HV124 - Lòng yêu nước Việt Nam đậm tính nhân văn* - Bài 2: “Tôi thanh thản nhận án tử hình”

21 Tháng Ba 2018 4:35 CH
PHAN QUANG

Bookmark and Share

Hình ảnh của HV124 - Lòng yêu nước Việt Nam đậm tính nhân văn* - Bài 2: “Tôi thanh thản nhận án tử hình”

Ánh hào quang bao phủ một con người

Đối với người Pháp và nhiều học giả phương Tây, GS Paul Mus là ngôi sao tỏa sáng về Việt Nam học và văn minh nhiều nước châu Á thế kỷ 20. Nhà sử học René Grousset (1885-1952), Viện sĩ hàn lâm Pháp, chuyên gia về châu Á, gọi Paul Mus là “một gương mặt lớn” của Pháp về Viễn Đông học, “một trí tuệ phong phú đến mức khó tin”; triết gia Paul Masson-Oursel (1882-1956), giáo sư Trường cao học thực hành Paris, nói “luồng ánh sáng từ con người Paul Mus đã làm rạng tỏa nền Đông phương học của Pháp đang thời xuống cấp”; học giả Guy Moréchand (1923-2002), thành viên Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp, gọi Paul Mus là “người dẫn dắt có một không hai cho bất kỳ ai muốn tìm hiểu các nền văn minh châu Á muôn màu sắc”; nhà dân tộc học George Condominas (1921-2011), người chào đời tại thành phố cảng Hải Phòng từ người cha Pháp và bà mẹ mang nửa dòng máu Việt trong người, tác giả công trình nghiên cứu khoa học mà tràn đầy chất văn chương về người M’Nông Tây Nguyên nước ta: Chúng tôi đã ngốn hết rừng xanh, ca ngợi “trí nhớ diệu kỳ đến mức khó tin” của Paul Mus, “một trong những nhà Đông phương học lớn nhất hiện nay”, và coi tác phẩm Việt Nam, xã hội học về một cuộc chiến tranh là “một trong những công trình quan trọng nhất cho bất kỳ ai tìm hiểu nước Việt Nam trong lịch sử và hiện tại”; trong khi nhà báo - nhà văn Jean Lacouture (1921-1915), người chủ trì việc xuất bản tác phẩm của hai thầy trò, đơn giản gọi đó là một “cuốn sách bậc thầy” (un maitre-livre)...

Mọi lời ca ngợi Paul Mus đều có căn cứ. Ông là một người thông tuệ, thành thạo tiếng Việt, lại giỏi chữ Hán, tiếng Sanskrit (Phạn), tiếng Tây Tạng. Ông là người đầu tiên nghiên cứu di tích Borobudur, quần thể chùa Phật giáo lớn nhất hành tinh, nằm giữa lòng nước đông tín đồ Hồi giáo nhất thế giới là Indonesia, qua công trình khoa học dày hơn 1.100 trang sách, in lần đầu tại Hà Nội và Mỹ năm 1935, tái bản năm 2007. Ông có hơn 100 công trình khoa học, đã in thành sách, công bố trên báo hoặc chưa xuất bản. Ông biết vượt qua rào cản của các khoa học chuyên ngành, không quan tâm các đường biên giới quốc gia đương đại, bằng phương pháp so sánh học ông tiếp cận các nền văn minh đa dạng ở châu Á với tầm nhìn xuyên quốc gia. Là thành viên lâu năm của Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp, ông là đồng sự của các nhà trí thức lớn Việt Nam như Nguyễn Văn Tố, Trần Văn Giáp, Nguyễn Văn Huyên… Xuất phát từ nền kiến thức rộng về cổ học, Paul Mus đề cập, lý giải và đề xuất giải pháp cho những vấn đề thời sự bức xúc, mà nổi bật hơn cả là cuộc chiến tranh do Pháp gây nên tại nước ta sau ngày Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, kéo dài chín năm, gấp đôi chiến tranh thế giới thứ hai. Cuối cùng Pháp thảm bại vì họ không hiểu nổi thực chất nền văn minh Việt Nam và cốt cách con người Việt Nam qua mấy ngàn năm lịch sử.

