HV147 - Hồi ức và suy tưởng về anh Lành – Tố Hữu

13 Tháng Năm 2020 11:06 SA
Mai Quốc Liên*

Bookmark and Share

Hình ảnh của HV147 - Hồi ức và suy tưởng về anh Lành – Tố Hữu

Đối với thế hệ chúng tôi, nhà thơ Tố Hữu là một bật tiền bối – thế hệ của ông không phải là thế hệ “đàn anh”, mà là thế hệ “cha chú”. Ông làm cách mạng, bị tù đày, làm thơ từ lúc chúng tôi chưa có mặt trên đời này. Tôi sinh năm 1941 – năm ấy ông còn ở trong ngục Đắk Lay. Thế hệ anh chúng tôi như Trần Hoàn, Trương Xuân Thâm (một người anh họ tôi) học ở Lycée Khải Định (nay là Trường Quốc học Huế) khi ấy, chuyền tay nhau, đọc cho nhau nghe các bài thơ của ông và kể về những hành tung “bí ẩn” của ông như về một nhân vật huyền thoại… Kháng chiến chống thực dân Pháp, khi lũ chúng tôi đang vào tuổi chín, mười ở vùng kháng chiến liên khu V; một hôm không biết từ đâu các anh tôi đem về mấy tập Văn nghệ in từ chiến khu Việt Bắc. Chúng tôi đọc các bài Cá nước, Bầm ơi… bên cạnh các bài thơ của Thôi Hữu, Chính Hữu, những truyện ngắn của Nam Cao, Kim Lân… Bên cạnh cái kho tiểu thuyết Tự lực văn đoàn và Nhà xuất bản Tân dân, Phổ thông bán nguyệt san, Những ngày thơ ấu, Bảy Hựu… và thơ Huy Cận, Xuân Diệu, Huy Thông, Chế Lan Viên…, bên cạnh cả Tam quốc diễn nghĩ, Thuyết Đường… mà anh em chúng tôi “ngốn” gần hết trong những ngày không có gì để đọc ấy; Tố Hữu và Văn nghệ (Việt Bắc) thật là một sự xúc động cao cả… Chúng tôi mơ về Việt Bắc, cái xứ sở mfa chúng tôi đã mơ tới qua các bài hát của Văn Cao, Đỗ Nhuận, cái xứ sở thiêng liêng, bí ẩn và hấp dẫn lạ lùng…, cái thế giới có nhà thơ Tố Hữu. Tế Hanh có mấy câu thở mà chúng tôi rất thích vì nó nói hộ lòng chúng tôi ở Liên khu V hồi ấy:

“Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế”
Đọc câu thơ đồng chí ngỡ thơ mình…
Có ai gọi tên tôi trong gió bấc
Trong gió nồm tôi muốn gởi lời ra…

            Ra miền Bắc học tập, bọn học sinh miền Nam chung tôi – những đứa thiếu niên mới lớn, xa gia đình, quê hương và thể nghiệm nỗi đau chia cắt, tù đày, ly tán của miền Nam …, “cháy ruột mong một ngày thống nhất” về gặp lại cha mẹ, quê hương… những đứa trẻ ấy làm sao không tìm thấy ở “chú Tố Hữu” – một chú người miền Nam như mình – một người phát ngôn cho tình cảm của mình, một người đồng tâm đồng điệu? Chúng tôi đã uống từng lời thơ Tố Hữu, nhập tâm những lời thơ ấy, yêu mến nó như chính nó là mình và xem nó là phương châm sống của chúng tôi… Sau này, rất nhiều học sinh miền Nam đã trở lại chiến trường miền Nam, trong đó có nhiều bạn đã sống và viết theo phương hướng của thơ ca cách mạng mà Tố Hữu là người dẫn dắt – những người bạn cùng lớp cùng trường của tôi đã ngã xuống chiến trường và để lại những tác phẩm vọt trào từ tâm huyết và máu lửa: Ca Lê Hiến, Chu Cẩm Phong, hồng Tân, Nguyễn Trọng Định… Họ đã đi theo con đường thơ Tố Hữu mà họ tiếp nhận từ trên ghế nhà trường…

