HV142 - Nghĩa tình mẹ Nhu

12 Tháng Mười Một 2019 12:48 CH
HỒ DUY LỆ

Bookmark and Share

Hình ảnh của HV142 - Nghĩa tình mẹ Nhu

Tôi đọc liền một mạch cuốn tiểu thuyết - ký sự Trụ lại của Hồ Duy Lệ trong suốt mấy ngày. Tôi gặp lại ở đó biết bao con người trung liệt, quả cảm, phi thường trong những ngày quê hương Quảng Nam ở vào thời kỳ đen tối, khủng bố trắng, diệt Cộng… Thật không thể nào tưởng tượng nổi hoàn cảnh éo le lúc ấy: kháng chiến chống Pháp, ta giữ vững vùng tự do gồm mấy tỉnh, bao gồm các huyện Bắc Quảng Nam, có chính quyền, giáo dục, văn hóa của mình, mà bây giờ phải chịu ở dưới ách bọn giặc đã thất bại. Bi kịch lịch sử ấy có nhiều nguyên nhân sâu xa, bây giờ ta đã rõ. Nhưng trong bước ngoặt bi tráng ấy của cuộc chiến đấu, tiếp tục sự nghiệp cách mạng làm sao là cả một nghị lực, dũng khí phi thường, cộng với lòng tin tuyệt đối vào nhân dân, vào đường lối Trung ương.

Cuốn tiểu thuyết - ký sự của Hồ Duy Lệ ngồn ngộn tư liệu, sự việc, con người. Đây là cả một công trình tâm huyết của một người trong cuộc, của một nhà văn - nhà báo đất Quảng. Quý biết bao công lao ấy, không những đối với Quảng Nam-Đà Nẵng, mà là đối với toàn bộ cuộc kháng chiến lâu dài, oanh liệt của toàn đất nước. Ước sao sẽ có nhiều cuốn sách, nhiều bộ phim… tái hiện lại thời vĩ đại ấy của nhân dân, cán bộ đất Quảng, để các thế hệ tiếp theo kế thừa và phát huy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Hồn Việt trân trọng giới thiệu một chương trong cuốn sách (khoảng 500 trang) này.

M.Q.L.

Tết Mậu Thân, bà con làm nhiều bánh hơn mọi năm để… khao quân. Ghé nhà nào cũng mời ăn tết, miệng mình thì đắng nghét! Sau khi làm việc với tổ chức, đi đến quyết định đưa đảng viên hợp pháp, chủ yếu là nữ ở nông thôn, chủ yếu là Điện Bàn và Hòa Vang, cắm vào nội thành. Tùy hoàn cảnh vốn có của mỗi người mà vào sống hợp pháp trong thành phố, thậm chí, nhiều chị phải tự bôi xấu mình, nói, ở ngoài nớ ác liệt, đói quá chịu không nổi phải vào đây. Thời ấy, những ai, nhất là cán bộ cốt cán mà bỏ vùng giải phóng vào thành phố thì đau khổ lắm, bà con nhìn mình bằng nửa con mắt. Khổ tâm lắm! Làm cán bộ, đảng viên thì phải biết hy sinh. Đâu chỉ có chết mới hy sinh!

Hồ Nghinh, Chính ủy Mặt trận, nhân vật chủ chốt của cuộc “đột kích chiến lược” - một cụm từ sau này dùng thay cho “tổng tiến công và nổi dậy” - đi bằng cách nào để thoát ra? Sau cuộc họp, thì giao liên chuyển Hồ Nghinh qua mấy nhà cơ sở vẫn thấy chưa ổn. Có nhà cơ sở, ông Hồ Nghinh vừa dời đi thì địch ập vào tìm. Ông Hồ Nghinh không nhớ hết anh em đã di dời ông đến những nhà cơ sở nào. Chỉ biết rằng, ngày cuối cùng trong thành phố Đà Nẵng, ông ở tại nhà ông Nguyễn Cầu. Nhà ông Cầu ở trong khuôn viên Bệnh viện Đà Nẵng, sau này là Trung tâm đào tạo trung cấp y tế trên đường Hùng Vương, rồi là Sở Y tế Đà Nẵng. Ông Nguyễn Cầu là một điều dưỡng viên cao cấp (y tá trưởng), kiêm trưởng ban hành chính quản trị, người có vị trí số 2 ở bệnh viện lúc bấy giờ, vì vậy được bố trí ở ngay trong khuôn viên bệnh viện.