Paul Mus có một thế mạnh nữa mà ông tự hào là ông coi mình như người con của hai nền văn hóa Pháp và Việt Nam. Georges Condiminas kể lại, ông và Paul Mus từng có nhiều buổi chụm đầu tán gẫu như “hai đứa trẻ con ra đời trên cùng một xứ sở”. Paul Mus trăn trở tìm lời đáp câu hỏi ông tự đặt ra về căn cước của mình: “Tôi còn biết coi đất nước này, khu phố này là gì ngoài nó là đất nước tôi, khu phố của tôi?”. Ông nhắc lại với bao tình cảm mến thân những người Việt Nam đã chăm sóc ông từ tuổi ấu thơ cho tới lúc thành niên tại một khu phố Hà Nội dành cho những người Pháp trung lưu, “những người da trắng nhỏ” (les petits blancs), nhằm phân biệt với “những người da trắng lớn” là các quan cai trị thực dân đầy quyền uy và tàn bạo. Đó là chị nấu bếp, anh giúp việc nhà, đặc biệt bà bảo mẫu của ông: “Một khuôn mặt từ trên cao nghiêng xuống tuổi thơ tôi, và đó cũng chính là nơi ẩn náu của tuổi thơ tôi, khuôn mặt ấy đã chăm bẵm cho tôi đủ mọi thứ, đã kể cho tôi nghe nhiều chuyện cổ tích Việt Nam”. Ông còn nhớ năm ông lên sáu, một lần bà đốt nén nhang ấn vào bàn tay ông, dạy ông cách vái lạy tổ tiên trước khi cắm nhang lên bàn thờ (chắc đặt trong nhà bếp của ông chủ).

Ông học Trường trung học Bảo hộ (trước gọi Trường Bưởi, nay là Trường trung học phổ thông Chu Văn An) trước khi về Pháp học tiếp bậc đại học. Nhiều bạn học người Việt cùng lớp với ông, vẫn lời Paul Mus, sau này sẽ trở thành những nhà trí thức tham gia điều hành cuộc kháng chiến chống Pháp dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một thầy học của ông ở Trường Bưởi là thân sinh nhà sử học Lê Thành Khôi, tác giả cuốn Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến giữa thế kỷ 19 mà Paul Mus sẽ nhiều lần tham khảo. Những nhân tố trên góp phần làm cho Paul Mus trở thành một nhà bác học về Đông phương học “có một không hai”, như lời tiểu dẫn của Guy Moréchand tại phần Nhân sự Trường Viễn Đông Bác cổ, Hà Nội.

Theo nhà nhân học Laurent Dartigues, năm 1952 cuốn Việt Nam, xã hội học về một cuộc chiến tranh của Paul Mus phát hành, không gây được tiếng vang lớn tại Pháp chủ yếu do bối cảnh chính trị lúc bấy giờ. Dù bị sa lầy tại Việt Nam, nhà cầm quyền Pháp vẫn nuôi ảo tưởng giành chiến thắng bằng vũ lực bất cứ với giá nào, trong khi cuốn sách của nhà bác học lại đề xuất giải pháp hòa hợp hai nền văn minh, trái hẳn quan điểm của giới đang nắm quyền lực, trong khi giới khoa học Pháp lại đồng loạt ngợi ca tác phẩm, hầu như không ai có ý kiến phản biện.

Ngẫm về lòng yêu nước của người Việt

Paul Mus dành hẳn một chương trong cuốn Việt Nam, xã hội học về một cuộc chiến tranh... để luận bàn về Lòng yêu nước Việt Nam (Patriotisme Viêtnamien - từ Viêt có dấu mũ và viết hoa, dù tiếng Pháp không có dấu nặng và tính từ không viết hoa).

“Để tránh những sai lầm mà biết bao người trong chúng ta, bao gồm những người giỏi nhất, khi cứ một mực hết năm này qua năm khác tuyên bố cuộc Kháng chiến [của người Việt Nam] sắp sụp đổ tới nơi [từ Kháng chiến, ông viết hoa] hay là không còn có bất kỳ vấn đề quân sự nào nữa tại đất nước ấy, chúng ta cần phải tính đến tính kiên trì của người Việt. Ở những người đang chiến đấu chống lại chúng ta, đức tính kiên trì hiện hữu trong tầng lớp những người trí thức và thuộc về bản năng trong đông đảo những người từng chiến đấu cả ngàn năm chống ách đô hộ của nước láng giềng phương Bắc. Cuộc chiến lâu dài chống phong kiến Trung Hoa đã chuẩn bị cho người Việt Nam con đường tiếp cận nước Pháp ngày nay, hòa quyện thái độ không dung tha kẻ xâm lược và khả năng thích ứng với tình hình. Không dung tha sự thống trị của nước ngoài, thích ứng về văn hóa nếu nền văn hóa ngoại lai ấy hàm chứa giá trị phổ biến toàn cầu”.