… Phải đến trong Đại hội Nhà văn lần thứ tư (1989), tôi đến thăm anh tại nhà riêng – thì đó mớ là lần gặp mặt đầu tiên giữa tôi và anh Lành. Gặp, anh ôm lấy tôi, thân thiết vô hạn; cái giây phút nói lên tất cả sự tin yêu của anh, sự trao truyền tình cảm tâm huyết từ anh sang tôi. Suốt từ đó cho đến cuối đời, “tạm biệt đời ta yêu quý nhất”, anh vẫn xem tôi là một người em thân thiết, tin cậy, có thể trao gửi tất cả. Thực lòng, tôi thương quý anh, kính trọng anh, xem anh là một phần của cuộc đời mình, một phần của thi ca và lịch sử Việt Nam thế kỷ XX. Tình cảm đó đã có từ thời thơ bé, lúc này đã trưởng thành thì nó trở nên vững chắc.

          
Bút tích của nhà thơ Tố Hữu trong tập thơ Từ ấy... Chào năm 2000 tặng người viết
  Không nhớ rõ đã có bao nhiêu lượt anh Lành, chị Thanh vô Thành phố Hồ Chí Minh – miền Nam; và bao nhiêu lần chúng tôi ra Hà Nội lên thăm anh. Mỗi lần vào, anh điện ngay cho chúng tôi lên chơi, nói chuyện suốt cả buổi, rồi đọc thơ… Tôi nhớ có một lần anh dịch xong thơ Đỗ Phủ, Cao Bá Quát và anh “triệu” tôi lên để nghe anh đọc… suốt cả một buổi chiều! Còn thơ mới làm thì vừa làm xong là anh “phô” cho chúng tôi xem trước, đề nghị “góp ý” – tôi hiểu là anh muốn tìm những người “đồng tình, đồng chí, đồng điệu”… Đối với người làm thơ, nghệ sĩ… việc ấy tối cần. Anh viết cho tôi: “Tôi luôn luôn nhớ đến anh và các anh em mình trong đó; những buổi trò chuyện cùng nhau giữa những người bạn chân thành và cùng tâm huyết là chất dinh dưỡng rất quý cho tâm hồn ta lúc này” (Thư ngày 11-12-1992).

 

            Anh chị vô Nam, thì có nhiều địa phương, xí nghiệp… mời anh chị đến chơi, chiêu đãi, trò chuyện… Anh quan tâm rất nhiều đến tình hình chính trị - kinh tế - xã hội và những dịp “đi thực tế” như thế anh có hứng để làm thơ… Phải nói là mặc dù tuổi trên 70, rồi trên 80…, anh Lành vẫn là anh Lành thuở “Tôi xin hiến đến cuối cùng suối máu/ Để nhuộm hồng bao cảnh xám bi ai”, thuở: “Hai mươi tuổi tim đang dào dạt máu/ Gân đang săn và thớ thịt căng da…” …Anh thảo luận say sưa tình hình thế giới – giai đoạn Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, tình hình đổi mới, kinh tế, chính trị, tổ chức cán bộ, văn hóa văn nghệ… Anh được Trung ương mời làm đặc phái viên của Trung ương về tư tưởng – văn hóa, ở trong Ban soạn thảo chiến lược… Phải nói rằng, thời Cụ Hồ chọn tướng, soái thật tuyệt vời, thật là “trời cho nhân tài” mà cụ cũng là người biết nhìn người, biết dùng người… Tố Hữu, một trong những học trò ưu tú của Cụ, người đã gần gũi Cụ nhiều – như cha – con, Cụ lớn hơn Tố Hữu 30 tuổi! – Tố Hữu đã được chọn từ hồi ấy, thật xác đáng vì tâm huyết mà cũng là vì “cái đầu” của anh, trí tuệ của anh. Cho nên, mời anh vào việc tư tưởng – văn hóa, việc soạn thảo chiến lược…, Trung ương thật đã kế thừa cái nhìn sáng suốt của Cụ Hồ!

             Anh nhận định sát đúng về tình hình công tác tư tưởng – văn hóa những năm đó: “Anh Phạm Văn Đồng vừa gặp tôi cũng tỏ ý mong tôi dành sức thúc đẩy cho văn nghệ và cả giáo dục tiến lên đúng hướng. Tôi cũng yêu cầu anh Đồng với tư cách cố vấn nên thẳng thắn phát biểu với Bộ Chính trị và cả Chính phủ (…). Tôi hy vọng Hội nghị Trung ương tới sẽ có một Nghị quyết sáng tỏ hơn trước và sẽ có sự “chỉnh đốn” thật sự về tổ chức và cán bộ. Tình hình chắc  chắn không đơn giản, song nếu được Bộ Chính trị và Trung ương  đồng tình ủng hộ, nghiêm minh thì sẽ có chuyển biến tốt hơn, nhất là trong những anh em bản chất trung thực và thực sự có tài năng” (Thư ngày 4-9-1992).

