HV142 - Giai thoại về bút danh, nghệ danh văn nghệ sĩ

12 Tháng Mười Một 2019 1:05 CH
XUÂN TÙNG

Bookmark and Share

Hình ảnh của HV142 - Giai thoại về bút danh, nghệ danh văn nghệ sĩ

Mỗi người sinh ra đều được bố mẹ đặt cho một cái tên. Sau khi lớn, một số người bước vào hoạt động văn học nghệ thuật lại tìm riêng cho mình một nghệ danh hay bút danh. Xin giới thiệu một vài giai thoại về nghệ danh hay bút danh của văn nghệ sĩ.

Hunh Minh Siêng là ai?

Sau khi đất nước thống nhất, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước trở lại miền Bắc được bạn bè hỏi: Tại sao những bản nhạc của anh từ miền Nam gửi ra miền Bắc đều ký bút danh Huỳnh Minh Siêng? Nghe hỏi, Lưu Hữu Phước bèn cười to: “Chính tôi cũng thắc mắc điều đó. Các bạn còn nhớ hồi kháng chiến chống Pháp, một số anh em văn nghệ sĩ trẻ Nam Bộ có thành lập một nhóm văn nghệ lấy tên Huỳnh Mai Lưu gồm có Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, Phạm Hữu Tùng, Lưu Hữu Phước và Nguyễn Mỹ Ca. Anh Nguyễn Mỹ Ca đã hy sinh trong kháng chiến chống Pháp. Khi các văn nghệ sĩ quen tên từ miền Bắc trở về miền Nam hoạt động sau năm 1954 phải thay đổi bút danh. Khi về Nam, tôi lấy bút danh Huỳnh Mai Lưu ghi vào sáng tác để gửi ra Bắc, không hiểu sao những bản nhạc của tôi gửi ra Bắc được Đài Tiếng nói Việt Nam ở Hà Nội xưng danh là tác giả Huỳnh Minh Siêng. Khi nghe Đài Tiếng nói Việt Nam phát thanh, tôi nghĩ cậu Huỳnh Minh Siêng nào đó đã cuỗm những bài hát của tôi gửi phát lên đài. Đó là sự tam sao thất bản đến nay chưa có giải thích”.

Tc danh - Thanh danh

Anh có tên là Phu, quê ở Hải Hưng, trong kháng chiến chống Pháp thuộc bộ đội quân khu tả ngạn. Người đen đủi nhỏ nhắn nhưng chữ viết rất đẹp. Ở đơn vị có những đợt rèn cán chỉnh cơ, hay các phong trào hoạt động tuyên truyền sản xuất, chiến đấu… đều do Phu đảm nhận đi kẻ những khẩu hiệu trên các bức tường, bức vách hay gốc cây to cho đơn vị. Anh em thường đùa với Phu là “Phu chữ”, kiểu chơi chữ của nhà văn Nguyễn Tuân.

Phu lại chăm chỉ viết lách những mẩu tin, những tạp văn… gửi cho các báo. Phu rất mê sáng tác. Một lần, Phu nhờ nhà văn Nguyễn Khải đọc một vở kịch và xin anh một bút danh để ghi vào tác phẩm. Nhà văn Nguyễn Khải ngạc nhiên khi đọc kịch bản của Phu và bảo: “Kịch của cậu đậm sắc kịch phim, cậu nên đọc lại kỹ, sửa chữa và gửi cho hãng phim quân đội. Còn bút danh thì theo mình cậu không nên đi tìm đâu xa mà chỉ lấy cái tên của cậu mà anh em thường gọi đùa là ‘thằng Phu’ đọc lái lại là có một nghệ danh hay”. Thế là từ một tục danh thành một thanh danh đẹp. Nhạc sĩ đã có nhạc sĩ La Thăng, thi sĩ có nhà thơ Chu Thăng. Trong làng báo đã có nhà báo Nhật Thăng, nay có nhà văn viết kịch phim Phù Thăng (đọc lái hai từ “thằng Phu”) trở thành nhà viết kịch phim sáng giá.

