HV138 - Thơ - Những địa danh trên đầu tôi

30 Tháng Sáu 2019 3:24 CH
ĐỖ TRUNG LAI

Bookmark and Share

Hình ảnh của HV138 - Thơ - Những địa danh trên đầu tôi

Yên Tử

Sớm, vào chơi Yên Tử

Chiều, chưa đành rời chân

Hỏi ai người lục thức

Hỏi ai người lục căn

Hỏi ai người hiếu tử

Hỏi ai người minh quân

Hỏi ai người nghiêm phụ

Hỏi ai người thiền nhân

Hỏi ai là thi sĩ

Hỏi ai ngang thánh thần

Không người, đành hỏi gió

Gió thổi vào Trúc Lâm.

 

Mũi Cà Mau

Nước, gió, cây, mây

Miền Tây Nam Bộ

Đi vào mênh mông

Dạ này chợt ngộ

Thấy một cây tàn

Trăm ngàn cây nở

Biết đón triêu dương

Từ trong nhật mộ

Thấy biển lui dần

Ba bề sóng vỗ

Biết đem bùn hoang

Làm nên quốc thổ

Nhìn kiếp lênh đênh

Cùng con xuồng nhỏ

Biết ta ở đời

Là hoa là cỏ

Nhìn sông lở bồi

Cánh chim bạt gió

Biết không ai người

Ra ngoài bể khổ

Rượu đong ly đầy

Đờn ca một trổ

Biết lấy tâm tư

Viết thành vọng cổ

Trông nước vơi đầy

Mây tan trong gió

Vỗ tay cả cười

Tang bồng hết nợ!

 

Bắc Giang

Sông Lục Nam mềm xanh

Thành Nhã Nam rắn rỏi

Rừng Lục Ngạn không biết đâu là cuối

Bắc Giang thu, nắng trải đón chân người.

Đồng nhỏ trong thung, mảnh ruộng chân đồi

Màu lúa chín tràn về tận cửa

Sông Thương đục, sông Thương trong muôn thuở

Gió rải đồng trong tiết hanh heo

Trung du thơm như khay mật ong chiều

Đến sỏi đá cầm lòng còn chẳng được

Ai hát khúc núi đồi thuở trước

Dẫu không đò, ta cũng phải sang ngang.

Vạt lúa chín Phồn Xương như dải khăn vàng

Buông thơm thắm bên ngực trần sơn nữ

Quân Đề Thám còn đang ngồi đâu đó

Dưới bóng rừng, bên hồ rượu mùa thu

Tay đã buông gươm súng tự bao giờ

Rượu men lá, tấm lòng như nhật nguyệt

Ta cảm khái vén tay tìm nhập cuộc

Bát rượu đầu, xin cạn với non sông

Non sông đau, hào kiệt chẳng cam lòng

Trời không tựa, anh hùng đành ôm hận

Thân về đất, tim hồng thành ngọc nát

Thành hoàng hôn thắm đỏ đất trời thiêng

Đất trời thiêng thơm danh tiếng hùm thiêng

Tượng Đề Thám sừng sững trời Yên Thế

Người khởi nghĩa, áo mang màu đất mẹ

Đầu quấn khăn vồ, râu cọp phất phơ bay

Xin cạn với riêng ông bát rượu thứ hai này

Giặc đã chạy, quốc thù xưa đã báo

Quanh đồn lũy, đá như nồi như đấu

Ngổn ngang nằm trong sắc cỏ mùa thu

Không phải đá đâu. Đó là những câu thề

đã hóa thạch - “Quyết không làm nô lệ!”

Lời thề đá, xưa xây thành đắp lũy

Vẫn nguyên lành dù lũy vỡ thành tan

Vẫn nguyên sinh trong cỏ nội hoa ngàn

Rồi sẽ lại gầm lên khi giặc đến

Bao trượng nghĩa mới nên bờ nên bến

Bát rượu thứ ba này, xin cạn với ba quân

Nắng nhuộm vàng cây, lúa trải đỏ đồng

Thu thắng trận, thu hòa đàm, thu thất thế

Thu chết tướng, thu tan quân, thu yên nghỉ

Thu lộng lẫy, thu hào hùng, thu giản dị

Chuốc rượu dưới quân kỳ, bao cung bậc thu qua.

Chuông thu không, rừng động dưới trăng già

Tiếng trống trận, tiếng tù và đã tắt

Nhưng tiếng hát thì không bao giờ chết

Tiếng hát giữa lòng người, tiếng hát giữa non sông

Rằng, “Muôn năm dòng máu anh hùng!”

Rằng, “Vạn tuế giống dòng hào kiệt!”

Thời gian trôi, thời gian trôi mải miết

Dạ ngọc gan vàng chói lọi giữa thiên thu.

Rượu Bắc Giang sóng sánh dưới trăng mờ

Bát này nữa, rồi xa miền cổ tích

Bát này nữa, nữa, nữa, nữa...

Rồi mỗi khi ấm lạnh

Môi dịu dàng, ta gọi: “Bắc Giang thu!”.

 

Chùa Hương

Em ạ! Mùa thu trang nhã thế

Vì năm nào, thu cũng qua chùa Hương

Sáu thôn(1), ngàn cửa then cài lỏng

Trùng Cửu(2), heo may trẩy ngập đường

Vạn đại phong sương hồn cổ thạch

Suối dài, mây hạc đến soi gương

Cá đợi nghe kinh là có thật

Mõ kình như gọi, như đưa đường

Nhẹ nhàng sóng động bên thuyền khách

Lòng người như lụa ướp trầm hương

Gác gió, chuông chùa buông đủng đỉnh

Sơn thủy đồng sàng cùng vô thường

Phật điện đồng môn tam - tứ phủ

Tục lụy xa dần, gần thiên lương

Lá chạm vai người dường tay bụt

Tán oan, phổ độ cả mười phương

Nâng lão mai trà là thu ẩm

Thiền đàm, phật pháp được hoằng dương

Nhớ bóng ngư ông qua cầu Hội

Trông trẻ lùa trâu qua hang Luồn

Nghe tiếng rừng mai sơn nữ gọi

Cần gì vạn thọ với vô cương

Em ạ! Mùa thu trang nhã thế

Vì năm nào, thu cũng qua chùa Hương.

 

(1) Hương Sơn gồm 6 thôn: Hội Xá, Đục Khê, Yến Vĩ, Phú Yên, Tiên Mai, Hạ Đoạn.

(2) Tết Trùng cửu (9-9 âm lịch) còn gọi là Tết Trùng dương. Vào ngày này, văn nhân - thi sĩ thường rủ nhau lên núi uống Hoàng hoa tửu (rượu Hoa cúc vàng), ngâm ngợi, thù tạc. Khi về thì đem theo thù du - những loại cành, dây hoa vàng thuộc họ cúc. Đó cũng là Tết Tiễn thu sớm của người phương Đông.

  • PArner Honvietquochoc
  • Viet nam air
  • free hit counter script