HV142 - Chuyện thầy trò thuở ấy (nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11)

05 Tháng Mười Một 2019 1:52 CH
HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN

Bookmark and Share

Hình ảnh của HV142 - Chuyện thầy trò thuở ấy (nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11)

Tại buổi lễ truy điệu học sinh Trần Văn Ơn tổ chức tại trường Đồng Khánh - Huế (nay là trường Hai Bà Trưng) vào ngày 12-1-1950 có một tấm biểu ngữ bằng vải trắng với dòng chữ màu đen rất lớn: “Ai chết vinh buồn chăng? Ai sống nhục thẹn chăng?”.

Hàng ngàn ánh mắt đã dừng lại rất lâu trên dòng chữ ấy như để cảm xúc lắng đọng, để suy nghĩ và để tìm câu trả lời cho chính mình. Kế bên trường Đồng Khánh là trường Khải Định (Quốc Học) lúc ấy vẫn còn bị quân đội Pháp chiếm đóng làm Tổng hành dinh. Sau lễ truy điệu là cuộc tuần hành trên đường Jules Ferry (nay là đường Lê Lợi) dọc theo bờ sông Hương. Hôm ấy hầu như có đông đủ thầy cô giáo và học sinh, từ trung học đệ nhất, đệ nhị cấp và cả học sinh tiểu học ở các trường trong thành phố và các quận huyện ngoại thành. Người Pháp trong Tổng hành dinh đóng chặt cửa, án binh bất động. Hình như bọn họ đã bắt đầu cảm nhận được ngày tàn của chủ nghĩa thực dân từ dòng người mang băng tang đen trên ngực đang lặng lẽ diễu qua trước mặt họ. Hồi ấy tôi là học sinh tiểu học nhưng đi theo thầy cô trong đoàn người biểu tình, tôi cảm thấy một cái gì đó lớn lao làm cho tôi cũng lớn lên theo. Sau này, tôi đã bắt gặp lại những khuôn mặt quen thuộc của một số thầy cô giáo ấy qua những phong trào đấu tranh chống Ngô Đình Diệm rồi chống Mỹ và tay sai ở Huế.

Trường Đồng Khánh - Huế

Người đọc điếu văn trong lễ tang Trần Văn Ơn ở trường Đồng Khánh là thầy Văn Đình Hy, sau này là giáo sư dạy môn Quốc văn kiêm nhiệm Giám học trường Quốc Học Huế. (Trước năm 1975 ở miền Nam Việt Nam, các thầy cô dạy tiểu học thì gọi là giáo viên, dạy từ cấp trung học lên tới đại học đều gọi chung là giáo sư. Trong bài viết này tôi xin phép được dùng từ giáo sư theo cách gọi cũ vì bỗng không mà trở mặt đổi giọng, hạ bậc các thầy cô xuống thì cảm thấy khó nghe và bất kính). Bà xã của thầy Văn Đình Hy là cô Đặng Tống Tịnh Nhơn cũng là giáo sư Quốc văn kiêm Hiệu trưởng trường Đồng Khánh. Chị Tịnh Nhơn là cô ruột của liệt sĩ Đặng Thùy Trâm. Trong cuộc nổi dậy chống Ngô Đình Diệm năm 1963, chị Tịnh Nhơn đã bị bắt giam tù ở Nha Công an Cảnh sát miền Trung cho đến ngày chế độ Diệm bị đảo chính. Đáng chú ý nhất là trường hợp dấn thân của một vị hiệu trưởng tiền nhiệm trường Đồng Khánh là bà Đào Thị Xuân Yến, phu nhân của một vị đại quan triều đình Huế là ông Tuần phủ Nguyễn Đình Chi. Trong chiến dịch xuân Mậu Thân, bà đã mạnh dạn rời bỏ tổ ấm gia đình của mình là khu vườn An Hiên ở Kim Long để thoát ly theo cách mạng, giữ chức vụ Phó chủ tịch Liên minh Dân tộc Dân chủ và Hòa bình thành phố Huế. Sau ngày giải phóng, bà trở về vườn xưa, sống nhẹ nhàng thanh thản với cỏ cây hoa lá - tuy lặng lẽ khiêm tốn nhưng vẫn tỏa sáng nhân cách cao quý của người phụ nữ và của một nhà giáo yêu nước.

