HV141 - Những trang viết của Đặng Minh Phương

07 Tháng Mười 2019 1:06 CH
CHU GIANG

Bookmark and Share

Hình ảnh của HV141 - Những trang viết của Đặng Minh Phương

Đặng Minh Phương đã xuất bản 14 tập tác phẩm gồm bút ký, phóng sự, bình luận, thơ, câu đối… Đọc ông, tôi thấy ông có sự cảm thụ sâu sắc tinh tế.

Bài Nguyễn Du đến Hàng Châu là một khám phá có giá trị về phương pháp luận. Cho đến nay nhiều người vẫn chưa hiểu đúng hai câu của Nguyễn Du:

Bất tri tam bách dư niên luận

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?

(Hơn ba trăm năm sau,

Thiên hạ ai là người khóc Tố Như?)

Chính người viết bài này, lâu nay vẫn hiểu theo cách hiểu thông thường mà sách báo hay bình luận là Nguyễn Du tự thương cảm mà nghĩ đến đời sau như thế. Đặng Minh Phương cũng đã đến Hàng Châu và tìm hiểu thơ Nguyễn Du, đã cho ta một cách hiểu khác, đúng tinh thần văn bản, đúng với tâm trạng Nguyễn Du, đúng với những tiền đề để Nguyễn Du viết hai câu thơ đó, và hơn thế, càng nói lên chủ nghĩa nhân văn vĩ đại của Nguyễn Du. Như sự diễn giải của ông thì Nguyễn Du trên đường đi sứ về, đã đến Hàng Châu, là nơi có phong cảnh đẹp nổi tiếng Trung Hoa và cả thế giới đến mức đã thành truyền khẩu: Muốn ăn ngon đến Quảng Châu, muốn có người đẹp đến Tô Châu, muốn phong cảnh đẹp đến Hàng Châu… Các văn nhân thi sĩ xưa nay đến Hàng Châu đều để lại thơ văn ngâm vịnh. Nguyễn Du đến Hàng Châu vào năm 1813. Nguyễn Du đến Hàng Châu không để thăm phong cảnh mà tìm đến viếng mộ Nhạc Phi, người anh hùng chống giặc ngoại xâm bị tên gian thần Tần Cối hãm hại. Nguyễn Du đã đọc thiên bút ký của nàng Tiểu Thanh, đến thăm mộ Tiểu Thanh rồi viết bài Độc Tiểu Thanh ký nổi tiếng để lại cho chúng ta hôm nay.

Đặng Minh Phương đến Hàng Châu, nghĩ về Nguyễn Du, tại sao đến Hàng Châu không đi thăm cảnh đẹp, làm thơ vịnh cảnh mà chú tâm đến con người, con người với những thân phận dữ dội như Nhạc Phi, Tần Cối, Tiểu Thanh. Đây có thể xem là phát hiện sâu sắc của Đặng Minh Phương, từ đó không chỉ hiểu đúng câu: “Bất tri tam bách dư niên hậu…” mà còn hiểu được điều lớn hơn: Con người Nguyễn Du.

Nhà thơ Khương Hữu Dụng và bài Đợi anh về là một văn liệu quý giá. Trên đường đi công tác ở chiến trường Khu V, Đặng Minh Phương gặp tình huống một chiến sĩ trúng mảnh bom hy sinh, đồng đội tìm thấy ở túi anh có tấm ảnh người con gái xinh đẹp, phía sau có ghi bài thơ (không ghi tên tác giả):

Đợi anh vợi mùa xuân

Chẳng thấy anh trở lại

Chỉ thấy chim én về

Và hoa đào vẫy mãi

Tay vít một nhành hoa

Níu áo mùa xuân hỏi

“Vì người công tác xa

Xuân ơi! Xuân có đợi?”

Xin một nụ trên cành

Ủ kín vào thương nhớ

Em để dành mùa xuân

Đợi anh về mới nở.

