HV140 - Tôi gặp lại tuổi 25 trên đất Bắc

31 Tháng Tám 2019 12:48 CH
Nhạc sĩ LƯ NHẤT VŨ

Bookmark and Share

Hình ảnh của HV140 - Tôi gặp lại tuổi 25 trên đất Bắc

Cuối tháng 6 năm 2016, nhạc sĩ đồng hương Võ Đông Điền tặng tôi một đĩa CD gồm 4 ca khúc của tôi sáng tác trong những năm 60 ở Hà Nội. Bốn bài hát này được lấy từ Internet, đó là Chiều trên bản Mèo (1961), Hàng em mang tới chiến hào (1964), Ngợi ca anh hùng Trừ Văn Thố (1965) và Câu hò trên tuyến lửa Vĩnh Linh (1967). Đây là niềm vui quá bất ngờ không sao tả xiết.

Từ ngày 5-5-1961 đến 19-8-1961, Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức cuộc thi sáng tác ca khúc ngắn hạn “Gió Đại Phong - Sóng Duyên Hải - Cờ Ba Nhất”. Trường Âm nhạc Việt Nam cũng phát động ngành sáng tác thuộc các khóa hưởng ứng cuộc thi này. Tôi chọn viết về dân quân cùng bộ đội biên phòng ngày đêm bảo vệ biên cương Tổ quốc. Tôi đem bản ca khúc hợp xướng Chiều trên bản Mèo đến Đài Tiếng nói Việt Nam tại 58 Quán Sứ gặp nhạc sĩ Phạm Tuyên để nộp bài thi, lúc đó là 16 giờ 45 phút ngày 19-8-1961, nghĩa là trước hạn chót quy định chỉ 15 phút! Anh Phạm Tuyên vui vẻ nhận bài thi, nói với tôi: “Cũng may cho Vũ đấy!”.

Sáu tháng sau, Ban tổ chức cuộc thi công bố và phát giải tại rạp chiếu bóng Tháng Tám. Chiều trên bản Mèo được giải nhì, tiền thưởng là 85 đồng (thiếu 3 đồng nữa thì bằng 4 tháng học bổng của tôi).

Giữa năm 1962, Chiều trên bản Mèo với phần đệm của dàn nhạc giao hưởng nhà trường là tác phẩm tốt nghiệp của tôi.

Năm 2012, trong lời giới thiệu cuốn tự truyện Ngày ấy đã qua rồi, nhà văn Văn Lê viết: “Anh Năm của tôi là một nhạc sĩ mà tôi yêu quý từ cái thời còn là học sinh, xách đèn chai, đốt đuốc đi hô khẩu hiệu ‘Đả đảo Mỹ - Diệm’. Bản nhạc đầu tiên của anh mà tôi biết là Chiều trên bản Mèo. Bản nhạc này trong vắt, vừa trữ tình vừa mang đậm sắc thái dân ca của dân tộc Mông.

Lũ học trò nông thôn chúng tôi hát đi hát lại bản nhạc này không biết bao nhiêu lần. Càng hát càng thấy hay. Càng thấy hay càng hát. Chúng tôi hát giống như trâu bò nhai cỏ vậy. Vào năm 1967, tôi mang bài ca Chiều trên bản Mèo của anh Năm vào chiến trường Nam Bộ âm ỉ hát trong những lúc buồn và cả sau những trận đánh thất bại…

Đàn bò hợp tác xã đã xuống núi rồi

Tiếng đàn môi còn vấn vương trên lưng trời

Ơ… ớ… Tiếng sáo reo vang, đoàn trai cưỡi ngựa phi lên đồi

Vài cô gái Mèo chờ người yêu bên dòng suối

Chiều về quanh bản Mèo mùi cơm nếp thơm

Giữa sườn núi đoàn lấy sa nhân đi về

Hu… hú… Gió núi vi vu màn sương muối phủ trên biên thùy

Lòng em nhớ nhiều đội dân quân trên ngựa phi…

Trên đèo cao rộn vang tiếng vó ngựa phi

Tung cát bụi mịt mù đường đi

Đây đội quân đi tuần biên giới

Tay nắm chặt khẩu súng sáng ngời

Mùa thi đua sát cánh bộ đội

Giăng màng lưới gìn giữ biên thùy

Bao vực sâu nào ta cố bám vượt qua

Bao thác ghềnh vang dội lời ca

Khi vượt qua vách đá tai mèo

Khi vượt qua ngàn khe suối đèo

Mùa hoa ban trắng núi chen rừng

Sáo người yêu gọi ai vang lừng…”

Thật vô cùng xúc động, nhớ nhung da diết khi nghe lại ca khúc này qua giọng hát của Ban ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam cách nay tròn 55 năm, khi tôi chỉ mới 25 tuổi đời.