Từ những năm đầu của chế độ Diệm, ở Huế có ba nhà giáo luôn luôn bị bọn công an mật vụ của chính quyền cũ đưa vào tầm ngắm và nhiều lần vào tù ra khám nhưng không ngừng hoạt động cách mạng. Đó là các giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm, Nguyễn Nguyên và Trần Ngọc Anh. Trong phong trào chống Ngô Đình Diệm, cả ba vị đều bị biệt giam. Trong chiến dịch xuân Mậu Thân, các giáo sư Dương Tiềm, Nguyễn Đóa, Trần Thân Mỹ đã thoát ly theo cách mạng và đều là ủy viên của Liên minh Dân tộc Dân chủ và Hòa bình thành phố Huế. Riêng cụ Nguyễn Đóa, sau này giữ chức vụ Phó chủ tịch Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Con gái út của cụ là cô Nguyễn Thị Đoan Trinh, sinh viên Đại học Dược ở Sài Gòn về Huế ăn Tết với gia đình cũng theo cụ thoát ly theo kháng chiến. Giáo sư Trần Ngọc Anh, Chủ nhiệm báo Dân của Lực lượng giáo chức tranh đấu Huế, bị tù từ năm 1966. Sau chiến dịch Mậu Thân, giáo sư Nguyễn Nguyên lại tái ngộ đồng chí của mình là Trần Ngọc Anh trong nhà lao Thừa Phủ.

Ở xóm Cột Cờ trên khu Thượng Thành - Huế có một căn nhà khang trang thanh lịch gọi là Tỳ Bà Trang, nguyên là nhà riêng của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba và cũng là nơi bảo tồn bảo tàng những tài liệu và nhạc cụ âm nhạc truyền thống. Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba từng tham gia kháng chiến chống Pháp và là tác giả nhiều ca khúc yêu nước nổi tiếng một thời như Thu khói lửa, Lửa rừng đêm... Sau năm 1954, ông ở lại Huế dạy âm nhạc ở các trường trung học. Ông thường hay tập họp bạn bè lớn tuổi ở Tỳ Bà Trang để bàn chuyện thế sự. Vào một đêm rằm nào đó, thời giặc Mỹ leo thang chiến tranh, ném bom miền Bắc, ông khoe với bạn bè mấy câu thơ mới làm:

Trăng tròn như đô la

Trăng vàng như đô la

Say trăng quên cả sơn hà...

Trăng lung linh

Nước rung rinh...

Không ít người kháng chiến cũ như nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba sống trong vùng địch với tâm sự của nhân vật Từ Thứ trong truyện Tam quốc chí - thân ở Tào mà lòng ở Hán. Vào những ngày đầu chiến dịch xuân Mậu Thân, lúc quân Giải phóng chiếm được thành phố Huế thì nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba đang ở Sài Gòn. Tỳ Bà Trang do một người cháu là nhạc sĩ Nguyễn Hữu Vấn, giáo sư trường Quốc gia Âm nhạc Huế quản lý. Vốn đã có sẵn tình cảm cách mạng qua truyền thống gia đình nên khi quân Giải phóng vào Tỳ Bà Trang thì anh Vấn hăng hái tham gia. Sau đó anh và một vài người cháu cùng thoát ly theo cách mạng. Anh đi theo cách mạng khá dễ dàng nhanh chóng. Trong những tháng ngày gian khổ ác liệt nhất, anh vẫn giữ được phong thái vui tươi, nhẹ nhàng, tỉnh táo. Anh thường mở đài Tiếng nói Việt Nam, mục dạy hát, ngồi chép lại nhạc và lời của những ca khúc cách mạng như Bão nổi lên rồi, Tiếng đàn Ta lư... để dạy lại cho các bạn trẻ trong cơ quan.