Đến đây GS Paul Mus lý giải tính cách người Việt Nam mà theo ông, bắt nguồn từ thấm nhuần kinh sách Khổng, Mạnh với thuyết thái cực và âm dương, ngũ hành và phong thủy, thân phận mỗi con người và mệnh trời ban cho đất nước... Đọc tới đây, những độc giả học vấn tầm tầm nhưng không xa lạ với phong tục ở các làng quê ta thời trước như chúng tôi bỗng cảm thấy... thế nào ấy, giữa những luận giải hàn lâm và thực tế cuộc sống có cái gì đó hơi vênh. Tác giả kể một câu chuyện ông chứng kiến: Có mỗi một việc bình thường là chặt bớt cành lá một cây đa cổ thụ trong công viên nọ. Vậy mà người Việt Nam vẫn muốn cầu xin sự chấp thuận của trời qua việc xin quẻ: gieo xuống chiếc đĩa hai đồng tiền một mặt sẫm màu, một mặt bôi vôi trắng. Lần ấy, bốn lần xin quẻ vẫn chưa được trời chấp thuận. Vậy là nhà cầm quyền thuộc địa, trong trường hợp này chỉ là một viên cai lục lộ, để thực thi lệnh của quan trên, đã cho người chặt bớt cành đa. Dân đành bó tay. Nhưng họ tin là ngay trong năm nay, thế nào rồi làng ta cũng xảy ra việc tang ma, có người đau ốm, chứng tỏ trời đất bất bình. Paul Mus lý giải: những việc như trên trong cuộc sống thường ngày đã không ngừng củng cố niềm tin của người Việt vào số phận và mệnh trời.

Đất nước Nam dân Nam ở

GS Paul Mus kể tiếp: Tại tạp chí Revue Indochinoise xuất bản năm 1902, một tác giả ký bút danh Raquez có thuật lại câu chuyện sau đây qua lời của một giáo sĩ Dòng Tên đi truyền đạo Thiên Chúa tại miền Tây Nam Bộ. Lần ấy, giáo sĩ có việc cần vượt qua sông nước mạn Long Xuyên. Khó khăn lắm ông mới tìm được chiếc thuyền do một vị hào mục trong làng bằng lòng chở giúp, và đích thân lái thuyền. Người bản xứ ấy có vẻ như đang nóng lòng muốn hỏi vị giáo sĩ nước ngoài một điều gì đấy nhưng vẫn e ngại. Sau một hồi trò chuyện, bạo dạn dần lên, anh nói: “Thưa Cha, con nghĩ là con có thể tin cậy ở Cha, rồi Cha sẽ không nói lại với quan Đốc sứ những điều con muốn được hỏi Cha hôm nay: Xin Cha nói thật cho con biết, người Pháp sẽ còn ở lại xứ này bao lâu nữa?”. Thấy giáo sĩ tỏ vẻ ngạc nhiên, người kia nói tiếp: “Cha không muốn nói ra nhưng con tin chắc là Cha biết hết mọi thứ. Liệu sau một hay hai năm nữa, người Pháp có ra đi khỏi xứ này?”.

Và Paul Mus bình luận: Chúng ta cần hiểu đúng, sự “ra đi” ở đây mang ý nghĩa gì đối với những người đang nóng lòng chờ đợi. Ra đi là kết thúc sự thống trị người nước ngoài áp đặt lên đất nước họ, thực hiện tước đoạt chủ quyền của họ, loại bỏ các thiết chế quốc gia của họ vốn được trời ban. Có như thế chúng ta mới có thể hiểu sâu thái độ cởi mở của những người dân địa phương trước khả năng hòa giải giữa hai bên đối địch, thể hiện qua một bản cáo yết được những người nổi dậy trang trọng dựng lên bên bờ sông Gò Công(1) nhằm mục đích dành cho quân Pháp đọc. Trong một chuyến tuần tra dọc theo các sông rạch Nam Bộ năm 1862, trung tá thủy quân Meynier nhìn thấy đã sai lính tháo gỡ bản cáo yết mang về trình cấp trên. Bản cáo yết ấy cũng đã được chuẩn đô đốc Réveillère dẫn toàn văn trong một bài nghiên cứu công phu của ông đăng trên tạp chí Revue indochinoise năm 1902, nhan đề Lòng yêu nước của người An Nam.

Xin tóm lược sau đây nội dung chính của bản cáo yết (dịch trở lại từ bản tiếng Pháp):

“Tất cả dân cư tỉnh Gò Công đều nhất trí với tuyên bố dưới đây.

