HV150 - Người lãng mạn cuối cùng của thế kỷ 20

30 Tháng Tám 2020 2:37 CH
LƯƠNG ĐỨC - MINH TÂM

Bookmark and Share

Hình ảnh của HV150 - Người lãng mạn cuối cùng của thế kỷ 20

Báo Nhân dân số ra ngày 14-7-1997 có bài về nhà nghiên cứu Hữu Ngọc, trong đó viết: “Liền trong 10 năm qua, Hữu Ngọc viết sách, viết báo, giới thiệu nền văn hóa Việt Nam độc đáo với bạn bè thế giới và ngược lại, ông cũng giới thiệu văn hóa thế giới với Việt Nam”.

Báo Điện ảnh Việt Nam giới thiệu: “Hữu Ngọc là một học giả tài năng nhiều mặt, là nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nhà dịch thuật, nhà nghiên cứu văn hóa. Ở lĩnh vực nào ông cũng tỏ ra một trí tuệ uyên thâm, một tâm hồn tinh tế, lịch lãm”.

Báo Điện ảnh Kịch trường nêu: “Hữu Ngọc nổi lên như một cây đại thụ trong giới nghiên cứu văn hóa nghệ thuật. Ông là một nhà văn hóa có tầm cỡ trong nước và quốc tế”.

Báo Lao động thì coi Hữu Ngọc “là một nhà xuất nhập khẩu văn hóa…”.

Ông Papin, Viện Viễn Đông Bác cổ, cho biết: “nhiều nhà nghiên cứu có may mắn được cộng tác với ông Hữu Ngọc đều đánh giá cao sự uyên bác và trái tim cởi mở của ông”.

Nhà văn, nhà báo, nhà nhiếp ảnh Mỹ Lady Borton nhận xét: “Trong khi lối sống nước ngoài ào ạt vào Việt Nam, Hữu Ngọc đã cho chúng ta một đặc ân bằng cách gọt giũa một số nét văn hóa Việt Nam cổ truyền thành một viên ngọc mà ta có thể mãi mãi nâng niu”.

Ông Hữu Ngọc dáng người gầy bé, rất say mê đi bộ, vai khoác ba lô, đầu đội mũ tai bèo, ông thường đi bộ hằng ngày đến cơ quan làm việc. Thăm ông tại phòng làm việc ở cơ quan, nhà báo Thái Lan Don Pathanta viết: “Một căn phòng ấm áp mỗi chiều không quá 3m, ông tỏ ra là một người giản dị, vẫn có thể làm việc bình thường mà không cần đến máy móc hiện đại như vi tính hay điện thoại cầm tay, vốn là hai công cụ mà hầu hết các nhà báo ở Bangkok đều không thể làm việc được nếu không có chúng... Ông làm được nhiều việc đến như vậy mà chẳng cần có gì, khiến tôi cảm thấy xấu hổ...”.

Lớp trẻ ngày nay coi ông là cuốn từ điển sống. Bộ não của ông được ví như chiếc máy tính, sức làm việc của ông rất bền bỉ, dẻo dai. Nhiều người không thể hiểu nổi, trong một thân hình gầy guộc như vậy, liệu có bao nhiêu sinh lực mà ông đã làm được nhiều việc đến như vậy.

Sự nghiệp văn chương của ông có được như ngày nay phải kể đến đóng góp của người vợ hiền mà ông rất chiều chuộng. Bà quan tâm chăm sóc ông, nhiều khi giúp ông làm thư ký. Ông không chỉ nghiên cứu sâu, rộng văn hóa Đông - Tây, mà còn kiên trì gìn giữ, bảo vệ truyền thống, gia phong, tập quán.

