà kinh tế nổi tiếng ở Nga, về nền giáo dục đại học Nga hiện nay dưới góc nhìn kinh tế học - nghĩa là mỗi luận cứ đều được củng cố bằng số liệu.

Tuần qua trong phiên họp thường kỳ chính phủ, người ta đã thảo luận đề nghị giảm 40% chỉ tiêu tuyển sinh đại học diện ngân sách và giảm biên chế khoảng 10.000-12.000 giáo sư và giảng viên đại học. Phải nói là đã lâu lắm mới lại có một đề nghị gồm những con số cụ thể như vậy. Như dự đoán, kế hoạch này bị báo chí và cộng đồng mạng Internet phản ứng dữ dội. Thật là tiếc, theo tôi, đây chính là một trong những trường hợp hiếm hoi, khi những sáng kiến của chính quyền xứng đáng có được sự ủng hộ toàn diện.

Giáo dục là một đề tài mà bất cứ ai cũng dễ coi mình là chuyên gia. Tuy không thuộc số đông này, nhưng tôi cũng xin phép chia sẻ một vài nhận xét nghiệp dư của mình.

Theo tôi, một nền giáo dục có tham vọng chất lượng tốt, bắt buộc ít nhiều phải có hơi hướng tinh hoa. Ở thời đại hiện nay, việc cố gắng bảo đảm cho toàn thể xã hội có học vấn đại học là một điều vô nghĩa, khi một mặt, chưa đến một nửa số sinh viên sau khi tốt nghiệp làm việc theo chuyên môn đào tạo; mặt khác, thế giới Internet ngày nay đang tạo ra những khả năng vô hạn cho việc tự học và nâng cao trình độ.

Một nền giáo dục đại học trở thành phổ cập đương nhiên sẽ mất giá. Nhà lý thuyết nghệ thuật quản trị danh tiếng Peter Drucker hoàn toàn có lý khi nhận xét rằng sự bùng nổ giáo dục đại học ở Mỹ chỉ xảy ra, khi chênh lệch thu nhập trung bình giữa những người tốt nghiệp đại học và tốt nghiệp phổ thông đạt mức 3,2 - 3,5 lần vào giữa những năm 1920. Chính điều này đã khích lệ những dòng người trẻ tuổi khổng lồ bước chân vào các trường đại học, dẫn đến sự cạnh tranh tuyển chọn gay gắt, và tương ứng là sự nâng cao chất lượng giáo dục.

Hiển nhiên, một nền giáo dục có nhu cầu cao sẽ trở thành nền tảng cho sự tăng trưởng kinh tế tiếp theo. Kết quả là đến đầu thế kỷ 21, tỷ lệ nhân lực có trình độ đại học trong lực lượng làm thuê ở EU là 20,6%, trong Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) là 27,4%, còn ở Mỹ là 34,8% và ở Liên Xô (thời điểm trước sụp đổ) là 29,2%.

Để giữ được những chỉ tiêu như vậy chỉ cần một hệ thống giáo dục gọn gàng, hiệu quả, không dàn trải nhân lực và tài nguyên. Một hệ thống giáo dục thực sự hấp dẫn đối với người trẻ.

Thời kỳ Liên Xô, học vấn đại học vẫn còn khá có uy tín, chưa đến mức phổ cập cho từng người và tất cả, học vấn đại học vẫn ước định một vị thế xã hội nhất định. Liên Xô vào thời kỳ Đổi mới sôi động nhất thì tỷ lệ sinh viên vẫn chỉ xấp xỉ 1,8% dân số.

Ở nước Nga hiện nay tỷ lệ cân bằng hợp lý này đã bị phá vỡ. Từ năm 1992 đến 2008, số lượng các trường đại học đã tăng từ 623 lên 1.130 (gấp 1,8 lần). Tổng số sinh viên chỉ tính riêng chính khóa đã lên đến 3,45 triệu, chiếm 2,7% dân số nước Nga. Kết quả là trước khủng hoảng năm 2008- 2009, nước Nga đã vươn lên… vị trí số một về tỷ lệ nhân lực có trình độ đại học trong lực lượng làm thuê: 50,4%, so với 35,7% ở Mỹ, 34,3% ở Thụy Sĩ, 28,1% ở Đức, 24,4% ở Malaysia và 17,2% ở Brazil.