 

Anh Đỗ Long Vân là người theo đạo Thiên Chúa. Anh đỗ cử nhân Văn chương ở đại học Sorbonne - Paris, được linh mục Cao Văn Luận mời về dạy ở Đại học Huế. Nhưng từ năm 1963 về sau, anh đã sát cánh cùng lực lượng giáo chức, sinh viên và đồng bào phật tử Huế, chống Ngô Đình Diệm và Mỹ - Thiệu, Kỳ. Tháng 3 năm 1965, giặc Mỹ bắt đầu tiến hành chiến dịch Sấm rền, leo thang chiến tranh ném bom miền Bắc. Một buổi sáng anh Đỗ Long Vân vào giảng đường tuyên bố từ nhiệm, tức là bỏ dạy, chia tay với học trò. Anh giải thích việc này một cách ngắn gọn: “Tình hình này tôi không thể có lòng dạ nào mà dạy dỗ các em được”. Từ đó anh cam chịu thất nghiệp, sống thanh bần cho đến cuối đời. Rời đại học Huế, anh Đỗ Long Vân vào Sài Gòn cùng một số trí thức Thiên Chúa giáo như các giáo sư Lý Chánh Trung, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Nguyên; các linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Trương Bá Cần, Trần Thái Đỉnh, Trần Tam Tỉnh... tập hợp lực lượng tiến bộ qua hai tạp chí Đối diện Đứng dậy cổ vũ quan điểm chống Mỹ và tay sai, đòi Mỹ rút quân để lập lại hòa bình. Các tạp chí này thường được bí mật in ấn tại nhà in Phương Quỳnh của bà Tôn Thất Dương Kỵ - số 150F Yên Đổ (nay là Lý Chính Thắng), quận 3, Sài Gòn. Đây là cuộc đấu tranh chống Mỹ trong lòng địch sau chiến dịch Mậu Thân ở các thành thị miền Nam mà đỉnh cao là các phong trào năm 1970.

Một trí thức khác cũng xuất thân từ Đại học Sorbonne của Pháp là anh Lê Văn Hảo, tiến sĩ dân tộc học, làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu khoa học Quốc gia Pháp (Centre national de la recherche scientifique). Năm 1965, anh về nước giảng dạy môn Dân tộc học và Văn minh Việt Nam tại các đại học Văn khoa Huế và Văn khoa Sài Gòn. Khi giảng về truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thủy cho sinh viên tại giảng đường Đại học Huế, anh Hảo có lời bình luận: “Sở dĩ nhân dân ta có thành kiến không mấy tốt đẹp về những phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài, nhất là chồng Tây, chồng Mỹ là từ thảm kịch Mỵ Châu. Vì lấy nhầm giặc làm chồng mà bị đánh tráo nỏ thần làm mất nước”. Giáo sư Lê Văn Hảo còn cảm khái nói thêm: “Chính sự cảnh giác của tinh thần yêu nước đó đã giúp nhân dân ta đánh thắng mọi kẻ thù, dầu kẻ thù có B-52”. Câu này khiến sinh viên bất ngờ vỗ tay vang dậy cả giảng đường. Thời gian này giặc Mỹ đang tiến hành chiến dịch Sấm rền (Operation Rolling Thunder) đánh phá miền Bắc dữ dội. Nhưng chính tiếng sấm rền của bom đạn Mỹ đã đánh thức lương tri và tình tự dân tộc trong trái tim và khối óc của muôn triệu con dân nước Việt trong đó có những người trí thức như Đỗ Long Vân, Lê Văn Hảo... Từ câu nói “...dầu kẻ thù có B-52”, giáo sư Lê Văn Hảo đã công khai vạch ra trận tuyến giữa ta và địch và khẳng định chỗ đứng của mình là ở về phía nhân dân. Năm 1966, một nhóm trí thức tranh đấu Huế thực hiện tập san Việt Nam Việt Nam với tinh thần chống Mỹ mạnh mẽ. Sau khi xem nội dung bản thảo của tập san này, anh Lê Văn Hảo đồng ý đứng tên chủ biên công trình và cho mượn căn phòng của anh ở cư xá giáo sư Đại học Huế để bí mật in ấn. Năm 1968, trước khi quân Giải phóng tiến công vào thành phố, giáo sư Lê Văn Hảo đã nhận lời mời của Mặt trận Giải phóng, thoát ly ra vùng căn cứ kháng chiến làm Chủ tịch Liên minh Dân tộc Dân chủ và Hòa bình thành phố Huế. Đây là một bước ngoặt quan trọng và đáng tự hào trong đời anh.