Ông Hữu Ngọc, một con người thủy chung, tình nghĩa. Suốt đời ông nâng niu, trân trọng mối tình tri kỷ bạn bè. Nữ văn sĩ Pháp Courer là người bạn văn chương thân thiết nhất của ông, ông Chiến Sĩ là người thầy dạy tiếng Đức đầu tiên của ông. Ông thường nói: bác sĩ Nguyễn Khắc Viện là người anh về văn chương đối ngoại, tiến sĩ văn học Guenter người Đức, nữ văn sĩ Lady Borton người Mỹ là những bạn tri kỷ nhất mà ông vô cùng quý mến… 

*

Hữu Ngọc sinh năm 1918 ở phố Hàng Gai (Hà Nội), lúc đó nổi tiếng là phố của các nhà Nho, các quan lại thanh liêm về nghỉ, có phường in sách Hán Nôm, có cửa hàng bán giấy bút, nơi các thầy khóa đi thi, đến làm duyên với những cô gái nền nếp và có học.

Báo Hà Bắc, trong mục “Người Hà Bắc thành danh” có viết: Quê gốc của Hữu Ngọc ở làng Tư Thế, nay thuộc xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (Kinh Bắc). Ông nội là cụ Tú Thuật, chuyên làm thuốc và dạy học. Ông bố cũng là nhà Nho có ít Tây học, yêu thơ văn và cây cảnh.

Hữu Ngọc tuổi thơ mồ côi mẹ, vốn đa cảm, sống âm thầm với sách vở và trường Bưởi với những thầy giáo người Pháp dân chủ như thầy dạy triết Foulon, những thầy người Việt uyên bác và có nhân cách như thầy Dương Quảng Hàm, Lê Thước, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Mạnh Tường, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Xiển.

Tự học thêm, với một số vốn kiến thức Đông - Tây, Hữu Ngọc bước vào Đại học Luật. Từ khi còn là học sinh, do hoàn cảnh gia đình, do tình hình và thời cuộc, Hữu Ngọc đã ước mơ làm một thầy giáo ở nơi hẻo lánh núi rừng, lấy một sơn nữ và cắt đứt với đời phồn hoa. Nhưng cuộc đời đã đẩy Hữu Ngọc sang một hướng khác. Năm 22 tuổi, anh bỏ trường Luật để đi dạy trường tư ở miền Trung. Anh dạy tiếng Pháp, tiếng Anh, văn học nước ngoài và sử, địa. Trong gần chục năm, anh đã đạt được nhịp cầu văn hóa giữa thầy và trò. Phần lớn các học trò cũ của thầy Ngọc đều thành đạt, trở thành những giáo sư, tiến sĩ, nhà văn, tướng tá. Dù ở cương vị nào và ở đâu họ vẫn tự hào và trìu mến nghĩ về thầy.

Trong cuốn Kỷ yếu của học sinh trường Nguyễn Khuyến - Nam Định ra năm 1998 ở Mỹ có kể về thầy Hữu Ngọc: “Năm 1946 tiếng Anh bắt đầu được dạy..., thầy dạy rất giỏi, những giờ học với thầy rất hấp dẫn. Thầy là một nhà giáo dục với đầy đủ ý nghĩa. Thầy áp dụng phương pháp tân tiến lúc bấy giờ; thầy có nhiều cao vọng huấn luyện lớp trẻ ngay khi thầy còn rất trẻ...”.

Trong một tờ báo ở California (Mỹ) có bài viết về thầy Ngọc của một học trò cũ: “Thầy tôi là một học giả uyên thâm, một nghệ sĩ đa tài... Ngoài thì giờ làm báo, dạy học, thầy tôi thường vô chùa... Có một thời chúng tôi bạn bè bốn phương kết tập ở Yên Mô đã mời được thầy xuống ở với chúng tôi trên một chiếc thuyền... Một đêm khuya thức giấc, tôi bỗng nghe tiếng thấy rì rầm ngâm thơ. Nghe xong rơm rớm nước mắt, không ngủ được. Hồn văn hóa quẫy mạnh trong tôi từ đó...”.

“Thầy Ngọc, nhân vật lãng mạn cuối cùng của thế kỷ 20”, đó là hình ảnh học sinh gán cho thầy. Mỗi khi thầy giảng văn học Anh ở lớp đệ nhất, nhiều học sinh các lớp đệ tam, đệ nhị chen nhau ghé vào cuối phòng nghe lỏm.

Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Hữu Ngọc rời Huế ra Hà Nội tham gia cách mạng. Năm 1946 kháng chiến bùng nổ, Hữu Ngọc được cử làm Chủ tịch Hội Văn hóa kháng chiến Nam Định và vừa dạy học, vừa làm chủ bút tờ báo địch vận đầu tiên bằng tiếng Pháp L’Etincelle (Tia lửa) của Chiến khu 3. Hữu Ngọc chịu trách nhiệm chính, nhiều khi vừa làm chủ bút vừa viết bài, vẽ rồi tự in luôn. Tôn chỉ mục đích tờ báo do Hữu Ngọc đặt ra là “Dùng văn hóa thuyết phục kẻ thù”. Đặc biệt có mục “Từ trái tim đến trái tim” làm xao xuyến lòng người. Đây cũng là truyền thống “công tâm” (đánh vào tim đối phương) của Nguyễn Trãi.

Năm 1950, Hữu Ngọc lên chiến khu Việt Bắc, được điều sang quân đội làm Trưởng ban Giáo dục tù, hàng binh Âu - Phi. Hàng ngàn tù binh 20 dân tộc khác nhau được cảm hóa bởi phương châm chỉ đạo “Dùng văn hóa biến thù thành bạn” của Bác Hồ.

Hữu Ngọc là người đã kiên trì, lầm lũi đặt những khối bê tông đầu tiên xây cột trụ cho nhịp cầu văn hóa xuyên các đại dương. Ông tâm sự: “Trong cuộc đời tôi đã từng trải qua nhiều nghề khác nhau: dạy học, làm người lính, làm địch vận, làm văn hóa đối ngoại, viết sách, viết báo, dịch thuật, nghiên cứu văn hóa. Có người hỏi tại sao tôi lại chọn con đường này? Có lẽ ‘ngẫu nhiên’ (hoặc số phận đã sắp đặt cũng được). Cũng có thể là từ sâu trong tiềm thức, đó là phản ứng của con dân một dân tộc thuộc địa. Dân tộc chúng ta đã bị ách đô hộ hàng chục thế kỷ, bị phong tỏa bao vây bởi chiến tranh hàng mấy chục năm, nên không những người nước ngoài không hiểu gì về bản sắc văn hóa, con người của dân tộc mình, mà chúng ta cũng hoàn toàn không hiểu nhiều về cái hay, cái đẹp của các dân tộc khác. Do đó trong tiềm thức từ lâu tôi đã nảy ra ý muốn góp phần nhỏ bé giới thiệu nền văn hóa lâu đời của Việt Nam ra nước ngoài và chắt lọc tinh túy của các nền văn hóa khác giới thiệu vào Việt Nam”.

Kháng chiến chống Pháp kết thúc, cùng đội quân chiến thắng, Hữu Ngọc trở lại thủ đô - rời quân ngũ làm chuyên nghiệp viết sách báo tuyên truyền đối ngoại phục vụ cuộc đấu tranh thực hiện Hiệp định Genève thống nhất đất nước. Ông đảm nhiệm chức chủ bút tạp chí đối ngoại Việt Nam tiến bước xuất bản bằng tiếng Pháp và tiếng Anh (Vietnam en Marche). Một độc giả Canada tên J. Velecky bình luận: “Tôi rất thích đọc tạp chí Việt Nam tiến bước, nó được truyền tay, có thể nói từ thành phố nọ sang thành phố kia, cho đến khi rách nát. Tạp chí là một đóng góp tuyệt vời trong cuộc đấu tranh bảo vệ hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc”.

Tạp chí Etudes Vietnamiennes (Nghiên cứu Việt Nam) bằng tiếng Pháp và tiếng Anh do bác sĩ Nguyễn Khắc Viện sáng lập và chủ biên, về sau Hữu Ngọc đảm nhiệm. Đó là tạp chí có uy tín lớn trên trường quốc tế, đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ. Nó được coi là bộ bách khoa toàn thư về Việt Nam và có mặt tại các thư viện lớn ở Mỹ, Anh, Pháp. Nó trở thành tài liệu tham khảo quan trọng nhất đối với các nhà nghiên cứu xã hội, các nhà viết sách, báo, viết luận văn tiến sĩ về Việt Nam và Đông Nam Á.