Tối hôm ấy, sau hơn mười lăm ngày căng thẳng, một nữ giao liên tên là Thái - còn có tên là Sáu Rổ, theo lời Hà Kỳ Ngộ, bí mật vào nhà thầy giáo Trương Văn Thông truyền đạt một đề nghị của lãnh đạo: Thầy có thể và có cách gì đưa ông Hồ Nghinh thoát ra khỏi thành phố?

- Khi nào? Thầy Thông thản nhiên hỏi.

- Ngày mai càng tốt.

- Thì được thôi!

Sáng hôm sau, con trai ông Nguyễn Cầu mang bí danh Nghĩa, tên thật của anh là Nguyễn Hồng Kỳ, đang học Y khoa Huế, lấy chiếc xe mô-bi-lét của cha, đưa Hồ Nghinh đến ngôi nhà số 12 đường Nguyễn Thị Giang (nay là Nguyễn Thị Minh Khai).

Đã hẹn trước với giao liên Thái, sáng hôm ấy, thầy Trương Văn Thông dậy rất sớm, dắt chiếc vespa Ý ra hiên, sẵn sàng đón khách.

Xe của Nghĩa vừa dừng lại trước sân ngôi nhà số 12 Nguyễn Thị Giang thì Hồ Nghinh vọt xuống xe, chào cảm ơn người “tài xế” rồi đi thẳng vào trong nhà. Thấy có khách đến nhà sớm, cô Hường từ trong bếp bước ra, có phần lúng túng vì quá bất ngờ, người đối diện, quần tây, veston com lê, trông như một thầy giáo, là ông Hồ Nghinh. Cô Hường gật đầu chào:

- Thưa anh! Anh có nhớ ai đây không?

Hồ Nghinh nheo mắt nhìn cô Hường: Thấy mặt thì hơi quen quen, nhưng không biết gặp ở đâu.

- Dạ, em là Hường, con ông Đốc Lâm.

Có thể Hồ Nghinh chưa nhận ra ai, vì lâu quá rồi, cô bổ sung thêm sơ yếu của mình:

- Em nguyên là cán bộ phụ nữ Cứu quốc huyện Duy Xuyên đây. Hồi đó, anh là Chủ tịch Ủy ban Hành chính huyện.

- À, nhớ, nhớ rồi… Hồ Nghinh mỉm cười - Thì ra, chị là… ông quay về hướng thầy Trương Văn Thông - là vợ của ông này?

- Dạ, mời anh ngồi uống nước. Cô Hường kéo ghế mời Hồ Nghinh ngồi. Hồ Nghinh khoát tay: - Thôi, vội quá, phải đi liền, xe ổng đã nổ máy rồi kia, gặp và biết rứa là quý lắm rồi. Có dịp gặp lại sẽ nói chuyện nhiều…

Thật lâu mới diện, mặc bộ veston mới, Hồ Nghinh bỗng nhớ, hôm mới từ căn cứ vào thành phố, Sáu Hưng đưa cho ông bộ veston này đây. Ông hỏi veston đâu mới rợi ri? Sáu Hưng không giải thích, chỉ cười, bảo mặc vừa vặn là sướng rồi. Sau này, ông mới nghe Sáu Hưng cho biết, trong khi chuẩn bị đón ông vào thành, ngoài việc lo những chỗ ở thật an toàn, bố trí những giao liên vững vàng để đưa ông đi lại, còn phải kiếm bộ veston đẹp, vừa người ông. Sáu Hưng đến nhà ông Nguyễn Nho Do, ông có vợ người Bình Định, từng làm quân giới với Lương Bình Áng, thời kháng chiến Một, sau 1954, ông Nho Do về Đà Nẵng, làm nghề thợ gò, chuyên gò xoong nhôm, thùng gánh nước, nhà ở đường Khải Định, gần trụ sở Quốc Dân đảng, và cũng gần chùa Tỉnh hội Phật giáo, các con của ông đều tham gia công tác, ta đặt tại nhà ông một trạm giao liên. Thấy người ông Nho Do nhỏ xác, gần như ông Nghinh, liền gợi ý mượn bộ veston. Rất may, ông Nho Do vừa may bộ veston diện Tết, ông Nho Do không cho mượn mà tặng!