Đồng đội của người đã hy sinh trao tấm ảnh cho ông Phương vì biết ông công tác ở Ban Tuyên huấn Khu ủy, hy vọng sau này sẽ tìm được người con gái trong ảnh và gia đình người chiến sĩ đã hy sinh. Sau chiến tranh, ông Phương về Bắc, chưa kịp gửi tấm ảnh để đăng báo thì được biết bài thơ sau bức ảnh là của nhà thơ Khương Hữu Dụng. Hóa ra đó là bài thơ cụ Khương làm tặng cho cháu gái có hoàn cảnh như trong bài thơ. Hai người yêu nhau không biết bao giờ trở lại…

Chúng tôi thấy bài thơ của cụ Khương ngang tầm với bài Đợi anh về của nhà thơ Xô viết Simonov mà Tố Hữu đã dịch ra từ thời kháng chiến chống Pháp. Nhà báo Đặng Minh Phương đã gặp điều may vô giá. Vì xương máu của đồng đội đã cho ông một chi tiết quý hơn vàng.

Đặng Minh Phương dành nhiều tình cảm yêu mến, trân trọng đối với những người đáng yêu thời hiện đại mà ông đã phác họa chân dung qua các bài văn súc tích đăng trên báo chí như: Phan Thanh, Trần Mai Ninh, Nguyễn Minh Vỹ, Bùi Xuân Các, Đặng Văn Việt; các nhà báo Hồ An, Trường Thi, Hàm Châu; nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện, nhà thơ Nguyễn Mỹ, nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu, bác sĩ Lệ Trinh… Với tình cảm chân thành, sâu sắc Đặng Minh Phương đã làm sáng rõ truyền thống của giới trí thức Việt Nam đem tài năng ra phục vụ dân tộc.

Đặng Minh Phương là bạn thân của nhà thơ Xuân Diệu. Từ mối quan hệ này mà ta được biết nhiều điều thú vị về nhà thơ: Một lần Xuân Diệu cùng người cháu vào uống nước mía ở một quán bên đường tại thị xã Tuy Hòa. Khi trả tiền người chủ quán không lấy vì biết là nhà thơ Xuân Diệu. Nhà thơ cảm thấy thú vị hơn là dự tiệc với thủ tướng, tổng thống. Về chuyện hôn nhân giữa nhà thơ Xuân Diệu và nữ đạo diễn điện ảnh Bạch Diệp, sau này một số người đồn thổi những điều sai trái (hồi ký của một giáo sư). Thực ra là Xuân Diệu và Bạch Diệp đã chia tay nhau nhưng họ đối xử với nhau rất tốt, như bạn thân và Xuân Diệu đã viết bài thơ Đời anh em đã đi qua rất cảm động. Xuân Diệu tặng cho Đặng Minh Phương. Sau này Đặng Minh Phương cho công bố lên báo và chúng ta được đọc:

Đời anh em đã đi qua

Sáng thơm như một bông hoa giữa đời

Sống bằng nhớ lại nguồn vui

Nhớ khi ôm cả đất trời cùng em.

Những ký ức của Đặng Minh Phương làm phong phú thêm sự khám phá về nhà thơ Xuân Diệu cần được ghi nhận.

Chúng tôi đánh giá cao những bài phản biện về lịch sử của Đặng Minh Phương. Khi xuất hiện cái ủy ban khôi phục danh dự Phạm Quỳnh ở Hoa Kỳ năm 2001 thì trong nước cũng có những tiếng nói đồng tình ủng hộ. Nhưng bản chất của Phạm Quỳnh và cái ủy ban… này là như thế nào? Một nhân vật của ủy ban… này đã nói không úp mở: “Xưa chống Cộng để giành lấy nước, nay chống Cộng để kỳ vọng giành lại nước…” (Giải oan lập một đàn tràng…). Còn bản chất của Phạm Quỳnh là như thế nào? Ngay từ năm 2012, Đặng Minh Phương đã đưa ra loạt bài Người đương thời với Phạm Quỳnh nói về Phạm Quỳnh (tạp chí Hồn Việt các tháng 8, 9, 10, 11 năm 2012). Tư liệu vừa có tính khách quan vừa nêu đúng bản chất của Phạm Quỳnh như lời của bác sĩ Trần Đình Nam, nguyên Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong chính phủ Trần Trọng Kim, khẳng định việc làm của Phạm Quỳnh là “việc làm của một người phản quốc”.

Về chính phủ Trần Trọng Kim, Đặng Minh Phương có ý kiến rất xác đáng, đưa ra nhiều cứ liệu lịch sử đúng như bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã kết luận: “Chính phủ Trần Trọng Kim tự vạch mặt, đơn giản họ chỉ là tay sai của người Nhật” (Việt Nam - một thiên lịch sử).

Ngày nay, những người cơ hội chính trị vẫn cố tình ca ngợi Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim là yêu nước. Nhưng họ đều lẩn tránh lịch sử. Mọi sự ngụy biện sớm muộn sẽ bị vạch trần.

