HV145 - Chuyện bên dòng sông Tranh

24 Tháng Ba 2020 11:00 SA
HỒ DUY LỆ

Bookmark and Share

Hình ảnh của HV145 - Chuyện bên dòng sông Tranh

 Sông Tranh là một nhánh của sông mẹ Thu Bồn, bắt nguồn từ đỉnh núi huyền thoại Ngọc Linh - nay là thủ phủ của cây sâm quý mang tên núi rừng Ngọc Linh. 
Sông Tranh chảy qua các xã Trà Nam, Trà Cang, qua các bản làng người các dân tộc Cor, Ca Dong. Bà con dân tộc thiểu số gọi sông này là sông Đắc Di, sông Nậm Nin. Trên dòng Nậm Nin có những con suối lớn từ nguồn đổ xuống tạo thành những cái thác dữ, nước réo ì ầm ngày đêm. Sông Nậm Nin chảy đến đồi Gò Mè, hai nhánh sông nhập dòng tạo thành ngã ba sông. Từ đây mới gọi là sông Tranh. 
Ở ngã ba sông Tranh với những ghềnh đá trập trùng cùng nhạc nước tạo nên một âm thanh lúc buồn, lúc vui, hòa thành bản trường ca của núi non, của sông suối, của đất và trời, làm xao xuyến lòng người. Núi và sông hòa hợp tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp! 
Từ năm 1885 đến 1887, Nghĩa hội Quảng Nam cùng thủ lĩnh Nguyễn Duy Hiệu, thường gọi là cụ Hường Hiệu, bao năm dày công xây một hệ thống phòng thủ kỳ vĩ, chạy từ An Tráng ra Bình Huề đến Phước Sơn... Cùng với bờ thành phòng  thủ chống thực dân Pháp là bến thuyền Tân An - bến từng đưa đón bước chân của thủ lĩnh Nghĩa hội Quảng Nam, gọi là bến Thuyền Hầu, đáng gọi là di tích lịch sử. 
Thời chống Mỹ cứu nước, một đường dây giao liên chạy qua bến đò Ba Lức, rồi chạy về bến đò Tân An của thị trấn Hiệp Đức ngày nay... Địch biết đường dây và khu vực bến đò là nơi các chiến sĩ Giải phóng thường xuyên qua lại nên ngày đêm dội pháo, bom vô cùng ác liệt: 
Quế Tiên có Dốc cây si
Có đò Ba Lức
Có đi không về! 

Ngày nay, người người, nhiều nhất là trai trẻ, thích thú cỡi xe máy, mang ba lô về phương có dốc núi, có sông sâu, nhiều thác nước - là theo tuyến du lịch sinh thái, là du lịch về nguồn. Nhân dân Hiệp Đức vừa đón nhận Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc “Công nhận An toàn khu cho hai xã Phước Trà và Sông Trà…”.