Thầy Trương Văn Thông lái chiếc vespa, đèo Hồ Nghinh chạy vòng vèo trong phố, theo những con đường quen thuộc thầy biết chắc không có trạm gác, kể cả những trạm gác mới dựng lên sau Tết, lọt ra được phía Đò Xu. Định nhấn ga chạy về phía Cẩm Lệ thì, một tốp lính mũ đỏ - lính dù đang chốt ở đây, bảo dừng xe kiểm soát. Thầy Thông hơi lo vì người ngồi yên sau đang là đối tượng bị truy nã số 1. Dù sao thầy cũng giữ bình tĩnh, chỉ nói điều đã chuẩn bị trước, ai hỏi thì nói đưa người bạn là thầy giáo về quê cho kịp ăn tết.

Mấy ngày trước đó, Hà Kỳ Ngộ giao cơ sở chọn phương án tối ưu để đưa Hồ Nghinh thoát ra là: Giao cho bác sĩ Nguyễn Minh Triết chạy cho thầy giáo Ba Phước và Hà Kỳ Ngộ, mỗi người một giấy xuất viện của Bệnh viện Đà Nẵng, do bác sĩ Minh Dung cấp. Giấy xuất viện ký ngày 30-1-1968, tức mồng 1 Tết Mậu Thân. Chữ ký của bác sĩ Minh Dung là chữ ký giả, do Nguyễn Minh Triết ký. Bác sĩ Minh Dung nguyên là vợ của bác sĩ Lê Ngọc Dũng, lúc bấy giờ là bác sĩ quân y làm việc ở Tổng quân y viện Duy Tân (nay là Bệnh viện C.17). Sở dĩ cho xuất viện ngày 30 Tết là để nếu địch gặp vặn hỏi thì nói vì chiến sự nổ ra, không xe, kẹt đường, phải nhờ…

Nhìn vào mấy người lính mũ đỏ, thầy Thông chợt nhớ một gương mặt quen, một người lính mũ đỏ đưa tay lên chào thầy. Thầy vẫy tay chào lại, chưa nghĩ ra là học trò trường Phan Thanh Giản hay trường Tây Hồ. Trong lúc đó thì, Hồ Nghinh thò tay vào túi quần rút cái căn cước cũ mềm, sẵn sàng trình. Người lính khoát tay bảo:

- Thầy mình đó, khỏi phải kiểm ra giấy tờ.

Thầy Thông, thầy Ba Phước gật đầu cảm ơn người lính mũ đỏ. Xe rú ga.

Xe chạy một đoạn, Hồ Nghinh hỏi:

- Bọn đó là loại gì?

- Lính dù. Nó đang cắm trại 24/24. Mấy bữa, khu vực này làm gì có gác. Thầy Thông tăng ga chạy nhanh qua đoạn đường thấp, hai bên đường là ruộng lúa, lau lách và cỏ bồng bềnh trong nước, rồi tách vào xóm nhà đầu cầu Cẩm Lệ, vòng trong xóm nhà vườn cây cối đủ loại, theo con đường mòn vọt lên quốc lộ 1. May mắn vô cùng, xe thầy vừa quay đầu vào hướng Vĩnh Điện thì, gặp một đoàn công-voa toàn xe Mỹ, chở lính Mỹ, ầm ầm nối đuôi nhau chạy vào. Thầy Thông dặn Hồ Nghinh: - Anh bình tĩnh, ôm chặt cái hông của tôi.

Chiếc vespa lượn lách, lọt vào giữa hai chiếc GMC đầy lính, lúc tăng ga, lúc hãm ga, thầy dựa vào uy của đoàn xe nhà binh vượt qua mấy cái ba-ri-e đầy lính giương súng, ngón tay hờ bên cò súng… Qua Cầu Đỏ, mừng! Qua Miếu Bông, mừng! Vào đến chợ Mới Ba Xã thì Hồ Nghinh mới nheo mắt, mỉm nụ cười (trổ trạng): Xe Mỹ hộ tống Chính ủy Việt Cộng! Bàn giao Hồ Nghinh cho du kích Điện Ngọc thì gặp quân Mỹ đi càn, Hồ Nghinh phải ở hầm bí mật với anh em Điện Ngọc ba đêm, cô Sáu Rổ mới liên lạc được về trên sau đó có trung đội bảo vệ của Đặc khu xuống lách đồn địch, bố trí từng tiểu đội phục dọc theo đường số Một thì anh em đón nhận và kéo Hồ Nghinh vừa đi vừa chạy dưới làn pháo cầm canh, đưa về Gò Nổi… Nguyễn Đình Phùng trong tổ bảo vệ áp theo bên Hồ Nghinh đêm ấy kể lại: mỗi khi nghe tiếng đại bác đề-pa thì lắng tai nghe, có tiếng rít gần thì kéo ông Nghinh nằm bẹp xuống đất, ba bảo vệ nằm đè lên người ông…; hết pháo, kéo ổng dậy, chạy. Lúc chạy, ổng nói: Pháo đâu không trúng chứ bay đè tau tức cái ngực quá!