            Tố Hữu căm ghét thói tham nhũng – vào thời của anh, sắn khoai rau cháo mà làm nên nghiệp lớn, rồi nhặt từng cân than, từng cân sắt vụn… để làm công nghiệp và đánh giặc, tham nhũng lãng phí là tội lớn… Bây giờ, tham những chưa chặn được, luôn luôn trong câu chuyện anh lên án hai cái gian và dốt. Về tổ chức cán bộ, anh thường cho rằng ta không đến nỗi thiếu người, chỉ thiếu người khi biết dùng người! Anh nhắc đến tài đức người nọ người kia, mà giá cất nhắc giao việc cho họ thì sẽ tốt cho đất nước; trong số đó có những người trong quá trình công tác anh đã thử nghiệm, thử thách và tin cậy – nhiều người là những cán bộ kinh tế có tài. Thế nhưng, quy luật của quyền lực là khi thôi việc, lời nói khó được nghe. Nhưng anh vẫn hết sức kiên trì đóng góp ý kiến. Tôi cho đó là tập quán, là lẽ sống của các bậc lão thành cách mạng; họ đã đổ máu làm nên sự nghiệp này, lẽ nào họ không đau, không xót, không lo? Nhiều bận thấy anh “đắm đuối” với những việc “góp ý” như thế, tôi đùa đùa mà can anh: “Thôi mà anh, giá như giờ đây anh có làm Tổng Bí thư đi nữa thì chắc gì anh đã thực hiện được “phương án nhân sự” như thế”. Thế mà anh vô Thành phố Hồ Chí Minh ít lâu, lại thấy anh kêu “đói thông tin” và đòi ra. Khuyên mời anh ở lại chơi – mặc dù tất cả chúng tôi đều tất bật công việc – nhưng anh nói ra để theo dõi tình hình…! Con người chính trị trong anh là như thế, chẳng bao giờ để ý đến chữ “nhàn”, chữ “xuất xử” như các cụ nhà nho xưa! Nhưng tôi nghĩ, đó mới là đặc trưng của con người Tố Hữu: “Dẫu không hơi sức khơi dòng thẳng/ Còn chút phù sa cũng gắng bồi”. Chính vì vậy mà khi ý kiến của anh được lắng nghe thì anh có vẻ rất vui. Một con người tâm huyết đến dường ấy, khí phách đến dường ấy, trong trắng đến đường ấy: “Chí ta như núi Thiên Thai ấy… - Lòng ta như nước Hương Giang ấy”… mà trong cuộc đời cũng có lúc phải thấy mình “không có đất dụng võ”, nói như Trần Nguyên Đán ông ngoại Nguyễn Trãi khi xưa: “Tam vạn quyển thư vô dụng xứ/ Bạch đầu không phụ ai dân tâm” (Đọc ba vạn cuốn sách mà không có chỗ dùng/ Đầu bạc luống phụ lòng yêu dân). Cái tâm sự ấy là tâm sự muôn đời của kẻ sĩ, ai mà chẳng gặp. Cho nên trong thơ anh thường hào sảng, vậy mà cũng có lúc chen vào “một tiếng đờn” xé lòng:

Mới bình minh đó đã hoàng hôn
Đang nụ cười tươi, bỗng lệ tuôn
… Có khổ đau nào đau khổ hơn
   Trái tim tự xát muối cô đơn

(Một tiếng đờn)

Trong bài thơ Chùa Hương anh nói đến suối Giải oan:

Ôi! Trưa nay, bước từng bậc đá
Róc rách còn nghe suối Giải oan
Ước gì đời mãi tươi xanh lá
Thanh thản chùa Hương, cả thế gian!

Câu thơ ấy như một lời tự ngụ và anh viết cho tôi: “Bốn câu thơ đó tôi viết xong mà “rợn cả người…

Biết sao được, đời sao thì thơ vậy thôi (Thư ngày 4-9-1992).