Ma Văn Kháng - nhà văn mang hai h

Nhà văn Ma Văn Kháng quê gốc làng Kim Liên - Hà Nội nhưng sinh ra và học tập ở Sơn Tây, làng Ai Mỗ, Sơn Lộc (Tùng Thiện). Sau năm 1954, Ma Văn Kháng mới về quê gốc ở phương Nam Trấn thờ Cao Sơn đại thần (trấn Kim Liên). Năm 19 tuổi, ông lên công tác ở Lào Cai sau khi tốt nghiệp trung cấp sư phạm ở Quế Lâm. Anh quen thân với một anh cán bộ người Kinh có họ Ma. Bị một tai nạn suýt chết, được anh cán bộ cứu sống. Từ đó kết nghĩa anh em và lấy tên Ma Văn Kháng, và báo cáo với tổ chức để sử dụng tên đó trong đời thường và ký trên các giấy tờ (kể cả khi làm hiệu trưởng trường cấp III Lào Cai và làm thư ký cho Bí thư Tỉnh ủy). Khi về học đại học, một số bạn cũ còn nói lúc ấy anh giải thích: Ma là Matrosov (một vị anh hùng của Hồng quân Liên Xô), Văn là văn học Việt Nam, Kháng là kháng chiến chống Pháp. Khi hỏi lại thì Ma Văn Kháng cho đó là chuyện vui thời sinh viên lãng mạn. Cũng có họ Ma ở Nghệ An tưởng ông họ người dân tộc thiểu số, mời về để nhận họ! Hồi đó bút danh không nhằm để viết văn. Sau này trở thành nhà văn thì bút danh Ma Văn Kháng trở nên một thiên chức chứ không phải một hư danh.

Trưởng thành từ một thiếu sinh quân trong kháng chiến chống Pháp, kinh qua nhiều công tác, tên thật của ông là Đinh Trọng Đoàn, sinh ngày 1-12-1936. Ngoài sáng tác văn học, ông còn viết báo ký nhiều bút danh như Kiều Trung Hòa, Hồ Ngọc Khánh, Hoàng Liên Sơn, Đinh Kim Liên… Những bút danh này không chỉ là bút danh mà còn là những địa danh gắn bó với nhà văn, những nơi ông đã từng sống, làm việc và sáng tác.

Cho đến nay, Ma Văn Kháng có gần 100 đầu sách, 30 tập truyện ngắn, 20 tập tiểu thuyết… được dịch in hàng chục đầu sách ở nước ngoài như Nhật, Mỹ, Đức, Nga, Pháp, Hàn Quốc… Ông còn viết tiểu luận phê bình, tạp chí, đọc sách… và đã đạt nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế. Ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học - nghệ thuật năm 2001 và Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học - nghệ thuật năm 2012.

Chế Lan Viên - gia nhp dân tc Chăm

Trước Cách mạng tháng Tám, ở Bình Định có nhóm thi sĩ gọi là “Tứ linh thành Đồ Bàn” gồm có Quách Tấn, Hàn Mặc Tử, Yến Lan và Chế Lan Viên. Chế Lan Viên người Quảng Trị, tên thật là Phan Ngọc Hoan. Thời gian sống ở Bình Định bằng nghề dạy học tự do như Lâm Thanh Lang và nghiên cứu sáng tác về dân tộc Chăm, lúc đó còn gọi là người Hời hay người Chiêm Thành. Phan Ngọc Hoan sáng tác được nhiều bài thơ về dân tộc Chăm, tập hợp vào một tập lấy tên là Điêu tàn. Đang tìm một bút danh để in tập thơ, lúc đầu Hoan chọn là Chế Bồng Hoan cho có vẻ Chăm. Nhưng khi đến nhà Lâm Thanh Lang (Yến Lan) thấy vườn của ông bố Lang trồng luống hoa lan đẹp quá, Hoan đổi bút danh Chế Bồng Hoan thành Chế Lan Viên (vườn lan của Chế). Năm 1937, xuất bản tập thơ Điêu tàn ở Hà Nội (17 tuổi). Năm 1941, dạy văn học ở trường trung học tư thục Chấn Thanh - Đà Nẵng. Chế Lan Viên yêu cô Giáo (người đẹp thứ hai của trường) có hai con. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, sang Trung Quốc chữa bệnh. Ở Trung Quốc về, bị phụ tình, Chế Lan Viên xây dựng gia đình với cô Lê Kim Nga - một cán bộ phụ vận ở Thái Bình, sau đó viết văn lấy tên Vũ Thị Thường - có hai con gái. Một cô theo nghề bố mẹ (Phan Thị Vàng Anh) và đã là ủy viên BCH Hội Nhà văn Việt Nam khóa 7 (2005-2010). Chế Lan Viên đã in hơn 50 tập thơ văn, lý luận, phê bình, nghề văn… Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996.