Và, ông Tân (Hồng Quang) đã gặp ông Nghinh như câu chuyện ông Tân vừa tường thuật lại.

Tượng mẹ Nhu, người Mẹ Anh hùng, tại Đà Nẵng

* * *

Năm Mậu Thân 1968, Hạnh vừa tròn 20. Tham gia chiến dịch xuân Mậu Thân, Nguyễn Thị Hạnh cùng lực lượng quần chúng Khu 1 Hòa Vang ầm ầm kéo đến thị trấn Nam Ô, trong không khí bừng bừng thì bị quân Mỹ chặn lại, quân Sài Gòn xông ra, nhiều loạt súng nổ vào đoàn biểu tình, hàng trăm người ngã xuống… Năm Dừa chỉ huy mũi phía tây Đà Nẵng, lần đầu tiên thấy dao động vì lạnh lưng, có cây K59 lận trong bụng mà không thể nổ súng, phải lẩn vào đám người, bặm môi nhìn cảnh máu me và xác bà con ngổn ngang… Trong máu me, xác người, tiếng khóc, Năm Dừa gặp Nguyễn Thị Hạnh trang phục quần xa tanh trắng, áo dài trắng thư sinh trong âm thanh vang vang “Tiếng trống Nam Ô”, dân Xuân Thiều gọi “Tiếng trống Năm Dừa”. Hạnh bận bộ đồ xa tanh trắng trông như một nữ sinh - Hạnh cố ý đóng vai nữ sinh, không chỉ làm cho mình trẻ hơn, đẹp hơn, mà có quyền đi lại hợp pháp như bà con thị trấn Nam Ô. Năm Dừa đi trước, thanh niên xung kích theo sau. Khi Hạnh đang đi đến sau lưng Năm Dừa thì một loạt rốc két nổ ầm xé toác đám đông, hàng chục người, hàng trăm người ngã xuống, máu tung tóe, máu nhuộm lốm đốm cả áo xa tanh trắng của Hạnh. Bụi khói mịt mù, tiếng người kêu la xé lòng.

Năm Dừa cũng tuổi Tý, nhưng là Bính Tý - 1936, hơn Hạnh một con giáp. Hạnh trắng trẻo, tóc thề, trông như cô học trò mười bảy. Chạy theo chị em đi họp nghe nói chuyện xuống đường cướp chính quyền về tay nhân dân, nghe Năm Dừa phát động quần chúng thì chen vào các mẹ, các chị lắng nghe không bỏ sót một câu. Sau đó thì “phục” cái ông dân vùng cát Điện Nam mà làm vang rền làng trên xã dưới bên bờ con sông Cu Đê dưới chân đèo Hải Vân bằng “Tiếng trống Nam Ô”. Đâu chỉ dân vùng Cát Điện Bàn quê nội của Năm Dừa phục, mà dân Xuân Thiều, Nam Ô, Hòa Hiệp… thời đánh Mỹ ai mà không phục, ai mà không biết tiếng Năm Dừa. Khi Năm Dừa phát động xuống đường, trong phần giải đáp thắc mắc có nêu lên tình huống bị địch đàn áp, có thể bị dùi cui, ma trắc, hơi cay. Nhưng, giờ lịch sử đến thì địch nổ súng, không phải hăm dọa mà bắn như điên vào dân thường, vào đội hình, rốc két, đại liên vang lên trong tiếng người la thất thanh, một đội hình chuẩn bị, tập dượt bao nhiêu công sức bị xé banh, tán loạn, mạnh ai nấy chạy để thoát thân. Bốn hướng vào trong khu vực thị trấn Nam Ô đều có các mũi quân dù, thủy quân lục chiến, có cả lính Mỹ, đi ra cánh nào cũng thấy lính Sài Gòn lù lù hiện ra, mặt dữ dằn, súng đăm đăm. Lo nhất là những cán bộ, đảng viên, đóng vai dân thường đi trong đội hình làm nòng cốt. Lẫn trong rừng hỗn loạn người thoát ra khỏi thị trấn Nam Ô, Năm Dừa nghĩ không ra, hiểu không nổi, do đâu mà bốn bề đều thấy quân của Sài Gòn.