            Nhưng bao nhiêu suy nghĩ, lo toan, đau buồn, những nhức nhối khi nhìn thấy những mặt trái, anh đều cố dằn xuống, tự nén chịu và vẫn như xưa, anh muốn mọi người lạc quan tin yêu dù trong những phút giây ngặt nghèo nhất. Lòng tin yêu – “bởi tin yêu là sức mạnh vô cùng” – chính là đặc trưng của thơ Tố Hữu.

*

Tôi xin phép được nói một chút những công việc hơi riêng tư – tình cảm của Tố Hữu đối với Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, đối với các công việc mà chúng tôi đang làm.

            Tố Hữu là nhà thơ đã kế thừa được những tinh hoa của văn hóa dân tộc, trong thơ anh người ta nghe âm hưởng của Kiều, của Chinh phụ ngâm.., của ca dao và tiếng Việt anh dùng là một thứ tiếng Việt đặc hiệu, đẹp, trong sáng, giàu sức biểu hiện. Tố hữu là người đã thể hiện đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, đem truyền thống Việt Nam dồn tụ lại thành sức mạnh chiến đấu: “Có lẽ nghìn năm đã dạn dày/ Anh hùng xưa để giống hôm nay”. Nhà thơ đã viết những câu hay nhất về Nguyễn Trãi: “Nghe hồn Nguyễn Trãi phiêu diêu/ Tiếng gươm khua tiếng thơ kêu xé lòng”, về Nguyễn Du: “Ngàn năm sau nhớ Nguyễn Du/ Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”…; Tố Hữu là người đại diện cho nền văn nghệ hiện đại nói mạch với quá khứ, thừa kế cha ông…

Vì vậy mà Trung tâm Nghiên cứu Quốc học thành lpaja và hoạt động, anh đã ủng hộ bẳng tất cả tấm lòng. Tôi chỉ xin nêu vắn tắt một vài biểu hiện.

            Ngày 23-9-2000, Trung tâm chúng tôi có họp Hội đồng Khoa học mở rộng tại 51 Trần Hưng Đạo, Hà Nội để thông qua Đề án về hoạt động trong 5 năm tới; người chủ trì là nhà thơ Huy Cận, Chủ tịch Hội đồng. Chúng tôi có gửi giấy mời đến một số vị lão thành, trong đó có nhà thơ Tố Hữu, Giáo sư Vũ Khiêu… nhưng cũng không dám mong là quý vị sẽ đến. Thế mà cuối cùng hai anh đều đến và rất vui. Các anh nghe và phát biểu rất nhiệt tình. Anh Tố Hữu nói:

            “Tôi đến để biểu thị sự hoan nghênh nhiệt liệt. Chúng ta có Đảng cầm quyền mà Trung tâm Quốc học như là “làm lén”. Vấn đề ở chỗ quản lý của Nhà nước. Không thể không quan tâm đến vấn đề này, vì ta nói vấn đề bản sắc dân tộc, tức là nói dân tộc. Ngân sách của Nhà nước có chỗ chi nhiều mà chưa đúng. Văn hóa có luồng bác học, luồng dân gian. Ta nói luồng bác học. Nó quan trọng lắm. thời nào, triều đại nào đều dựa vào trí thức hết. Đời nào cũng phải có trí tuệ. Ông cha ta còn để lại rất nhiều.

            Kinh phí Trung tâm xin là quá khiêm tốn. Tính ra 4 năm chỉ có 1,7 tỷ để làm bao nhiêu công trình là thảm hại. Ta không phải nghèo đâu, mà là nghèo suy nghĩ, nghèo trí tuệ. Ta chẳng nói xấu Chính phủ, nhưng những người có trách nhiệm phải suy tính. Vì không cso xưa làm sao có nay. Phải công khai hóa việc này và đăng lên báo. Tôi cho rằng nên tìm thêm gia tài của ông cha ở Pari, Bắc Kinh, cả ở Mỹ nó cũng “quơ” của mình.

Dĩ nhiên tôi hoan nghênh công trình anh em đang làm và sắp làm. Giữa tổng tập và tinh tuyển phải cẩn thận. Tôi có căn cứ vì thấy có những tuyển vứt mất những cái hay. Cần có ý thức làm cho hết. Thế hệ chúng tôi sắp ra đi. Anh chị em làm tôi mừng quá. Đây là công việc lâu dài nhưng phải làm gấp như Đồng khởi, nếu không tán lạc hết. Phải chú ý đào tạo. Luồng dân gian rất lớn và vô tận. Ta là một quốc gia có nhiều dân tộc, có nhiều trường ca hay. Phải có chính sách đúng xoá thù hận.