Từ nhiều năm nay Hữu Ngọc thường xuyên cộng tác giới thiệu xuất bản phẩm Việt Nam cho tờ ABD ở Nhật Bản, liên tục giới thiệu văn hóa Việt Nam trong những chuyên mục ngày chủ nhật cho các báo Le Courrier du Vietnam (tiếng Pháp), Vietnam News (tiếng Anh) và Vietnam Kurier (tiếng Đức).

Cùng bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, ông làm chủ biên tuyển tập văn học Việt Nam bằng tiếng Pháp và tiếng Anh dày 2.200 trang gồm 4 tập. Báo Le Monde (Pháp) viết: “Đúng lúc cuộc chiến tranh kéo dài 115 năm vừa chấm dứt, nước Việt Nam giải thoát được sự đô hộ của ngoại bang, tuyển tập văn học ra đời làm người ta có thể nghe được tiếng nói của các bậc tiền bối”.

Hữu Ngọc cùng bạn là nhà thơ Pháp Françoise Couer viết và xuất bản ở Pháp cuốn Hương bưởi nói về các nhà thơ nữ Việt Nam, và tuyển tập văn hóa dân gian Việt Nam. Theo nhà địa lý học J. Lacoste: “Cuốn sách này phản ánh dân tộc Việt Nam nổi tiếng thế giới do cuộc đấu tranh kiên cường bất khuất, nhưng cũng là một dân tộc có một nền văn hóa rất cao”.

Tác phẩm Phác thảo chân dung văn hóa Việt Nam gồm 700 trang khổ lớn bằng tiếng Pháp, tiếng Anh được dùng làm tặng phẩm chính thức cho các ngoại trưởng dự Hội nghị cấp cao lần thứ 7 các nước sử dụng tiếng Pháp tại Hà Nội - 1997. Nhà văn Mỹ Lady Borton đánh giá: “Đây là món quà tuyệt vời nhất mà người Mỹ có thể mang từ Việt Nam về. Mặc dù Việt Nam đã bị đảo lộn trong mấy chục năm qua bởi những người khách không mời mà đến, Hữu Ngọc đã thuyết phục người đọc là có một nền văn hóa độc đáo của một đất nước gồm 72 triệu người”. Cuốn Chân dung Hà Nội của ông do Chính phủ Québec đặt để làm quà tặng các nguyên thủ quốc gia dự hội nghị cấp cao các nước nói tiếng Pháp đã được đánh giá cao, qua lời ông đặc phái viên Tổng thống Canada và Bộ trưởng Ngoại giao Québec.

Ngoài viết sách, làm báo, ông còn diễn thuyết trong nhiều hội nghị, hội thảo quốc gia và quốc tế, đặc biệt ở các nước Pháp, Liên Xô, Mỹ, Nhật, Iran, Đức, Bỉ, Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia, Thụy Sĩ, Phần Lan, Campuchia v.v... Thính giả của ông phần lớn là những nhà trí thức uyên thâm, những giáo sư, tiến sĩ, viện sĩ hàn lâm hoặc những nhà quản lý, những chủ doanh nghiệp, những nhà xã hội học, những quan khách ngoại giao, những nhà báo, nhà văn lão luyện. Sau khi nghe ông diễn thuyết cho các nhà doanh nghiệp, các chuyên gia, Phòng Thương mại Việt - Mỹ và Hội đồng Doanh nghiệp châu Á - Thái Bình Dương, có cả dân biểu Hawaii trong nghị viện Mỹ, ông Chủ tịch Phòng Thương mại phát biểu: “Tất cả chúng tôi đều bị cuốn hút như bị bỏ bùa khi nghe ông Ngọc kể về dĩ vãng và hiện tại của Việt Nam”.

Một số sứ quán, trường học và các tổ chức phi chính phủ nước ngoài thường mời ông giới thiệu văn hóa Việt Nam. Ông thường tổ chức những cuộc du ngoạn ra ngoại vi thành phố để khách được tiếp xúc với môi trường, di tích văn hóa, lịch sử và cuộc sống của nhân dân, làm cho các chương trình tập huấn vừa có chiều sâu vừa sinh động.