Đất nước các ông ở mãi bên trời Tây, xứ sở chúng tôi nằm sát biển Đông. Các ông khác biệt chúng tôi như con ngựa khác con trâu; từ tiếng nói, chữ viết đến phong tục chúng ta đều khác nhau. Con người trên đời này từ thuở xa xưa vốn sinh ra từ nhiều nòi giống khác nhau, nhưng bất

 kỳ ở đâu con người cũng có chung giá trị dù bản tính họ không giống nhau. Nếu các ông cứ một mực mang thép và lửa đến đất nước này, cuộc hỗn loạn sẽ kéo dài nhưng chúng tôi nhất quyết làm theo mệnh trời. Chính nghĩa của chúng tôi cuối cùng sẽ thắng (...). Các ông đánh chiếm các tỉnh của chúng tôi là nhằm mở rộng lãnh thổ, tăng thêm danh tiếng cho đế quốc của các ông chứ gì? Vậy các ông có muốn nhận một khoản tiền bồi thường? Chúng tôi sẵn sàng trả khoản bồi thường với điều kiện các ông rút hết quân về nơi các ông đang đồn trú. [Được như vậy] chúng tôi sẽ biết ơn các ông, trời đất thấu hiểu các ông. Trong trường hợp ngược lại, chúng tôi thề chiến đấu tới cùng chống các ông. Rồi một mai đây, [cuộc kháng chiến kéo dài, phải lâm vào cảnh] thiếu thốn mọi thứ, chúng tôi vẫn cứ giương cao nhánh lá cây rừng thay cây cờ hiệu, bẻ cành cây rừng làm vũ khí chiến đấu chống lại các ông. Trong tình hình ấy, làm sao các ông có thể sống nổi với chúng tôi?

Mong các ông xem xét yêu cầu chúng tôi đề xuất ở trên mà chấm dứt tình trạng thảm hại cho lợi ích của cả đôi bên chúng ta như hiện nay”.

“Chúng tôi sẽ dựng bia đá khắc công ông”

Từ những kỷ niệm tuổi ấu thơ, GS Paul Mus luôn dành tình cảm thắm thiết mỗi lần nói đến những người dân quê Việt. Ông kính trọng các sĩ phu, mặc dù với thời gian, các thế hệ trẻ Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 có điều kiện tiếp cận nền văn minh phương Tây sẽ thay đổi dần cách nhìn, nhưng tại các vùng thôn quê, truyền thống xưa tồn tại vững bền. Ông viết:

“Ngay cả ở một môi trường rất cấp tiến là Trường trung học Bảo hộ do cha tôi điều hành, tiền đề tạo lập nên các trường đại học của nước Việt Nam ngày nay, nơi lớp bạn bè của tôi thuộc thế hệ người Việt đầu tiên được truyền dạy bài bản về văn minh và tư tưởng phương Tây, qua những kỷ niệm thời niên thiếu, cho đến nay tôi vẫn còn nhớ như in ánh hào quang mọi người cùng dành cho thầy Đức, thầy dạy chữ Hán của chúng tôi, một con người mảnh khảnh và nho nhã, đơn giản vì ông là một cựu tù chính trị từng lĩnh án tử hình.

Ấy là vào những năm 1910 tại Bắc Kỳ. Ba mươi năm sau, năm 1946 tại Nam Kỳ, tôi lại nhìn thấy ánh hào quang ấy qua những lời trao đổi giữa hai người Việt Nam với nhau, một người cao tuổi bị bắt quả tang tay đang cầm vũ khí - thứ vũ khí thô sơ thật đấy nhưng rất nguy hiểm cho quân ta - và viên thẩm phán vừa tuyên án xử tử ông già.

Viên công chức nói: ‘Tôi đã mạnh tay đối với bác nhưng tôi luôn giữ tình người với bác. Tôi chỉ làm nhiệm vụ của mình chứ không hề căm ghét bác. Tôi muốn được hiểu rõ hơn một chút. Nhìn bác bề ngoài có vẻ một nhà Nho. Vậy tại sao bác lại quấy rối trị an, phạm tội giết người [giết lính Pháp], để giờ đây phải chịu tội chết? Bác là người có học, tại sao bác lại kéo bọn trẻ vào cuộc phiêu lưu này? Các đối thủ của chúng ta dùng toàn vũ khí hiện đại, họ có xe tăng, đại bác, máy bay, họ đã đánh thắng quân Đức. Trong khi quân của bác chỉ có dao và gậy. Bác đã tự tìm lấy cái chết, một cái chết vô tích sự’. Người tử tù cao tuổi đáp: ‘Không can chi. Đúng là tôi chết mà chưa làm được gì. Nhưng tôi có một đứa con trai, nó sẽ noi gương tôi. Nếu nó có bỏ mạng mà cũng vẫn chưa làm được gì, cũng chẳng hề chi. Rồi đến lượt thằng cháu nội của tôi, nó sẽ chiến đấu và sẽ được tận mắt nhìn thấy đất nước tôi thoát khỏi ách ngoại xâm. Tôi thanh thản nhận án tử hình’”.