Về kinh phí nếu cần hơn xin ghi ra. Tôi là dân "bếp núc”, đi kiếm tiền cho anh em. Tôi sẽ đi lo, chạy cửa này cửa nọ cho anh em" (trích biên bản cuộc họp).

Anh có tỏ ra phiền trách sự "chi viện" của Chính phủ đối với công việc này, nhưng khi ghi vào biên bản chính thức, chúng tôi có lược bớt, vì, một là thực ra Chính phủ cũng đã rất quan tâm giúp đỡ (còn tất nhiên nếu giúp đỡ cao hơn nữa để công việc được hiệu quả cao và to hơn nữa thì rất tốt), hai nữa là thôi mình cũng nên "biết điều", biết tự đòi hỏi mình trước khi đòi hỏi người.

            Trước lúc anh vào bệnh viện lần cuối ít lâu, tôi ra Hà Nội, lên thăm anh chị; nói chuyện xong thì gặp bữa, anh kéo tôi vào ăn trưa: món bún ngan mà anh khen là rất ngon. Ăn xong, anh bảo ở lại nghỉ trưa, nhưng tôi cáo từ xin về chỗ trọ. Hôm đó tôi có ngỏ ý nhờ anh giới thiệu tôi đến gặp một đồng chí có trách nhiệm ở ở gần nhà anh, để trình bày về Dự án Cao Bá Quát, vì Cao Bá Quát là nhà thơ vĩ đại của Thăng Long mà ta sắp làm kỷ niệm một ngàn năm. Tôi cũng có quen biết, nhưng mình đường đột, sợ thất lễ, nên phải cậy đến anh. Là vì ở chỗ Bộ Khoa học - Công nghệ có nói nếu Dự án này có ý kiến của một đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị thì dễ xem xét hơn. Lần trước, tôi đã xin bút phê của anh Nguyễn Đức Bình, lần này thì anh Bình không ở trong Bộ Chính trị nữa. Vì thế mới phải phiền đến anh. Trưa hôm đó ăn trưa xong anh ngồi vào viết thư ngay, rồi nhờ chị Thanh đem qua nhà anh T. Chị Thanh đi hai lần đều không gặp. Buổi tối không có tin gì, tôi nghĩ là chắc không được tiếp kiến, mà ngày mai tôi đã về lại Thành phố Hồ Chí Minh rồi. Bỗng dưng khoảng 8 giờ thì có tiếng điện thoại: "Lành đây! T. đồng ý tiếp Liên rồi đấy, đến trước 8 giờ nhé". Tôi vội mặc quần áo, lên tắc xi phóng vội đến nhà anh T. - một căn nhà trong căn hộ tập thể khá khó tìm. Thực ra, công việc chỉ trình bày trong ít phút, tôi tranh thủ nhân gặp được lãnh đạo bèn nói một vài ý về giáo dục - tư tưởng là chuyện mà tôi hay quan tâm. Rồi cáo từ. Về nhà nằm ngủ lơ mơ khoảng hơn 10 giờ thì có tiếng chuông điện thoại reo. Ở đầu dây bên kia là tiếng anh Lành: "Thế nào, gặp ra sao, có kết quả gì không?". Tôi thưa: "Tốt lắm anh a, anh ấy nhận đề cương và hứa sẽ xem". Giọng anh Lành khẽ khàng: "Cũng chưa biết thế nào - đừng hy vọng nhiều vì cũng có thể thế này thế kia". Bằng sự từng trải trường đời, công tác, nhân tình... anh đã nói như thế, cái mà tôi cảm động là sự quan tâm chân thành của anh đối với công việc của chúng tôi.