Nguyn Thế Phương - ly tên anh làm bút danh

Khi Nguyễn Xuân Phê sinh ra thì người anh đầu đã mất. Do đó, mọi việc trong gia đình nội bộ dòng họ và hàng xóm Phê phải thay anh gánh vác. Sau những năm học tập thành nhân, say mê viết văn và có được tác phẩm xuất bản trên sách báo. Khi này Nguyễn Xuân Phê nghĩ đến chọn một bút danh tác giả để in vào tác phẩm, nghĩ mãi chưa tìm ra bút danh nào vừa ý, Phê bèn hỏi cha, một người theo Nho học. Ông bảo “đi tìm làm gì cho vất vả. Lâu nay, con thay anh lo mọi việc gia đình, làng họ thì lấy tên anh con mà làm bút danh cho sáng tác vậy”. Xuân Phê nghe lời bố, bèn lấy bút danh Nguyễn Thế Phương in vào các tác phẩm của anh. Quyển tiểu thuyết dày mấy trăm trang in có tên Đi bước nữa xuất bản năm 1960 có dư luận ca ngợi. Tiếp theo, cuốn tiểu thuyết Nắng. Sau đó là tiểu thuyết Ngày trở về in năm 1978 của Nguyễn Thế Phương được người đọc đón nhận.

Văn cao - Vũ cũng cao

Xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định là quê tác giả bài hát Quốc ca - Văn Cao; cũng là quê của tác giả bài thơ tình nổi tiếng Núi đôi - Vũ Cao. Nhiều người núi vui: đã Văn Cao mà Vũ cũng Cao. Vũ Cao tên thật là Vũ Hữu Chỉnh, gia đình có ba anh em đều là nhà văn: Vũ Hữu Chỉnh (Vũ Cao), Vũ Tiến Nam (Vũ Tú Nam) và Vũ Ngọc Bình. Làng này có nhiều người tài: nhạc sĩ Văn Ký, tác giả Bài ca hy vọng nổi tiếng một thời; hai nhà ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch và Phạm Bình Minh là hai bố con nhà ngoại giao đáng giá của vùng đất “Văn cao mà Vũ cũng cao” này.

Sao là Lê Anh Xuân?

Nhà văn hóa Ca Văn Thỉnh quê ở Bến Tre. Các con gái đều theo nghề văn học nghệ thuật. Con trưởng Ca Lê Thuần là nhạc sĩ, nguyên Phó chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Con gái thứ Ca Lê Hồng được Liên Xô đào tạo ngành đạo diễn. Con trai áp út Ca Lê Hiến tốt nghiệp khoa Sử - Đại học Tổng hợp Hà Nội, được giữ lại trường làm cán bộ giảng dạy.

Hồi đó, khoa Sử - Đại học Tổng hợp Hà Nội đóng gần chùa Láng (Hà Nội). Đường lên trường Đại học Sư phạm Hà Nội chỉ vài cây số, Ca Lê Hiến yêu cô nữ sinh Bùi Xuân Lan, học ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội, là em gái nhà văn Bùi Đức Ái, công tác ở Ban Văn nghệ. Bùi Đức Ái thường ghé vào thư viện mượn sách để đọc. Cô thủ thư Trần Phúc Mộng Loan có cảm tình gọi Bùi Đức Ái là “anh Đức”. Sau khi về miền Nam, ông sáng tác văn học lấy bút danh là Anh Đức để nhớ kỷ niệm với cô thủ thư. Sau này Trần Phúc Mộng Loan vượt Trường Sơn vào Nam Bộ và hai người cưới nhau ở R.

Năm 1964, Ca Lê Hiến cũng về Nam chiến đấu. Vì ở miền Bắc anh đã xuất bản mấy tập thơ Tiếng gà gáy (1965), Trường ca Nguyễn Văn Trỗi (1968), Hoa dứa (1971)… và được giải nhất bài Mưa quê hương nên phải đổi bút danh. Ca Lê Hiến bèn lấy ba chữ lót của Ca Hiến - Bùi Anh Đức - Bùi Xuân Lan thành Lê Anh Xuân làm bút danh mới cho mình. Bài thơ Dáng đứng Việt Nam của Lê Anh Xuân là bài thơ nổi tiếng của anh sáng tác trong những ngày chiến đấu ở miền Nam.