   

Trong Liên minh Dân tộc Dân chủ và Hòa bình thành phố Huế còn một khuôn mặt sáng giá là Hoàng Phủ Ngọc Tường. Trước khi là nhà văn, anh Tường đã là giáo sư dạy Quốc văn nổi tiếng ở hai trường Quốc Học và Đồng Khánh. Mùa hè năm 1966, anh Tường tham gia phong trào tranh đấu với cương vị Tổng thư ký Tổng hội sinh viên Huế và Tổng thư ký Lực lượng giáo chức tranh đấu. Báo Mỹ từng ghi được hình ảnh anh đứng trên lễ đài trước cổng trường Quốc Học, đọc diễn văn dưới tấm biểu ngữ mang dòng chữ: “Chúng tôi thách đố mọi sự đàn áp của Thiệu Kỳ”. Đây là tấm ảnh đẹp nhất của một người trai xứ Huế thời ấy. Khi phong trào Huế bị Thiệu - Kỳ đàn áp dữ dội, anh Tường bị địch nêu tên hàng đầu bắt trình diện trong vòng 24 giờ. Nhưng anh Tường không chịu đầu hàng mà thoát ly ra vùng giải phóng. Trong chiến dịch xuân Mậu Thân, anh là Tổng thư ký Liên minh Dân tộc Dân chủ và Hòa bình thành phố Huế. Tuy nhiên anh Tường không vào thành phố mà được bố trí ở một căn cứ an toàn tại bìa rừng để tiếp đón các vị nhân sĩ trí thức nội thành thoát ly theo cách mạng. Trước khi đến với cách mạng, thầy giáo Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trải qua rất nhiều trăn trở như trong thơ anh:

Giờ địa dư em hỏi

Biên giới nước ta đâu?

Thầy trả lời dõng dạc:

Nam Quan đến Cà Mau.

Băn khoăn trò lại hỏi

Trên bản đồ nước Việt

Sao không thấy sông Hồng?

Thầy mỉm cười đáp nhẹ:

“Sông Hồng dù vắng mặt

Vẫn chảy vào Biển Đông”

Sở dĩ có những câu hỏi đáp như thế là vì lúc ấy đất nước bị chia hai ở vĩ tuyến 17. Miền Bắc thì không có mũi Cà Mau và miền Nam làm gì có ải Nam Quan và sông Hồng? Thầy trò họ một tung một hứng nhằm nói lên khát vọng và ý chí thống nhất đất nước theo lời kêu gọi của Bác Hồ: “Đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. Trong bút ký Rất nhiều ánh lửa (NXB Tác phẩm mới, 1979), Hoàng Phủ Ngọc Tường thú nhận nỗi niềm ray rứt của mình trong cương vị người thầy:

...Nghề dạy học trong những năm ấy mãi đến bây giờ vẫn còn vang vọng trong ký ức của tôi như một niềm hối tiếc dai dẳng. Bom đạn ở ngoại ô, lính Mỹ đầy phố, lệnh gọi đi lính, những cuộc biểu tình đổ máu, những người bị bắt... Mỗi giờ dạy tôi đều phải đối diện với hàng chục khuôn mặt uể oải, đăm chiêu, lơ đãng, đôi khi ẩn hiện một nỗi khinh bỉ thầm lặng. Những khuôn mặt ấy đều hiện ra một dấu hỏi, không thực chính xác về vấn đề gì. Tuy nhiên tôi vẫn cảm thấy một cách rõ ràng là nó được đặt ra cho tôi, và tôi thường sợ hãi, lẩn tránh câu trả lời...”. Nhân vật chính trong bút ký này là một người học trò tên là Dân mà các thầy đều bực mình: “hay vắng mặt, học kém, mang guốc đến lớp và rất hiếm khi thuộc bài. Hay ngủ gật, đôi mắt thâm quầng mệt mỏi, hình như lúc nào cũng lảng vảng một cơn buồn ngủ ghê gớm...”. Có lúc Dân đã bị ông thầy Hoàng Phủ Ngọc Tường mắng một câu rất nặng: “Ngủ mãi rồi lại ngu như bò đấy”. Dân không hề cãi lại, chỉ cúi đầu cam chịu.