Anh Năm Dừa đâu? Người này hỏi, người khác hỏi. Hạnh chạy trong đám đông về được nhà chị Hai Chinh, ở trong nhà người bà con bạn dì rồi, có thể hợp pháp được mà lòng không yên, rất lo không biết Năm Dừa có mệnh hệ gì không. Hạnh nghĩ, tình thế ni ảnh không chết thì cũng rơi vào tay chúng nó. Buổi chiều có vẻ yên dần, mệt quá, Hạnh ăn được lưng chén cơm ở nhà chị Hai Chinh rồi lên giường nằm. Chị Hai Chinh là mẹ của Hồ Văn Chinh. Phần lớn chị em trong tổ của Hạnh đi xuống đường người trước, người sau lần lượt về đến nơi. Các tổ khác lần lượt cũng về, mặt mày, áo quần nhàu nhĩ như lá chuối hơ lửa. Nhiều người chết, một số nòng cốt bị bắt, ai cũng lo buồn, nhưng không có Năm Dừa thì như rắn không đầu. Nằm thao thức đến 12 giờ đêm thì bỗng nghe: Năm Dừa đây! Năm Dừa về đến sân thì lên tiếng. Mới nghe tiếng Năm Dừa tưởng mơ. Mọi người thức dậy, vui mừng ứa nước mắt. Từ đó, hình ảnh một anh nông dân có nước da ngăm ngăm, đôi mắt nhỏ, có cái môi hơi trề, nói chung là xấu trai, dần dần không làm cho Hạnh bận tâm, cứ mỗi ngày một chút cảm tình lấn dần trong những suy nghĩ về một Năm Dừa nói năng hùng hồn, Năm Dừa truyền đạt Nghị quyết trong bốn bề bom đạn mà nghe như thắng lợi đến nơi, một Năm Dừa gan dạ, mưu trí, tả xung hữu đột trong sào huyệt giặc.

Sau Mậu Thân, chấp hành lệnh của Đặc khu ủy, Năm Dừa lại đột nhập vào nội thành Đà Nẵng. Trong thời gian làm việc với các cơ sở trong nội thành, Năm Dừa được một học sinh tên là Phạm Phú Long đưa về ở lại trong nhà mẹ Nhu, như là một người bạn học trốn lính. Tên thật của mẹ Nhu là Lê Thị Dãnh, có chồng là ông Phạm Cầm, người làng Mỹ Thị, có người con trai đầu là anh Hai Nhu nên gọi là mẹ Nhu. Năm Dừa được Phạm Phú Long, con trai của mẹ là cơ sở của thanh niên - học sinh, đưa về nhà, bề ngoài là bạn của Long, đóng vai một thanh niên trốn bắt lính. Mẹ coi Năm Dừa như Long, đói no ngày ba bữa. Phú Long bố trí cho Năm Dừa một cái giường nhỏ đặt ở một góc trong nhà, có bức màn che, bên trong một hàng chum, vại đựng mắm, muối. Tới bữa, mẹ dọn cơm lên mâm, đậy lồng bàn, bưng vô buồng cho Năm Dừa. Thấy mẹ ngày ngày bưng cơm, ngại quá, Năm Dừa nói với mẹ: Bữa sau, mẹ thay cái lồng bàn bằng cái thúng cho tiện. Bưng cái thúng vào buồng không ai để ý. Thật ra thì mẹ đã để ý từng động thái của Năm Dừa, từ mối quan hệ với con trai của mẹ, ngày nào hai đứa cũng rầm rầm rì rì, tối lại thì dẫn nhau đi đâu, khuya lơ mới về nhà, đi về thì khỏa dấu chân. Đi đái cũng lấm la lấm lét, nhìn trước nhìn sau.