Trong tập Nhà báo - nhà văn - Đôi nét này, Đặng Minh Phương đã viết gần 260 câu ca dao lẻ đề cập đến rất nhiều vấn đề trong cuộc sống, mặt tích cực và tiêu cực, việc đối nhân xử thế, biểu dương điều tốt, phê phán điều xấu, có những phát hiện sâu sắc, đậm chất châm biếm và cũng rất dí dỏm, tươi vui:

Trời có mắt sao lại mù

Vì mây cố ý làm u tối trời

Cơ quan sao sặc mùi men

Vì còn bợm rượu ngồi chen chúc đầy

Rút dây sao sợ động rừng

Vì dây quấn chặt đến từng cây to

Tai nghe luận tội tưởng voi

Bản án công bố choai choai chủ gà!

Ông viết đến 90 câu đối tặng các nhà văn, nhà thơ. Mỗi cặp đối khắc họa một tính cách và tác phẩm của nhân vật như:

Nhà báo Hoàng Tùng:

Thuở Sự Thật lấp lánh ánh tài năng báo lớn

Thời Nhân Dân lừng lẫy cây chính luận tầm cao.

Nhà thơ Huy Cận:

Ngọn lửa thiêng ngời ngời đàn thi ca đất Việt

Cây đại thụ sum suê vườn văn hóa trời Nam.

Nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên:

Giữa cơn bão, viết văn viết báo, chủ biên bao chuyên khảo văn chương Hán-Nôm đồ sộ,

Bên cánh hoa, dịch sách dịch thơ, hiệu đính bấy công trình học thuật kim cổ quy mô.

Đặng Minh Phương đã trích dẫn, phóng tác “đôi câu” về 250 người làm thơ - một kỷ lục viết độc đáo giúp bạn đọc thưởng thức những lời thơ, ý thơ có nội dung chính trị, tình yêu đất nước quê hương, chống tệ nạn xã hội, quan hệ tình cảm, hoặc để giải trí, thư giãn, gây cười nhiều màu, nhiều vẻ:

Lá rơi xào xạc chân nai

Lưu Trọng Lư tinh tế nhặt vài Tiếng thu

Nam Trân nhìn Huế ngẩn ngơ

Bút hoa nên một bài thơ muôn vần

Lòng Hàn Mặc Tử băn khoăn

Sợ trăng để lộ khuôn vàng đáy khe

Gió về lòng rộng không che

Đêm mưa Huy Cận tái tê nỗi buồn

Quá yêu mảnh đất Quê hương

Giang Nam bắt bướm thuận đường vào thơ

“Nói lái” - đặc sản có một không hai của tiếng Việt. Trong dân gian từ lâu, nói lái đã đi vào thơ, ca, hò, vè, ở cả ba miền Trung, Nam, Bắc. Nhiều bài thơ, câu thơ “nói lái” đã được ghi vào lịch sử văn học như các câu của:

Tú Mỡ:

Hồ tù ngán nỗi con rồng lộn

Ngọc vết thương tình kẻ cố đeo.

(Lỡm cô Ngọc Hồ)

Hồ Xuân Hương:

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo

Trái gió cho nên phải lộn lèo.

(Kiếp tu hành)

Trạng Quỳnh:

Khéo đứng sao mà đứng mãi đây

Khen ai đẽo đá tạc nên người

Trên cổ đếm đeo dăm chuỗi hạt

Dưới chân đứng chéo một đôi giày.

(Đề tượng Bà Banh)

Đặng Minh Phương đã viết mấy chục bài thơ bốn câu, tám câu, hầu hết các câu đều “chơi trò nói lái” kiểu rất phổ biến ở miền Trung, tả tình, tả cảnh, có khi mang ý nghĩa châm biếm, phê phán, gây cười vô tư, sảng khoái:

Tạm biệt năm Mùi, hết tái dê

Theo đám khỉ tơ đón Tết về

Ngắm cảnh, các cô ra đèo đứng

Hội hè, trai gái kéo lên đê

(Đón Tết Nhâm Thân)

Đọc văn, thơ của Đặng Minh Phương được hiểu biết nhiều thêm và sảng khoái, cười vui. Cống hiến của ông cho bạn đọc, thật đáng quý trọng.

  • PArner Honvietquochoc
  • Viet nam air
  • free hit counter script