***

Ngày 2 tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ tạo “Sự kiện vịnh Bắc Bộ” để tiến hành cuộc chiến tranh đánh phá miền Bắc hòng ngăn chặn cuộc chi viện của hậu phương lớn với tiền tuyến miền Nam. Đoàn nhạc sĩ được cử vào Khu IV cũ để biểu diễn và thâm nhập thực tế để sáng tác, do nhạc sĩ Văn Ký phụ trách, gồm có Nhật Lai, Quốc Hương, Văn Lưu, Văn Luyện, Lư Nhất Vũ, Trương Châu Mỹ, Trung Kiên, Bích Hường, Ngô Thị Liễu, Phạm Thị Bê, Hồng Loan, Phan Vân.

Chúng tôi đóng quân ở Đồng Hới, bên cổng lũy thầy Đào Duy Từ, gặp gỡ anh em thủy quân của hai hạm tàu đang ẩn mình dưới rặng dừa bên bờ sông Nhật Lệ. Chiều hôm ấy, chúng tôi qua Bảo Ninh thăm bà mẹ Suốt.

Giữa giờ cao điểm, đường phố Đồng Hới vắng tanh. Các o mậu dịch viên với súng trường khoác ngang vai, đẩy xe hàng có cắm cành lá ngụy trang đến các chiến hào và ụ pháo trực chiến. Đoàn chúng tôi quây quần, thưởng thức những món đặc sản như: hột vịt lộn, bánh tai vạc bột lọc, bánh bèo ruốc tôm…

Các o mậu dịch viên đã trở thành nhân vật trong ca khúc Hàng em mang tới chiến hào.

Trích lời 1:

Quê mình là đất Quảng Bình

Bóng dừa ôm lấy biển xanh

Sớm trưa ở ngoài trận tuyến với cây súng trường em khoác ngang vai.

Nhật Lệ dòng nước trong xanh in hình em đẩy xe hàng ra chiến hào, mang quà mừng anh bộ đội đêm ngày anh canh giữ bầu trời xanh.

Ơ… Khi giặc vào đây ta đan lưới lửa bủa vây không gian săn bắt tàu bay.

Ơ… Quân thù chúng đến phơi thây trên đất Quảng Bình

Giặc tan em lại bán hàng rồi mang xe về chở xác máy bay…

Bài hát này được tốp ca nữ của Đài Tiếng nói Việt Nam dàn dựng và phát nhiều lần trên làn sóng. Tôi cũng không ngờ Hàng em mang tới chiến hào lại phản ánh đến ba đề tài như: chống chiến tranh phá hoại, thương nghiệp và phong trào Phụ nữ “ba đảm đang”, được giải nhì do Hội Phụ nữ Việt Nam tặng.

***

Những ký ức ở Bàu Bàng thời thơ ấu cứ đeo đẳng tôi hoài. Mãi đến khi nghe tin trận đánh diệt đồn Cây Trường, chiến sĩ Trừ Văn Thố lấy thân mình lấp lỗ châu mai mà trên các phương tiện truyền thông lúc bấy giờ đều gọi là “Phan Đình Giót miền Nam”. Tôi vô cùng xúc động và cảm phục trước hành động anh hùng ấy, và thể hiện qua ca khúc ngắn gọn Ngợi ca anh hùng Trừ Văn Thố do NSND Quốc Hương hát kịp thời trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam.

Đây Cây Trường ta nhớ trận diệt đồn hôm qua

Kìa gương “Phan Đình Giót của miền Nam” ngàn năm sáng ngời.

Trừ Văn Thố!

Mắt căm hờn bừng lên ánh thép

Lấy thân mình lấp lỗ châu mai

Mở đường quân Giải phóng diệt thù

Đạp nát đồn tiến lên trả thù cho anh.

Qua Cây Trường ta nhớ trận diệt đồn Him Lam

Ngực ta thay bộc phá chí hờn căm bịt ngăn súng thù

Trừ Văn Thố!

Hiến dâng đời mình cho chiến thắng

Sống trong lòng đất nước vinh quang

Thúc giục bao đồng chí lên đường

Mùa giết thù chiến công huy hoàng chờ ta…

…Nhớ lại năm 1944, ba tôi cùng dăm ba người lính lên đồn trú ở thị tứ Bàu Bàng. Ba anh em chúng tôi (người anh thứ chín và em gái út) đi làm công nhựt ở đồn điền cao su Ô Đô. Hàng trăm phu cao su là người miền Bắc, bị ràng buộc bởi công tra của bọn chủ đồn điền người Pháp. Công việc của trẻ con chúng tôi là giẫy cỏ xung quanh gốc cây cao su. Nặng nhọc nhứt là đào, cuốc, bứng gốc cỏ tranh mọc um tùm để người ta trồng thêm cây cao su.

Tôi còn nhớ những ngày Cách mạng tháng Tám, ba tôi cùng anh em binh sĩ và nhân dân đứng lên khởi nghĩa. Ông ra lịnh đốn cây dầu, cây sao chắn ngang đường chặn xe lính Nhật từ Bình Long xuống.