Nhưng có lẽ sự quan tâm, sự giúp đỡ quý báu nhất là anh đã tham gia vào nhiều hoạt động của Trung tâm chúng tôi, không nề hà, lúc nào cũng sẵn sàng. Chúng tôi tổ chức Hội thảo Bản sắc dân tộc trong văn hoá văn nghệ đầu năm 2001, tại Thành phố Hồ Chí Minh, cuộc gặp gỡ của hàng trăm nghệ sĩ, nhà nghiên cứu từ Hà Nội, Huế, Pari, Tokyo,... anh đóng góp hai tham luận và anh đồng ý vào Đoàn Chủ tịch , điều khiển phiên họp cùng với nhà thơ Huy Cận, Giáo sư Trần Văn Giàu, nhà thơ Viễn Phương, Tiến sĩ Thu Trang, nhạc sĩ Linh Nga Nieldam... Vào giữa giờ, anh lên lên xuống xuống thế nào mà thấy thở dốc, sắc mặt xanh xao, tôi hoảng quá vì anh tuổi đã cao, làm việc mệt, đông người... May mà qua khỏi và cuối cùng là liên hoan vui vẻ... .

Trong các nhà thơ Việt Nam, Tố Hữu là người dịch thơ tài tình nhất. Anh dịch mà như sáng tác, dịch với tất cả tâm hồn, năng khiếu, vừa hiểu cái thần của nguyên tác vừa biết cách chuyển ngữ một cách thân tình để chất thơ được dịch bằng chất thơ, giọng điệu được dịch bằng giọng điệu và cả những khoảng lặng liên tưởng, những ý tại ngôn ngoại... cũng được thể hiện. Vì thế mà chúng tôi đã mời anh dịch Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát, Đỗ Phủ... những nhà thơ mà anh yêu quý và kính trọng. Anh đã để hơn một tháng để dịch một trăm bài thơ Cao Bá Quát và sau đây là bức thư của anh gửi cho tôi sau khi công việc hoàn tất (xin đăng toàn văn để thấy đánh giá của anh về Cao Bá Quát):

Anh Mai Quốc Liên thân yêu,

Thế là tôi đã làm xong cái "nợ văn chương đã có "hợp đồng" với anh. Anh cho tôi dịch 30 bài, tôi đã rất ngại, vì dịch thơ chữ Hán đã khó, của cụ Cao Bá Quát càng khó. Rất cám ơn anh đã cho tôi cơ hội được đọc hơn 100 bài thơ của bé Cao (trong 1.000 bài được biết), mới biết đã có nhiều người dịch giỏi như Khương Hữu Dụng, Hoàng Trung Thông, Hoàng Tạo, Vũ Mộng Hùng, v.v... Tiếc mình dốt chữ Hán, song nhờ có người dịch nghĩa rõ, lại có những bài đã dịch nên cũng dám mạnh tay dịch nhiều. Có khi liều lĩnh lại hoá may ra tốt hơn. Song phần khá nhiều là sửa thêm ít câu chữ vào những bài dịch của các vị túc nho, chỉ e các vị phiền lòng. Vì vậy, tôi có chú thích về những gì thêm, bớt.

Dù sao, nên có Hội đồng duyệt lại thật chu đáo, thành một tập thơ dịch thật hay, cho thoả lòng cụ Cao và bạn đọc. Vậy là tôi đã tập trung hơn một tháng để dịch cũng khá mệt, nhưng vui vô cùng. Xin gửi lại anh tập thơ cùng những bài dịch của tôi (có phần tuỳ tiện viết ngay trong tập thơ).

TB: Nếu in vi tính, xin cho tôi 2 bản (để xem lại trước khi xuất bản). 

Ngày 26-12-2000, sau khi xem lại bản dịch, anh lại gởi cho tôi một bức thư nữa:

Anh Mai Quốc Liên thân yêu,

Tôi xem lại bản dịch, có khá nhiều câu chữ rất khó chuyển thành thơ ta. Có khi chỉ lấy ý mà diễn ra chữ ta mới ổn. Càng thấy Cao Bá Quát hiểu biết rất rộng, nghĩ suy rất sâu, tâm trạng vô cùng đau khổ.

Chỉ hơn 100 bài thơ này đã làm cho ông thành một nhà thơ kiệt xuất.

Dù sao, nên cố gắng tìm thêm những bài chưa biết. Hiếm thấy một nhân tài như thế trong lịch sử văn học ta. Tiếc là cụ không biết thơ Nôm, khổ cho con cháu phải dịch, mà dịch không đến nơi!

Tôi gởi anh bài nhỏ nói về Cao Bá Quát, anh sửa chữa thêm. Có thể nói thêm về tình bạn, thầy trò, v.v.. Nhưng tôi e không nổi bật những nét chính trong đời và tâm hồn ông, nên chỉ viết vậy thôi.