Có lần thầy Tường mang vở bài tập của học trò về nhà kiểm tra tình cờ thấy trong quyển vở của Dân rơi ra một miếng giấy nhỏ viết những dòng như sau:

“Bốn đứa cùng sinh ra

Đứa ra ngoài đảo vắng

Đứa lên đồi dựng trại

Đứa quanh mình khói lửa

Lắm đêm về mất ngủ...”

Dưới bài thơ ấy còn có mấy dòng khác: “Mũi a: hoàn thành tốt - Mũi b: tình đồng đội tốt - Mũi c: X-1”. “Tôi đọc đi đọc lại, đúng là nét chữ của Dân. Thế này nghĩa là sao? Trước mắt tôi hiện ra mơ hồ một trận đánh, có những người mang dép cao su vác đồng đội bị thương, có thể một người đã chết. Nhưng chắc chắn là một trận đánh thắng và Dân là người chỉ huy trận đánh đó... Sau đó tôi tìm đến Dân ở nhà trọ nhiều lần mà không gặp. Lần sau cùng tôi gửi lại Dân một cái thư xin lỗi, nói rằng ‘Tôi rất ân hận về lời quở mắng hôm nọ ở lớp học. Thật ra tôi mới là một đứa ngu như bò’”... Hoàng Phủ Ngọc Tường đọc rất nhiều sách. Thế nhưng anh được giác ngộ cách mạng không phải từ sách vở mà lại nhờ một cậu học trò cá biệt của mình.

Sau cùng tôi cũng muốn nhắc lại trường hợp một người bạn là anh Nguyễn Văn Sang, cũng là thầy giáo dạy tư thục ở Huế. Giờ Địa lý, anh gắn cái bản đồ Việt Nam bị chia hai lên bảng đen rồi nói: “Đây là hai miền Nam, Bắc của nước mình. Những gì tinh hoa của dân tộc thì nổi lên trên. Còn cái phần cặn bã thì lắng xuống dưới”. Không may gặp lúc ông hiệu trưởng kiêm chủ trường đi qua. Ông chủ trường mời anh lên văn phòng trách nhẹ: “Anh mà dạy dỗ kiểu đó là đốt trường tôi đấy”. Thế là Nguyễn văn Sang bị cho nghỉ dạy. Trong chiến dịch xuân Mậu Thân, bỗng thấy anh xuất hiện, tay mang băng đỏ, cầm súng AK xuống đường. Lúc quân Giải phóng rút ra khỏi thành phố, anh bị lạc không theo kịp đồng đội, rồi bị địch bắn bị thương đổ cả ruột ra. Sau đó anh bị địch bắt đày ra Côn Đảo. Tại đây, bạn bè đồng chí thường đọc hai câu thơ chữ Hán để nói đùa về cái vụ đổ ruột của anh: “Ái lạc tâm trường/ Lực lai tương địch” (Yêu rớt ruột gan/ Giặc đến cùng đánh).

Trong số đồng bào tham gia cách mạng ở Huế thời chống Mỹ, chắc chắn còn không ít thầy cô giáo khác mà tôi không thể biết hết. Năm mươi năm qua, có biết bao nhiêu chuyện để nhớ, để quên. Và rồi sẽ đến một lúc nào đó, mọi con người và sự việc này sẽ bị thời gian vùi lấp vào quên lãng. May chăng còn lại là truyền thuyết về dấu chân lờ mờ của họ lẫn vào muôn triệu dấu chân khác của đồng bào đồng chí trên những nẻo đường cách mạng - những dấu chân đi hết chiến dịch này đến chiến dịch khác để giành lại mùa Xuân cho đất nước.

  • PArner Honvietquochoc
  • Viet nam air
  • free hit counter script