Xuân lại về. Chúng tôi về thăm căn cứ Phước Trà - căn cứ Khu ủy 5.
Buổi chiều, trời dịu nắng, đi dạo dưới vòm cây lá xanh, hoa gạo đỏ, trong khu căn cứ được phục hồi bên dòng sông Tranh, gió mát rượi, gợi nhớ biết bao điều về những ngày chưa xa…
Thăm phòng trưng bày hình ảnh lịch sử của căn cứ Phước Trà, tôi dừng lại lâu hơn trước bức ảnh Bí thư Khu ủy Võ Chí Công và tướng Tư lệnh Quân khu 5, Chu Huy Mân. Duyên nợ nào, một người con của xứ Quảng và một người con của xứ Nghệ, lại gặp nhau trong những thời khắc lịch sử có một không hai và gắn bó nhau, với quân, dân, sông, núi dằng dặc Liên khu 5! 
Căn cứ xây dựng bên bờ con sông Tranh đầy trầm tích, dựa vào rừng sâu cây xanh, núi cao đá dựng và lòng dân không phôi pha - cả người Kinh và người Thượng làng Phước Trà - một vùng đất, từ tháng 3 năm 1960, của thế kỷ 20, còn đen tối dưới gông cùm và lưỡi lê của Luật 10/59; người dân làng Ông Tía, thôn sáu xã Phước Trà, dưới chân núi Vin, giữa thanh thiên bạch nhật, với gươm, đao, rựa, chân đất, lưng trần, áp sát chặt đầu bọn tay sai hung ác. 
Một lòng yêu dòng sông mẹ, yêu rừng núi quê hương, những người dân lành trải qua tình cảnh ác liệt, đói nghèo vẫn một lòng vì cách mạng, hết lòng giữ gìn bí mật bảo vệ cách mạng - là chỗ dựa không lung lay! 
Sau khi ký Hiệp định Paris, 1973, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định chuyển từ căn cứ Nước Oa - Trà Tân về Bắc Trà My. Tình hình chuyển biến nhanh, liền hành quân về xã Phước Trà xây dựng căn cứ - làm bản doanh thảo luận và lên kế hoạch hình thành một “khu chiến”, thực hiện chiến dịch Thu 1974 - chiến dịch Nông SơnTrung Phước và Thượng Đức, mở toang “cánh cửa thép” kềm kẹp vòng ngoài của tỉnh lỵ Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng - căn cứ hải lục không quân của Mỹ, mở ra một tình hình mới để Bộ Chính trị quyết định tấn công giải phóng Đà Nẵng… 
Tại căn cứ Phước Trà, từ ngày 5 đến 22-121973, diễn ra Đại hội đại biểu lần thứ 3, có 246 đại biểu ưu tú, đại diện cho 46.000 đảng viên toàn Khu ủy 5, về dự. Đại hội bầu đồng chí Năm Công (Võ Chí Công) làm Bí thư Khu ủy, đồng chí Hai Mạnh (Chu Huy Mân) làm Phó bí thư, giữ chức Tư lệnh Quân khu 5. 
Trong thời điểm có tính lịch sử này, đại hội nghiêm túc thảo luận để quán triệt tinh thần Nghị quyết 21 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, do đồng chí Võ Chí Công mang từ thủ đô Hà Nội về từ tháng 7-1973. 
Vào lúc 22 giờ ngày 28-3-1975, nhận được tin Ngô Quang Trưởng, Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn I Sài Gòn, bỏ nhiệm sở lẻn lên máy bay trực thăng bay ra hạm đội 7 tìm đường thoát thân, tức thì, Ủy viên Ban thường vụ Đặc khu ủy Quảng Đà, Trần Hưng Thừa, liền gửi thư hỏa tốc cho giao liên chạy xe máy ra Phái Nhì - xã Điện Hòa báo cho Ban thường vụ Đặc khu ủy Quảng Đà và đề nghị đưa lực lượng vào giải phóng thành phố ngay! 
Nhận được thông tin vô cùng quan trọng này của ông Trần Thận, Bí thư Đặc khu ủy Quảng Đà, tại căn cứ Phước Trà, Bí thư Khu ủy 5 Võ Chí Công và Tư lệnh Quân khu 5 Chu Huy Mân hạ lệnh cho các mũi quân tiến vào Đà Nẵng! 
Sáng sớm ngày 29-3-1975, tại số nhà 245 đường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng - ngôi nhà của gia đình bà Nguyệt Ánh, ông Trần Hưng Thừa, Ủy viên Ban thường vụ Đặc khu ủy, Bí thư quận nhất, phát lệnh khởi nghĩa trong nội thành Đà Nẵng. 

 

Vào lúc 11 giờ 45 phút ngày 29-3, Sư trưởng Nguyễn Chơn đã có mặt tại Sở chỉ huy Quân đoàn 1. Tại phòng của tướng Tư lệnh Vùng 1 Ngô Quang Trưởng, quân của Nguyễn Chơn thu một  lá cờ của Quân đoàn 1, một lá “cờ chiến thắng Mậu Thân”, một lá “cờ chiến thắng Quảng Trị”, một khẩu súng ngắn bỏ túi của Ngô Quang Trưởng sản xuất tại Canada. Trên bản đồ tác chiến, Ngô Quang Trưởng vẫn xác định hướng bắc là hướng chủ yếu. Nhờ chớp thời cơ, dốc hết lực lượng đánh nhanh, ta biến hướng nam, hướng quan trọng thành hướng chủ yếu đánh chiếm Đà Nẵng. 
12 giờ trưa ngày 29-3-1975, đoàn của Năm Công, Hai Mạnh, Hồ Nghinh có mặt tại ngã ba Quốc lộ 1 - Tứ Câu, một ngã ba nối các xã Điện Hòa - Hòa Phước - Điện Ngọc.
Tại Sở chỉ huy Quân đoàn 1 Đà Nẵng, Sư trưởng Nguyễn Chơn cử Trần Suyền, trợ lý tác chiến, mang con dấu của Ngô Quang Trưởng về Sở chỉ huy tác chiến của Quân khu 5 đang dừng chân ở Thanh Quýt, Tứ Câu, báo cáo cho Năm Công và tướng Hai Mạnh.


Cán bộ tuyên truyền ở Quảng Đà tại căn cứ Hòn Tàu, huyện Duy Xuyên

Tướng Hai Mạnh muốn xác định thật chính xác, hỏi quân ta đã đến Đà Nẵng thật chưa hay mới đến Vĩnh Điện? 
Sau bao năm dằng dặc, xông pha trận mạc, vừa dừng chân trên vùng đất từng đi qua, bỗng nhắc đến hai từ thân yêu Vĩnh Điện. Lòng rưng rưng, có thể vị tướng xúc động vì sắp đến mục tiêu Trung ương giao, hay nhớ về một kỷ niệm không phôi pha! Liệu trong đoàn quân đang dừng chân ở Thanh Quýt, Tứ Câu, ngoài Năm Công, ai hiểu tướng Hai Mạnh đang nghĩ gì? 