Tô Hoài - nh mt cái gì đó

Người cha quê Hoài Đức đến Nghĩa Đô làm thợ dệt, lấy vợ cạnh sông Tô Lịch đẻ ra Nguyễn Sen. 15 tuổi, Nguyễn Sen đi bán hàng thuê ở cửa hàng giày Bata tại Hà Nội. Mỗi tháng cửa hàng trả lương 5 đồng. Ham đọc và ham viết, anh thường đến nhà văn Vũ Ngọc Phan mượn sách và giúp ông làm phích cho bản thảo Các nhà văn hiện đại. Thấy Nguyễn Sen yêu thích văn học, Vũ Ngọc Phan giúp đỡ và hướng dẫn cách viết. Khi một truyện ngắn của Nguyễn Sen được in trên tờ báo do Vũ Ngọc Phan làm chủ bút với bút danh Tô Hoài - là hai chữ lấy tên giữa quê bố và quê mẹ - anh được trả nhuận bút 5 đồng, bằng lương đi làm cả tháng. Số tiền nhuận bút đầu tiên này, Tô Hoài mang đi sắm áo quần, giày mũ và mua quà cho cả nhà vẫn còn thừa. Hồi đó không phải ai gửi truyện đến báo và được in đều được trả nhuận bút. Báo chỉ trả nhuận bút cho những ai họ đặt bài. Cả sau này Tô Hoài hàm ơn Vũ Ngọc Phan, có lúc suýt là con rể cụ. Có người hỏi ý nghĩa của bút danh Tô Hoài? Ông không nói đó là bút danh gắn hai địa danh quê cha và quê mẹ mà cười nói: “Tô Hoài là nhớ một cái gì đó, giống như nhà thơ Tố Hữu, bút danh của Nguyễn Kim Thành, Tố Hữu là có một cái gì đó”.

Yến Lan - thân phn trai mà gái

Gốc là người Minh Hương, đẹp trai và làm thơ hay, được nhiều bóng giai nhân mê dù Lâm Thanh Lang sống bằng nghề tự do. Từ Thanh Hóa đến Hà Tiên đã có hàng chục cô gái yêu. Ở Tam Quan có cô gái đẹp Lê Điệp yêu nhưng lại câm. Vào Hà Tiên, vợ chồng Đông Hồ - Mộng Tuyết yêu quý giới thiệu cô Chúc, nhưng tình cầm sắt đổi sang cầm kỳ. Chỉ ở thành Đồ Bàn, hai cô gái có tên là Nguyễn Thị Lan và Bạch Thu Yến yêu, sau khi cô Yến bị mất tích ở Nha Trang, cô Lan lấy Lâm Thanh Lang và anh đổi bút danh từ Xuân Khai trước đây thành Yến Lan, để ghi dấu mối tình của hai cô gái đẹp. Chính bút danh Yến Lan đó gây nhiều phiền toái cho Lâm Thanh Lang, nhất là khi có thơ in báo, báo gửi nhuận bút nhưng khi ra bưu điện không cho nhận vì cho rằng tên Yến Lan là nữ, không cho ông Lâm Thanh Lang nhận tiền. Đúng thân phận trai mà lại là gái!

* * *

Bút danh của văn nghệ sĩ đa hình vạn trạng nhưng phần lớn đều trùng tên cha mẹ đặt khi mới sinh ra như: Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Văn Bổng, Bùi Hiển, Đinh Quang Nhã… Có người biến bút danh thành trò chơi như Trần Khánh Giư đảo các chữ trong tên mình để tạo thành tên mới Khái Hưng; hay trước đây có người lấy bút danh nghe tưởng là tên Tây như TCHYA (tôi chưa yêu ai) hay TYPN (tôi yêu phụ nữ). Một nghệ sĩ ở Nam Bộ thời kháng chiến chống Mỹ lấy bút danh chiết tự một dãy chữ Rum Bảo Việt, nghe như tên một loại rượu của Pháp nhưng được giải thích là Rừng U Minh bảo vệ Việt Nam. Có người lấy tên đọc lái như: Trinh Đường (Trương Đình), Lữ Huy Nguyên (Nguyễn Huy Lư)…  Lấy tên một dòng sông như Bảo Định Giang (Nguyễn Thanh Danh), Thu Bồn (Hà Đức Trọng), Ngân Giang (Đỗ Thị Quế)… Lấy tên một địa danh quê hương có gắn bó với đời mình như Định Hải, Triệu Bôn…; tên quê hương bố mẹ như Phương Lựu… Lấy họ và chữ lót như Nguyễn Duy (Nguyễn Duy Nhuệ); lấy chữ lót và tên thật như Xuân Diệu (Ngô Xuân Diệu), Tế Hanh (Trần Tế Hanh), Xuân Sách (Ngô Xuân Sách)…

  • PArner Honvietquochoc
  • Viet nam air
  • free hit counter script