Xin anh ghi rõ: những bài nào do tôi dịch là chính, còn những bài nào của các vị khác thì cần ghi rõ tên họ, kẻo hiểu

lầm.

Đến 10-1-2001, tôi ra Hà Nội. Có gì bàn thêm gặp nhau ở nhà tôi hiện nay (nhà của Hồng, con gái tôi 219 F3 Khánh Hội, Q.4).

Bài "Bản sắc dân tộc” vừa viết xong, tôi gửi đến anh để góp ý thêm cho. .

Thân yêu

 Lành 

Trong một bức thư đề ngày 11-12-1991, gởi cho tôi có đoạn: ... "Tuy vậy cũng chưa lường hết được sự đời còn phức tap thế nào. Dù sao, cũng rất mong và tin anh dành nhiều tâm lực làm nên những công trình có giá trị khoa học, rất cần thiết cho nền văn hoá Việt Nam chúng ta hiện nay và mai sau. Và đào tạo thêm những tài năng mới, có thực lực bền vững”.

Chính sự đánh giá, nhiệt hứng của anh đối với Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát, Đỗ Phủ..., đối với nền văn hoá dân tộc... là một sự khích lệ to lớn đối với chúng tôi trên con đường ngàn dặm tìm về ông cha, tìm về suối nguồn xưa.

***

Thực ra, kể về những kỷ niệm đối với anh còn nhiều chuyện nữa. Còn nhiều lá thư anh gửi cho tôi, có cái dài 8 trang, tâm sự nhiều chuyện đời, chuyện tư tưởng - văn hoá. Còn biết bao nhiêu những phút giây được gần anh, ấm áp nghĩa tình, cảm thông vô hạn. Rồi đến những phút sắp vĩnh biệt anh, ngày ngày tôi ngóng tin qua nhà thơ Hữu Thỉnh, người thay mặt Hội Nhà văn ngày ngày vào với anh, động viên anh. Hôm tôi vào nhìn anh, anh chỉ mấp máy môi dạn nói rất nhiều nhưng than ôi, lúc ấy anh không còn đủ sức nói được nữa! Tôi chạnh nghĩ đến những ngày cuối của Chế Lan Viên, một "thiên hà" khác của thơ, bạn anh: Chế cũng chỉ nhìn mà không còn nhận ra những người thân quen nữa! Ngày cuối cùng anh đi, tôi gọi điện cho anh Hữu Thỉnh hỏi tin, gặp đúng vào lúc anh vừa mới mất (9 giờ 24 phút ngày 9-12-2002), khi đó Hữu Thỉnh đang cùng mọi người thu dọn phòng anh! Tôi cứ buồn tiếc mãi là giá như anh nghe theo lời nằn nì của tôi, đừng ở Hà Nội mùa xuân ấy và vào Thành phố Hồ Chí Minh để khỏi bị bệnh hen suyễn kinh niên làm đột quỵ, biết đâu trời còn cho anh thêm mấy năm. Tôi ứa nước mắt, nhớ khi về lại Thành phố Hồ Chí Minh lần ấy, tôi cầm tay anh dặn đi dặn lai: một là sức khoẻ, hai là sức khoẻ và ba cũng là sức khoẻ; anh còn cười trêu tôi: "Ông ráng cho được như tôi”.

Điều an ủi của chúng tôi là: các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước từ Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Phan Văn Khải... đến nhiều đồng chí lão thành cách mạng như Võ Nguyên Giáp, Chu Huy Mân... và rất nhiều bạn bè đồng chí đã đến thăm anh thường xuyên. Đồng chí Tổng Bí thư chỉ thị cho bệnh viện bằng mọi cách cứu anh. Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên và Tỉnh uỷ Bình Định biếu anh "yến huyết" là loại cực quý để vực dậy sức lực suy kiệt vì nằm lâu. Bác sĩ Giám đốc Bệnh viện 108 là người dân tộc Tày và đã gặp Tố Hữu trên đường Trường Sơn năm 1973, hết lòng cứu chữa anh, ở bên anh từng ngày. Còn Đại tá, bác sĩ Tường, người đã tận tụy với anh hơn 20 năm nay thì khỏi nói. Tôi thường hỏi về anh Lành những lượt anh ốm qua anh Tường và lần này cũng phập phồng hy vọng vì lục phủ ngũ tạng, thể trạng của anh tốt. Thế nhưng "tử sinh hữu mệnh" và "số hữu nan đào"! Và cuối cùng, lễ tang của anh đã diễn ra trong sự trong thị theo le tang Nhà nước, nhưng đặc biệt là lòng người cả nước, bốn phương trời đối với anh vẫn thương yêu, ấm nồng, tin cậy, dường như là để đáp lại lòng anh:

Tạm biệt đời ta yêu quý nhất

Còn mấy dòng thơ, một nắm tro.