Đồng thời phải nhớ rằng năm 2016, GDP trung bình trên đầu người/năm của nước Nga thua Mỹ 6,43 lần (57.436 USD / 8.928 USD), thua Thụy Sĩ 8,87 lần (79.242 USD / 8.928 USD), thua Đức 4,69 lần (41.902 USD / 8.928 USD), thua Malaysia 4% (9.360 USD / 8.928 USD) và hơn Brazil có 2% (8.727 USD / 8.928 USD). Chẳng hiểu nước Nga cần một nền giáo dục “hoành tráng” như vậy để làm gì? Đối với riêng tôi, đó quả là điều bí ẩn.

Tình trạng cán bộ giảng dạy đại học còn đáng kinh ngạc hơn nữa. Hiện nay, khoảng một nửa số các giáo sư giảng dạy đại học tại thời điểm Liên Xô sụp đổ đã nghỉ hưu hoặc đã mất. Khoảng 15% trong số đó đã di cư ra nước ngoài. Số còn lại đang gần đến tuổi về hưu. Đội ngũ các nhà khoa bảng mới hiện đang giảng dạy đại học, với tư cách nhà khoa học trưởng thành vào những năm 1990, thời điểm mà kiến thức và học vấn mất giá cực đại nhất. Thêm vào đội ngũ này là vô số các tiến sĩ, tiến sĩ khoa học, những quý ông, quý bà mà “Mạng Internet luận án tiến sĩ toàn cầu” trông thấy là khóc thầm.

Một trường hợp điển hình, trong những năm 2000, khu Bắc Caucasus (một vùng các dân tộc thiểu số ở phía Nam nước Nga - ND) đã sản xuất ra số lượng tiến sĩ và tiến sĩ khoa học nhiều hơn cả Sankt-Peterburg (dù rằng trong giới khoa bảng Sankt-Peterburg cũng không ít chuyện thú vị). Sự kiện này nói lên rất nhiều điều về nền học thuật khoa bảng Nga hiện nay.

Trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục Nga có nhiều cố gắng cải tổ hệ thống giáo dục, bắt đầu bằng việc đưa ra những yêu cầu bổ sung khắt khe hơn về thành tích khoa học đối với đội ngũ giảng viên đại học. Phản ứng đáp lại những đòi hỏi này là một hiện tượng duy nhất trên thế giới về việc bùng nổ những công bố “khoa học” giả mạo (the fake scientific publications), đăng trong các tạp chí “được kiểm duyệt”, và được đưa một cách bí ẩn vào Hệ thống trích dẫn khoa học Nga (Russian Science Citation Index) và các hệ thống trích dẫn khoa học khác. Ngoài ra là hàng trăm “cuộc hội nghị khoa học từ xa” và những hình thức sáng tạo khác để tạo dựng một vẻ ngoài của hoạt động khoa học trong một số trường đại học (còn về việc hầu hết các quan chức đều là “những nhà khoa học lớn”, tôi thậm chí xin miễn bàn).

Một phép tính đơn giản cho thấy, để nước Nga có tỷ lệ nhân lực trình độ đại học trong lực lượng làm thuê tương đương Mỹ, các trường đại học Nga có thể yên tâm không đào tạo thêm bất cứ một chuyên gia nào liền trong vòng… 12 năm.

Để các giáo sư và giảng viên đại học của chúng ta có chỉ tiêu về số lượng công bố khoa học/chuyên gia bằng chỉ tiêu này của Pháp (một quốc gia không quá xuất sắc về chỉ tiêu này) và căn cứ vào số lượng công trình và đầu sách khoa học công bố hàng năm hiện nay ở Nga, chúng ta phải giảm số lượng các nhà khoa học Nga đi 7 lần. Vì vậy, có thể mạnh dạn giảm 10.400 và thậm chí là 70.000 giảng viên trong khu vực giáo dục đại học, mà theo tôi không dẫn đến bất cứ hậu quả nghiêm trọng nào.

Việc giảm 40% chỉ tiêu tuyển sinh đại học diện ngân sách cũng là một biện pháp hết sức đúng đắn (nên đi kèm với việc hạn chế đáng kể số lượng đại học tư thục). Những biện pháp này bảo đảm việc tăng cường sự cạnh tranh và việc xuất hiện ở các trường đại học nhiều sinh viên xứng đáng và có động lực hơn hẳn hiện nay.