Kể đến đây, GS Paul Mus ngẫm ngợi:

“Tám mươi bốn năm - tính từ 1862 đến 1946 - một quãng thời gian ngắn trong lịch sử dài của một đất nước đã từng nghìn năm chiến đấu chống Bắc thuộc, thật xúc động khi nghe người tử tù lặp lại lời những người nổi dậy năm xưa tại tỉnh Gò Công qua nội dung bản cáo yết dựng bên bờ sông cốt cho người Pháp đọc. Tôi nghĩ, không có cách nào khác để gọi hành động người cao tuổi [vừa bị kết án tử hình] ấy đã làm trừ phi coi đó là một cuộc kháng chiến đích thực (une authentique résistance) bởi nó nhằm mục đích cứu tính mạng và phẩm giá con người mà không nề hy sinh thân xác bản thân. Chủ nghĩa yêu nước của người Việt Nam là chủ nghĩa nhân văn đích thực. Nếu chúng ta cứ khăng khăng chống lại chủ nghĩa yêu nước ấy thì tuyệt nhiên không có bất cứ cơ may lịch sử nào cho những kẻ trong hàng ngũ chúng ta cứ luôn miệng rêu rao cuộc kháng chiến của người Việt Nam chống Pháp là chủ nghĩa khủng bố.

Như vậy, có phải chúng ta chỉ còn có mỗi một con đường: thu xếp để sớm cuốn gói ra đi? (...) Người Pháp chúng ta có cái tệ là mỗi lần nói đến lòng yêu nước của người Việt Nam lại làm ra vẻ khinh khi. Cách nhìn như vậy trong bối cảnh hiện nay, thử hỏi có khác gì chủ nghĩa sôvanh nước lớn?

“Hãy chấm dứt tình trạng thảm hại đến lợi ích của chúng tôi cũng như lợi ích của các ông. Được như vậy chúng tôi còn biết ơn các ông là khác”. Năm 1862, những người nổi dậy ở tỉnh Gò Công đã cảnh báo người Pháp như vậy. Gần một thế kỷ sau - khoảnh khắc cách nhau ba thế hệ người đời - cuối năm 1945, khi tướng Leclerc cho đổ quân lên thành phố Sài Gòn, ông đã nghe một người Việt Nam nói với ông: “Thưa tướng quân, người Pháp đã dựng nhiều tượng đài tại những nơi ông đánh thắng quân Đức. Người Việt Nam chúng tôi sẽ tạc bia đá khắc công ông ở những nơi không bị ông biến thành chiến địa tại đất nước này” - và tôi [Paul Mus] cảm thấy người chiến binh vĩ đại của chúng ta đã hiểu ngay câu nói của người Việt Nam kia, tướng Leclerc thông minh xuất sắc hơn rất nhiều so với các nhà hoạch định chiến lược của chúng ta lúc nào cũng cứ ngồi ru rú trong phòng riêng mà ban hành các mệnh lệnh”.

(Còn tiếp một kỳ)

 

_____

* Xem Hồn Việt từ số 123 (tháng 3-2018).

(1) Chắc tác giả chỉ cuộc kháng chiến chống Pháp do nhà yêu nước Trương Định chỉ huy từ bản doanh “Đám lá tối trời” của ông. Sử chép: Ngày 5-6-1862, triều đình Huế ký hòa ước với Pháp, Trương Định từ chối thư dụ hàng của tướng Pháp Bonard, bất chấp chiếu bãi binh do Phan Thanh Giản truyền mà rút quân về Gò Công tiếp tục chiến đấu. Ngày 16-12-1862, ông ra lệnh tấn công các vị trí của Pháp ở ba tỉnh miền Đông Nam Bộ... Bị cấp dưới phản bội, ông bị Pháp đánh úp bắt sống ngày 19-8-1864. Để bảo toàn khí tiết, ông rút gươm tự sát tại Ao Dơi.

  • PArner Honvietquochoc
  • Viet nam air
  • free hit counter script