Thơ gửi bạn đường. Tro bón đất

Sông là cho. Chết cũng là cho.

Điều cuối cùng tôi muốn nói hôm nay, giờ phút này là. . Hữu là một hiện tượng hiếm hoi của thơ ca và lịch sử. Ông là nhân vật lịch sử và là thiên tài thơ ca. Là nhân vật lịch sử, từ thuở thanh niên ông đã giữ những trọng trách trong Đảng, 25 tuổi làm Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa ở Huế, nơi đóng đô của triều đình nhà Nguyễn. Cuối cùng, giữ trọng trách Uỷ viên Bộ Chính trị - Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Bộ trưởng (Chính phủ). Ông là học trò xuất sắc của Bác Hồ, ngày đêm cùng các đồng chí khác bên cạnh Bác Hồ, bên cạnh đồng chí Lê Duẩn chiến đấu giành lại giang san Tổ quốc Việt Nam ngàn lần yêu quý! Về thơ, ông là một tài năng thơ thiên bẩm, một nhà thơ đã mở ra một trường phái thơ mới - thơ cách mạng, mà trong đó nghệ thuật hiện đại kết hợp với truyền thống thơ dân tộc. Nếu thơ mới 1930-1945 là cuộc cách tân nghệ thuật của thơ thì Tố Hữu đã làm một lúc hai lần cách tân. Thơ ông vừa là thơ mới vừa là thơ cách mạng. Ông là người mở đường, người nhạc trưởng, người có ảnh hưởng quyết định tới tư duy nghệ thuật của cả một thời đại. Sự nghiệp thơ của ông là hùng vĩ, vì nó tác động đến hàng triệu người như một sức mạnh vật chất để họ sống, chiến đấu, hy sinh, "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước". Trong lịch sử văn học nhân loại cũng hiếm có một hiện tượng thơ nào như thế. Dĩ nhiên, không phải thơ ông bài nào cũng hay làm gì có chuyện đó - đến Đỗ Phủ, Lý Bạch, Nguyên Du, Puskin, Huygô... cũng không hề có chuyện như thế! Huống chi, nhìn một sự nghiệp, người ta cần một cái nhìn toàn đồ, tổng quát: con chim đại bàng vụ đường bay xa bay cao hơn là vụ việc chăm sóc lông cánh.

Tinh hoa của thơ Tố Hữu còn mãi với núi sông và con người, Tổ quốc Việt Nam. "Ngàn năm sau nhớ Nguyễn Du/Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”, câu thơ ấy cũng có thể xem như là lời nhà thơ tự vịnh.

Trong ngày đầu tiên vĩnh biệt anh, dù không hay thơ, nhưng tình cảm của một đứa em trào dâng trong lòng, tôi cầm bút viết mấy lời vụng về để vĩnh biệt anh, xin ghi lại đây như một chút lòng thơm thảo:

Cứ mặc hồn ta nước mắt trào 

Thương anh - người đã nắm tay trao

Bao nhiêu đằm thắm anh dành tặng

Mà khiến lòng em cắt nét dao.

 

Mới đó anh còn cười anh nói 

Chuyện ngày mai bao nỗi lo âu 

Xát lòng anh việc đời đau nhói 

Đâu ngờ hôm nay lệ biệt sầu. 

Trong vườn lá nõn dưới vòm xanh 

Chiều xuân nắng dịu bước bên anh 

Em là em nhỏ bên người chị 

Chan chứa lòng anh những giọt lành.

 

Đâu phải lòng anh dành cho em 

Là cho đời đó! Phút giây êm 

Nghe anh trao gởi qua tâm tưởng 

Bao mến thương đời giữa lặng im. 

Hỡi người thi sĩ của ngàn sau 

Của một thời oanh liệt khổ đau 

Trái tim trĩu nặng niềm lo nước 

Anh đã xa rồi... Anh ở đâu?

 

 

 

           

Nhận xét
  • PArner Honvietquochoc
  • Viet nam air
  • free hit counter script