Có thể nói độc giả, thính giả mọi nơi, mọi lứa tuổi đều hâm mộ tài năng của Hữu Ngọc. Vậy bí quyết thành đạt của ông là gì?

Ông từng nói: Đối tượng độc giả phương Tây là tất cả tầng lớp trí thức, vốn hiểu biết của họ rộng và sâu, họ có tư duy khoa học rất logic. Cảm xúc và tâm lý của họ khác ta, do đặc thù truyền thống của mỗi nước. Khi viết sách, báo đối ngoại phải thấy được chỗ khác nhau giữa họ và mình. (Có hai đặc điểm chính nổi bật, tưởng chừng trái ngược nhau, nhưng rất có lý là: “họ rất giỏi” và “họ rất dốt”). Tất cả những gì thuộc về đời sống hằng ngày Việt Nam, đa số họ đều không biết gì cả. Từ những thứ rất tầm thường nhỏ nhặt, không một người Việt Nam nào không biết như đôi dép cao su, mắm tôm, rau muống, thịt chó... đối với họ là những thứ hoàn toàn xa lạ. Cảm xúc của họ và ta về một vấn đề, một sự việc là không giống nhau, nhiều trường hợp trái ngược nhau. Viết, nói như thế nào để họ hiểu được, cảm xúc được, có ấn tượng mạnh mẽ, lôi cuốn được họ, hoàn toàn lệ thuộc vào nghệ thuật của người viết.

Đối với những người nước ngoài, ta phải sử dụng tư duy quy nạp chứ không nên dùng tư duy suy diễn. Tâm lý người nước ngoài rất ghét bị áp đặt, tuyên truyền. Thế nên khi viết một bài ca ngợi về một nhà máy chẳng hạn, ta không được khen ngay vào đầu rằng đó là một nhà máy tiên tiến, làm ăn có hiệu quả... Mà phải bắt đầu bằng thực tế từ những gì ta thấy được, nghe được, rồi so sánh giữa hiện tại và quá khứ. Ta phải đi sâu vào thật cụ thể, tỉ mỉ, còn kết luận thì để độc giả tự rút ra. Cách viết đó đòi hỏi phải có con số, có sự việc để nó tự chứng minh lấy, tính thông tin của bài cao, nhưng phải cô đọng, súc tích, ngắn gọn, không giảng luân lý, cũng không nên ướt át có tính cải lương. Đối với độc giả phương Tây, phần vào đầu và phần kết thúc rất quan trọng. Cách viết theo kiểu tuyên huấn sơ cấp, đưa kết luận trước rồi bắt buộc mọi người phải theo kết luận là không phù hợp. Cách viết lan man, trình bày dài dòng, vòng vo “tam quốc” cũng không ai đọc.

Khi viết bài báo đối ngoại phải “phân thân” để nhập vào đối tượng về phương diện tình cảm, tư duy... thì bài báo viết mới có chỗ đứng trong lòng bạn đọc. Một trong những công cụ để có thể làm tốt việc “phân thân” là ngôn ngữ. Những người không dùng thẳng ngoại ngữ để viết thì cũng khó “phân thân” lắm. Đây cũng là bài học quý giá cho thế hệ trẻ viết báo, viết văn đối ngoại.

Tiến sĩ Jari Blackman, Giám đốc Viện Công nghệ châu Á (AIT), nói: “Nhà văn hóa Hữu Ngọc không chỉ là kho báu của nhân dân Việt Nam, mà còn là vốn quý của Phần Lan. Nhân dân các nước Bắc Âu chúng tôi khi nói đến Việt Nam, là thường nhắc đến tên ông Hữu Ngọc”.

Ông biên soạn nhiều từ điển, sổ tay dạy tiếng Anh, tiếng Pháp giúp các thế hệ trẻ Việt Nam tìm hiểu về triết học, văn học, nghệ thuật văn hóa nước ngoài. Bút pháp của ông giản dị, hấp dẫn mà sâu sắc.

Hoa anh đào và điện tử, một phác thảo chân dung văn hóa Nhật cuốn hút người đọc ở mọi lứa tuổi.