Năm Dừa vào trụ lại để trực tiếp chỉ đạo công tác thành phố, xây dựng lực lượng biệt động thành và nắm rõ hơn hoạt động của bọn “bình định” bận đồ đen thực hiện “ba cùng” đang gây rất nhiều khó khăn cho cơ sở. Với bọn “ba cùng” thì không thể ăn ở tạm bợ, hai anh em bí mật làm một chỗ trú bất ngờ trong đống lưới vây to đùng ở sau hè nhà. Hôm nào đi về làm khuya, hoặc nghe bọn chúng rục rịch gì đó thì rúc vô cái ổ trong đống lưới nằm cho chắc chuyện. Một hôm, Năm Dừa từ trong đống lưới lom khom rúc ra, tay cầm cây K54, thì mẹ “bắt được quả tang”. Mẹ sững sờ đứng nhìn Năm Dừa, mắt mở to. Không còn biện bạch quanh co, Năm Dừa khai thật với mẹ: “Con là quân Giải phóng. Nói sợ mẹ lo nên bọn con giấu. Mẹ thương tụi con”. Mẹ Nhu ôm Năm Dừa, mẹ dậm chân, òa khóc: “Tau tưởng mi trốn lính, ai hay mi làm cách mạng, để mi chui ngủ trong góc buồng, ăn cực, ăn khổ…”. Mẹ trách Phú Long sao không nói sớm cho mẹ biết anh là quân Giải phóng.

Từ đó, mẹ đồng ý cho làm hầm bí mật ngay trong nhà, rồi việc ăn uống, quy chế đi lại cũng khác hơn. Chị Tám Trang (Huỳnh Thị Trang) trở thành người bảo vệ cho Năm Dừa, chị luôn để ba quả lựu đạn M26 trong cái trả treo trên giàn bếp, phòng khi bị phục kích thì chị tung lựu đạn cho Năm Dừa chạy thoát. Anh Năm Được (Ngô Văn Được) chồng chị Tám Trang, con gái mẹ, cũng đối xử với Năm Dừa như con em trong nhà. Anh Ngô Văn Được làm nghề lái xe, Năm Dừa giao cho anh chuyển củi, trong là vũ khí, từ bãi biển Xuân Thiều về bí mật giấu trong nhà mẹ Nhu. Phú Long biết làm giấy tờ giả cho Năm Dừa đi lại, kiếm cho Năm Dừa một bộ đồ “bình định” để che mặt người lạ. Từ căn hầm trong nhà, bên hàng chum vại, được sự đồng ý của mẹ, Năm Dừa cùng Long làm thêm một cái hầm bí mật ngoài bụi tre sau nhà, với lý do là ở ngoài sẽ an toàn hơn trong nhà. Ở trong nhà mẹ Nhu, Năm Dừa xây dựng thêm được một số nhà cơ sở ở Thanh Khê, như nhà bà Bốn Hường, nhà bà Hiền bán mắm, muối, nhà bà Sáu Xoài, nhà anh Tư Đức, nhà chị Nhiên… Xóm nhà mẹ Nhu trở thành một cái lõm cách mạng. Có được ba căn hầm bí mật, Năm Dừa đưa hai tổ biệt động về ở rồi xuất quân đánh tan tành một trung đội “bình định” đóng cách nhà mẹ hơn 200 mét. Đánh xong, thu vũ khí, ngụy trang giấu dép su lừa địch là rút về hướng Phước Tường, bí mật rút về nhà mẹ.

Một mình Năm Dừa Việt cộng, mẹ đã phải lo cho ăn khá hơn, lo làm sao bảo đảm được bí mật, lại thêm anh em biệt động còn quá trẻ, mẹ phải lo ăn, lo cảnh giới và lo đổ phân cho anh em thật là vất vả. Hồi bấy giờ ở vùng biển Thanh Khê nhiều nhà chưa có cầu tiêu. Bà con ra rừng dương liễu gửi phân dưới cát. Anh em của Năm Dừa đi vào một cái thùng thiếc, tối lại, ngó chừng thấy vắng người, gánh đôi thùng ra dận ngoài biển.