Khi ba tôi cùng bộ đội Việt Minh rút về chiến khu Đ thì lính Nhật chiếm đồn Bàu Bàng, án ngữ dọc đường 13. Vợ con chiến sĩ đồn Bàu Bàng chạy trốn trong rừng cao su, núp dưới hố sâu, cây cỏ dại che phủ um tùm. Nhiều tiếng súng nổ cùng tiếng quát tháo. Bỗng trên miệng hố xuất hiện một tên lính Nhật. Anh ta ra ám hiệu mọi người hãy im lặng, đừng sợ. Rồi anh ta đi ngay…

Đến năm 1965, trước khi viết về trận đánh đồn Cây Trường, tự nhiên ký ức trên mảnh đất Bàu Bàng thời tôi mới lên 8 tuổi lại hiện ra rõ mồn một, như có sức hút nào đó để tôi sáng tác nên bài hát về anh hùng liệt sĩ Trừ Văn Thố.

Hiện nay, ở chợ Thủ Dầu Một có một con đường mang tên Trừ Văn Thố. Bốt Cây Trường ở khu Dinh Điền Văn Hữu thuộc huyện Bàu Bàng được đặt tên là xã Trừ Văn Thố.

Xin kính tặng bà con huyện Bàu Bàng bài hát Ngợi ca anh hùng Trừ Văn Thố qua giọng ca của NSND Quốc Hương, để nhớ lại một thời oanh liệt, hào hùng trong những năm kháng chiến cực kỳ gian khổ, khốc liệt.

***

Đất Vĩnh Linh đối với nhóm học sinh vượt tuyến chúng tôi có nhiều kỷ niệm sâu sắc, như một bước ngoặt trong cuộc đời đi theo cách mạng. Rạng sáng ngày 2 tháng 7 năm 1955, nhóm chúng tôi có 6 nam, 5 nữ rời ga xe lửa Bến Thành để tiếp cận khu giới tuyến 17. Khoảng 4 giờ sáng ngày 11 tháng 7, chúng tôi được dân che chở, bố trí dưới thuyền đánh cá được phủ kín lên người bằng những tấm lưới. Đoàn thuyền đánh cá của ngư dân từ từ qua đồn Cửa Việt. Khi ra đến xa khơi thì vài chiếc thuyền giương buồm đổi hướng giong về phương Bắc. Đến trưa, chúng tôi đặt chân lên phía bắc Cửa Tùng, được bà con tiếp đón niềm nở. Và chúng tôi được đưa về thị trấn Hồ Xá huyện Vĩnh Linh.

Năm 1963, nhân dịp xuân Quý Mão, Đoàn Ca múa miền Nam hành quân vô đặc khu Vĩnh Linh để biểu diễn phục vụ bà con ở hai bờ sông Bến Hải.

Năm 1967, giặc Mỹ đánh phá ác liệt Vĩnh Linh, bấy giờ trở thành tuyến lửa trong cuộc chiến tranh chống phá hoại. Từ chỗ sơ tán ở làng Ải (Bắc Giang), tôi đạp xe về Hà Nội, gặp nhà thơ Nguyễn Mỹ là em ruột anh Nguyễn Tuân (tức nhạc sĩ Nhật Lai), là tác giả bài thơ nổi tiếng Cuộc chia ly màu đỏ.

Mấy ngày sau, tại khu văn công Cầu Giấy, tôi viết nhạc, Nguyễn Mỹ đặt lời, cho ra đời ca khúc Câu hò trên tuyến lửa Vĩnh Linh.

Trích vài câu hát:

- Hò là hò khoan… ớ khoan hò!

Ai về đất mẹ Vĩnh Linh

Quê tôi có dòng Bến Hải ân tình nặng sâu.

Tháng ngày kết sáng hạt châu

Núi sông hai miền vẫn liền một câu tâm tình

- Hò là hò ơ khoan!

Quê hương ta vững một niềm tin

Ngời trên đầu súng chí vững bền

Đất sôi cháy bỏng rực căm hờn trút lên đầu thù.

- Hò là hò ơ dô!

Chiến công nở thắm như ngàn hoa

Máy bay Mỹ cháy trên đồng ta

Biển chôn quân thù vang lừng Cồn Cỏ tiền tiêu.

- Hò là hò ơ khoan!

O dân quân gác trên Vĩnh Giang

Chàng trai Vĩnh Tú đã sẵn sàng

Vĩnh Kim hai mùa ngập lúa vàng thắm môi ai cười.

- Hò là hò ơ dô!

Ngó qua tiền tuyến bên bờ Nam

Nhắn anh Giải phóng đang hành quân

Vĩnh Linh không ngừng đêm ngày dồn sức hậu phương

Cho Bắc Nam sum họp thắm tình đất mẹ của ta.

Thời gian học ở trường Âm nhạc, tôi được tiếp thu dân ca Bình Trị Thiên do nghệ nhân lão thành Mộng Ứng truyền dạy, cho nên Câu hò trên tuyến lửa Vĩnh Linh phảng phất âm hưởng dân ca miền Trung. Đã trải qua 49 năm bây giờ nghe lại giọng hát NSND Quốc Hương, lòng cảm thấy vui buồn lẫn lộn. Một nỗi buồn mông lung. Một niềm vui không sao tả xiết.

Những năm 60 sống trên miền Bắc là khoảng thời gian tôi viết hăng say lắm. Một số tác phẩm đã cùng tôi trên những chặng đường gian khổ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước...

  • PArner Honvietquochoc
  • Viet nam air
  • free hit counter script