Nếu nhận định một cách tổng thể, có lẽ nước Nga cần một cuộc cải cách giáo dục triệt để kéo dài khoảng 10-15 năm. Một cuộc cải cách trước hết dự trù việc từ bỏ dần dần hệ đào tạo trả tiền, đồng thời phải song song tiến hành cải cách cơ bản cơ chế đầu tư tài chính của các trường tổng hợp quốc gia tốt nhất. Đúng đắn hơn cả là phải xây dựng những Quỹ quyên tặng (endowment fund) lớn trong các trường này, sao cho các trường có thể nhận được kinh phí để phát triển từ những quỹ này. Sao cho khả năng tiếp cận nguồn kinh phí không phụ thuộc vào số sinh viên và tỷ lệ “những sinh viên trả học phí”, mà phụ thuộc vào các chỉ số đánh giá chất lượng hoạt động của nhà trường. Trong tương lai, nguồn kinh phí của nhà trường còn phụ thộc cả vào những cựu sinh viên thành đạt, có thể hy sinh một phần tài sản của mình vào những quỹ này.

Ngoài ra, cũng cần cấm mọi hình thức kiêm nhiệm đối với các giáo sư và giảng viên đại học (ngoại trừ những trường hợp hãn hữu đọc bài giảng hoặc khóa học “khách mời”), để xây dựng một bức tranh thực về thu nhập của đội ngũ giảng viên ở trường đại học này hay khác và khởi động cơ chế cạnh tranh chức vụ học hàm trong trường.

Mặt khác, cần tiến hành thanh tra toàn diện các trường đại học và bắt đầu quá trình tinh giản, “giải trừ” mỗi năm khoảng 5%-10% khối lượng sinh viên. Đầu tiên, nên bắt đầu công việc từ các trường đại học thành phố nhỏ: việc đào tạo sinh viên chỉ hiệu quả ở những nơi có mật độ cao những nhà nghiên cứu và các giảng viên hàng đầu (việc cố gắng xây “những tập thể tầm cỡ quốc tế” ở từng trung tâm tỉnh lẻ là một sự phân tán sức lực và hạ thấp chuẩn mực đại học một cách vô nghĩa).

Cũng không cần phải cố gắng kéo giáo dục đại học đến với toàn dân, mà nên sử dụng nó như một công cụ dịch chuyển lãnh thổ, góp phần hình thành một tầng lớp người trẻ tự lập, sẵn sàng thay đổi nơi cư trú, thay đổi những hành xử khuôn mẫu quen thuộc để có được một nền giáo dục chất lượng tốt.

Ở nước Nga hiện nay, trong thái độ đối với giáo dục có sự xung đột giữa cách tiếp cận “kinh tế” với cách tiếp cận “phổ quát” và hiện thời cách tiếp cận “phổ quát” đang thắng thế. Kết quả là hằng năm có hàng triệu người đi lạc khỏi khu vực hoạt động sản xuất thực tiễn, nguồn sống của đất nước. Nhà nước, các tập đoàn và nhiều cá nhân đang tiêu tốn mỗi năm vài chục tỉ rúp vào một hoạt động, mà trong hoàn cảnh cụ thể hiện nay của nước Nga, không chỉ vô nghĩa mà còn phản tác dụng.

Khi mở rộng một cách giả tạo khả năng cung ứng nhân lực “lành nghề”, chúng ta phá hủy cơ chế cạnh tranh lành mạnh, làm suy kiệt khu vực kinh tế thực và phóng đại những hình dung của thanh niên về các điều kiện trong cuộc sống tương lai, gây ảo tưởng cho họ.

Như kinh nghiệm thực tiễn thế giới cho thấy, thậm chí những nước giàu có nhất, có khả năng cạnh tranh cao và thành công nhất về công nghệ cũng không quá “học thức” đến mức như nước Nga, một đất nước đang chìm dần xuống thế giới thứ ba.

29-8-2017

TRẦN CÔNG TÂM dịch từ nguyên bản tiếng Nga (http://worldcrisis.ru)

 

LỜI BÀN THÊM

Tình hình đào tạo tiến sĩ ở Nga như thế là đáng báo động và bài báo trên đây là một sự cảnh báo cần thiết, cấp thiết. Ở ta, có lẽ vấn đề còn nghiêm trọng hơn, đáng báo động đỏ. Dư luận đã lên tiếng nhiều (gần đây, có các bài báo đáng chú ý trên mạng Internet, như của GS-TS Trần Văn Thọ…). Điển hình là việc đào tạo tiến sĩ ở Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Ở một viện hàn lâm, nơi tiêu biểu cho tinh hoa trí tuệ của cả nước mà còn ra nông nỗi ấy, thì thử hỏi các nơi khác, sẽ ra sao? Không nói cũng biết. Cho nên, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị chấn chỉnh việc đào tạo tiến sĩ.