Khi Năm Dừa kiêm chức quận đội trưởng thì Lữ Hùng là một quận đội phó. Năm Dừa vào thành phố họp kiểm điểm đánh giá công tác, chấn chỉnh việc đi đứng có phần chủ quan, mất cảnh giác, cấm hút Ruby… và quyết định Lữ Hùng phụ trách biệt động, chuẩn bị phương án đánh đồn lính Phú Lộc lần thứ hai (vì trận đánh trước không đạt yêu cầu). Một tổ bốn chiến sĩ đóng trong nhà mẹ Nhu, một tổ ba chiến sĩ đóng trong nhà mẹ Vàng (Hiền). Trong một lần Năm Dừa lên chiến khu họp, nghe anh em phản ánh Lữ Hùng có những biểu hiện không bình thường. Chưa có phương án thay thế, thì hôm đó, đang ở trong nhà mẹ Nhu, Lữ Hùng nói với anh em sang làm việc với tổ biệt động ở nhà mẹ Vàng để bàn triển khai diệt bọn bình định. Anh em thấy lạ, lão nầy, mọi ngày nhút nhát, thích ăn sướng, hút Ruby, thường bàn ra, sao hôm nay lại đề cập đến chuyện diệt bọn ác ôn? Không ngờ, ngay đêm đó, Lữ Hùng đi thẳng lên đồn địch đóng ở Thanh Khê. Sáng sớm hôm sau Lữ Hùng đưa một tiểu đoàn bảo an về bao vây nhà mẹ Nhu.

Mới thức dậy, mọi người đang bộn bề với việc nhà, mẹ đang làm bánh mì cho anh em ăn bỗng thấy một tốp lính đi vào. Các chiến sĩ vừa kịp xuống công sự thì một tốp lính xông vào nhà. Một tên chĩa súng vào ngực mẹ, hỏi: - Cộng sản đâu, chỉ mau?

- Cộng sản đâu trong nhà tui. Sao không hỏi cậu mà hỏi tui? - mẹ bình tĩnh trả lời.

- Chứa Cộng sản trong nhà mà mụ già nầy còn ngoan cố hử - hắn dọa - Chỉ hầm bí mật!

- Các ông giữ mà để Cộng sản họ lọt vô đây thì các ông là đồ ăn hại - mẹ nghiêm nét mặt, nặng lời.

- Làm hầm chứa Cộng sản trong nhà, không chỉ hả? Giở tấm cốt lên! Hắn nhìn tên lính đi theo, chỉ tay vào dãy chum, quát. Hầm ở dưới chân cái ảng kia kìa!

Không còn là lúc dùng mật khẩu khua gà hay la chó như thường ngày thông báo cho anh em ở dưới hầm biết, mẹ phát lệnh chiến đấu: - Nó phản rồi con ơi. Đánh đi!

Lời mẹ chưa dứt thì tên chỉ huy bắn mẹ gục ngay giữa nhà, máu trào ra. Mẹ la to: “Xông lên các con!”. Mẹ tắt thở. Hai mũi lính lăm lăm súng tràn vào sân, vây quanh nhà mẹ. Tức thì nắp hầm trong nhà bật mở, một quả lựu đạn M26 nổ đoành. Ba chiến sĩ vọt lên quét tiểu liên như mưa. Trong khi hai mũi lính Sài Gòn lui ra, thì từ căn hầm bí mật ngoài bụi tre sau nhà mẹ Hiền, bốn chiến sĩ biệt động Nguyễn Văn Phương, Nguyễn Văn Mười, Trần Chi và Võ Văn Năm tức thì vọt lên, hình thành ngay hai mũi tiến công phối hợp, làm cho bọn địch bất ngờ lui ra xa cố thủ. Bắt đầu một cuộc chiến đấu giữa 7 chiến sĩ biệt động thành với một tiểu đoàn lính Sài Gòn, có chi viện của quân Mỹ, suốt một ngày 26-8-1968. Cuộc chiến đấu kéo dài đến tối mờ, bên ta, một chiến sĩ là Nguyễn Văn Huề hy sinh, còn Trần Chi và Võ Văn Năm sau đó thì bị bắt vì đã kiệt sức. Ta diệt hàng trăm tên địch, làm chúng nể sợ các chiến sĩ Giải phóng, làm náo động cả phía tây thành phố…

Sau ngày giải phóng, thành phố Đà Nẵng dựng tượng bằng đồng để nhớ và biết ơn mẹ Nhu - người Mẹ Anh hùng, tại ngã ba Thanh Khê, dân tứ xứ qua đây nhìn mẹ, gọi mẹ là Mẹ Dũng sĩ Thanh Khê.

  • PArner Honvietquochoc
  • Viet nam air
  • free hit counter script