Chuyện rằng: 
Do hoạt động cách mạng và duyên nợ, ông Hai Tường, tức Võ Văn Đặng, và ông Nguyễn Tấn Ưng là dân làng Mộc - Kim Bồng - Hội An, cùng hoạt động cách mạng, trở nên thân thiết rồi ông Tấn Ưng thành người bạn trăm năm với  bà Võ Thị Siêng, em gái của ông Võ Văn Đặng. 
Khi ông Võ Văn Đặng bị giặc Pháp bắt giam ở nhà lao tỉnh (Vĩnh Điện) thì bà Võ Thị Siêng thường lên thăm mang thức ăn, thuốc uống cho anh Hai. Qua những lần thăm nuôi, tranh thủ lúc không có lính canh giữ, ông Hai Tường nói cho em gái biết đã từng làm quen và tìm hiểu một người tù xứ Nghệ vượt ngục đang tá túc trong nhà người bà con ở Vĩnh Điện. Người tù ấy, ở một ngôi nhà gần nhà lao tỉnh, ngày ngày đi bán kẹo đậu phụng... 
Theo hướng dẫn của anh Hai Tường, bà Võ Thị Siêng theo đò từ Cẩm Kim lên thị trấn Vĩnh Điện, lặn lội tìm người bán kẹo đậu phụng có tên là Hai Lạc. 
Sau một buổi vừa đi vừa hỏi thăm, bà Siêng tìm ra nhà bà Đức Long làm kẹo đậu phụng. Qua bà Đức Long, bà Siêng tiếp xúc được với anh Hai Lạc. Sau khi giới thiệu là em gái của anh Hai Tường thì, anh Hai Lạc đón nhận bà như người em gái trong gia đình. Bà Siêng trở thành người liên lạc thân cận của anh Hai Tường và anh Hai Lạc. Cũng từ những chuyến liên lạc, gặp nhau này mà ông Tấn Ưng biết, quen thân rồi cùng cô Siêng nên vợ nên chồng sống đến trăm tuổi. 
Hai Lạc (tức Hai Mạnh, Chu Huy Mân) tên thật là Chu Văn Điều, người ở Nghệ An. Năm 1943, ông cũng có một hành trình gian nan như các đồng chí Tố Hữu, Huỳnh Ngọc Huệ, Nguyễn Duy Trinh… được bà con làng Rô, Đại Lộc của Quảng Nam che chở; khi vượt ngục, Chu Văn Điều không dám về quê mà tá túc ở Vĩnh Điện, Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Để che giấu nhân thân và tránh sự truy lùng gắt gao của địch, khi về đến đất Quảng Nam ông lấy tên là Lạc, ngày ngày đi bán kẹo đậu phụng và tranh thủ lúc nắng, ngày mưa, ra khu đất vườn rộng sau nhà của bà Đức Long, cuốc đất trồng rau, cũng là nơi thường xuyên tiếp xúc với anh Hai Tường.... 
Sau khi biết rõ tông tích, ông Võ Văn Đặng mời anh Hai Lạc vào tổ chức Việt Minh của Quảng Nam. Đầu năm 1945, sau khi họp Tỉnh ủy lâm thời ở Vân Trai - Tam Kỳ, ông Tấn Ưng về Hội An họp bàn khôi phục lại tổ chức Đảng, đang triển khai Nghị quyết của Tỉnh ủy lâm thời cho các đồng chí ở Hội An thì được thư của ông Võ Văn Đặng giới thiệu, ông Tấn Ưng liền lên Vĩnh Điện tiếp xúc với anh Hai Lạc và báo cáo với Tỉnh ủy mời Hai Lạc vào tổ chức tỉnh và Ban bạo động khởi nghĩa.
Ngày 2-9-1945, hơn 10 vạn người chia thành từng đoàn biểu tình rất trật tự, mang theo cờ, băng, khẩu hiệu, ảnh Hồ Chủ tịch, có lực lượng tự vệ vũ trang đi đầu vào sân vận động Hội An để chứng kiến một sự kiện trọng đại: ngày tuyên bố độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.  


​Và, tiếp theo, chấp hành lệnh của Trung ương và Bí thư Khu ủy 5, tướng Chu Huy Mân hạ lệnh cho các mũi quân sẵn sàng cho chiến dịch Hồ Chí Minh, thần tốc tiến vào Sài Gòn ngày 30-41975!
Tại ngôi nhà 245 đường Phan Châu Trinh, vào lúc 17 giờ ngày 29-3-1975, ông Trần Thận cùng Trần Hưng Thừa, Nguyễn Duy Hưng lên ô tô chạy ra Tứ Câu, Thanh Quýt đón Bí thư Khu ủy 5 Võ Chí Công, tướng Chu Huy Mân và các vị Hồ Nghinh, Võ Văn Đặng... vào Đà Nẵng - thành phố sừng sững ở cuối sông Thu Bồn, nhìn ra biển Đông…

 

 

 

  

  • PArner Honvietquochoc
  • Viet nam air
  • free hit counter script