Việc đào tạo 20.000 tiến sĩ (trong và ngoài nước), trong khi chưa đánh giá đầy đủ lực lượng (thầy hướng dẫn), điều kiện (thời gian làm luận án)… là không khả thi (bản thân việc cho đào tạo tiến sĩ ở trong nước là đúng, nhưng lại làm ồ ạt, xô bồ, chạy theo số lượng). Ta làm gì có nhiều thầy trình độ khoa học cao, do nhiều nguyên nhân; thầy đã không đủ điều kiện hướng dẫn, dù có đủ tiêu chí bằng cấp do chính sự đào tạo lỏng lẻo, hình thức… thì làm sao có trò đủ điều kiện. Học viên (nghiên cứu sinh) lẽ ra phải tuyệt đối tập trung thời gian trong ít nhất 3 năm để nghiên cứu, để làm luận án, thì thực tế là làm “tại chức”, vừa công tác vừa làm. Các Hội đồng chấm luận án chưa nghiêm, chưa đúng chuẩn, sẵn sàng nể nang, cho qua (nể nang thầy hướng dẫn - để “dễ người dễ ta” khi đến lượt mình, nể cả nghiên cứu sinh do có tiêu cực trong quá trình làm luận án, bảo vệ luận án…). Tiến sĩ “giấy” do đó mà đầy rẫy, làm mất giá trị học vị ấy.

Cũng cần nói thêm, học vị tiến sĩ là tấm bằng xác nhận rằng người có tấm bằng đó có thể bước chân vào con đường nghiên cứu khoa học (gian khổ, lâu dài…), chứ không hề xác nhận một trình độ để làm quản lý hành chính. Quản lý hành chính không cần bằng tiến sĩ làm gì, bởi nó không liên quan! Tiến sĩ là bước khởi đầu của một chuyên môn sâu riêng biệt, đặc thù… Giáo sư là chức danh đi dạy học, chức danh cao nhất, nhưng nó cũng thế, cũng không liên quan gì đến quản lý. Nên có quy định dứt khoát cấm những ai làm quản lý mà lại đi học tiến sĩ và có hàm giáo sư, vì vô ích. (Bill Clinton chỉ tốt nghiệp cử nhân Luật ở Đại học Yale, Tập Cận Bình tốt nghiệp Đại học Thanh Hoa… mà quản lý được cả Hoa Kỳ, Trung Quốc đó thôi!).

Vì lẽ đó, chúng tôi xin kiến nghị: Chính phủ nên cho dừng ngay lại việc đào tạo tiến sĩ theo kiểu này. Có lẽ đã quá tải tiến sĩ rồi, và càng quá tải thì hiện tại và tương lai văn hóa, giáo dục Việt Nam càng xuống cấp, uy hiếp nghiêm trọng cái gọi là “hạ tầng trí tuệ” của đất nước. Không có một đại học nào ở ta được xếp hạng ở khu vực và quốc tế, chứng tỏ điều đó!

Xin dừng ngay lại cho, kiểm tra, kiểm điểm lại đầy đủ, rồi đặt ra chất lượng mới, cách làm mới, làm thận trọng, không theo số lượng. Còn số tiến sĩ đã đào tạo thì phải có cách “đào tạo lại”, kiểm tra lại.

Với đào tạo thạc sĩ ồ ạt hàng trăm ngàn, có trường biến nó thành chỗ “doanh thu” lợi ích, thì lại càng nên dừng, chấn chỉnh, kẻo rồi thạc sĩ biến thành tiểu sĩ!

Chúng ta không vơ đũa cả nắm. Trong số tiến sĩ, thạc sĩ được đào tạo, có nhiều người giỏi, do bản thân nghiêm túc, cố gắng và đã có đóng góp cho giảng dạy, nghiên cứu khoa học. Nhưng số đó quá ít. Nếu cần ước tính võ đoán, thì là độ 1/3.

HỒN VIỆT

 

  • PArner Honvietquochoc
  • Viet nam air
  • free hit counter script