Về cuốn Phác thảo chân dung văn hóa Pháp, nhà sử học Minh Tranh phát biểu: “Tôi không ngờ có dịp được đọc một công trình phong phú, sâu sắc về nội dung, hấp dẫn về phong cách như vậy. Với tôi đây là một bách khoa toàn thư về văn hóa Pháp”.

Mảnh trời Bắc Âu là một phác thảo về văn hóa Thụy Điển. Nhà thơ Trúc Thông đánh giá: “Cuốn sách được trình bày hấp dẫn, thông qua một người kể chuyện hóm hỉnh, đầy hiểu biết mà không to giọng...”.

Hồ sơ văn hóa Mỹ, 900 trang, là cuốn sách bán chạy nhất năm 1995. Nhà văn, nhà báo Mỹ Lady Borton đánh giá: “Đây là cuốn sách đầy đủ nhất về văn hóa Mỹ xuất bản ở Hà Nội”.

Báo Nhân dân chủ nhật số ra ngày 20-8-1996 có viết: “Trong thời buổi sách ‘đen’, sách ‘mì ăn liền’ tràn ngập, những cuốn sách nghiêm túc, trang trọng, bác học như cuốn Đường thi 4 ngữ của Hữu Ngọc rất đáng hoan nghênh”.

Hàng mấy chục năm qua, bao thế hệ trẻ Việt Nam vẫn say sưa với truyện cổ Grimm do Hữu Ngọc dịch từ tiếng Đức. Ông tâm sự: “Trong các việc tôi đã làm, tôi rất thích thú việc này”. Truyện cổ Grimm đã được tái bản hàng chục lần, mang lại bao nhiêu giấc mơ đẹp cho hàng vạn trẻ em khắp đất nước.

Các bạn Thụy Điển đã khẩn khoản mời ông làm Chủ tịch Hội đồng quản trị Quỹ Hỗ trợ và phát triển văn hóa Thụy Điển - Việt Nam từ năm 1992. Với sự hợp tác của các thành viên Hội đồng quản trị cũng là những nghệ sĩ lớn, ông đã bắc nhịp cầu văn hóa Thụy Điển - Việt Nam vững chắc.

Ông Hoàng Tùng (nguyên Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương) đánh giá rất cao những công lao đóng góp của ông Hữu Ngọc trên nửa thế kỷ qua. GS Phan Huy Lê tỏ lòng quý mến và khâm phục về tâm đức và tinh thần lao động cần cù, sáng tạo của ông Hữu Ngọc.

Với ông khó mà nói hết những điều cần nói, bạn bè khắp nơi luôn dành cho ông những tấm lòng ngưỡng mộ và mến yêu.

Nhân nhận cuốn Chân dung Hà Nội, Bộ trưởng Ngoại giao Québec phát biểu: “Tôi chào mừng tác giả Hữu Ngọc, một học giả xuất sắc của Việt Nam, một nhà văn hóa tế nhị theo đúng hình ảnh của nước Việt Nam”.

Trong buổi lễ tặng ông Huân chương Cành cọ Hàn lâm, Đại sứ Pháp Blanchemaison phát biểu: “Nếu có một nhà trí thức nào, nhà văn hóa nào xứng đáng nhận phần thưởng này từ lâu, thì đó là ông Hữu Ngọc. Chúc mừng ông, nhà văn hóa lớn, nhà nhân văn lớn”. Thay mặt Chính phủ Thụy Điển trao tặng ông Huân chương Bắc đẩu Bội tinh, Đại sứ Thụy Điển phát biểu: “Từ trước tới nay tôi chưa hề gặp một người xây cầu văn hóa như ông Hữu Ngọc. Cắm sâu rễ vào văn hóa Việt Nam, lại nhạy bén tiếp cận các nền văn hóa khác”. GS-TS Guenter Giesenfeld, Đại học Marburg (CHLB Đức), nói: “Nếu con người muốn hiểu biết nhau thì phải thông qua văn hóa nghệ thuật, ông Hữu Ngọc có công rất lớn là truyền bá văn hóa Việt Nam ở châu Âu và trên thế giới”.

Để ghi nhận công lao của nhà văn hóa Hữu Ngọc, Nhà nước Việt Nam đã trao tặng ông Huân chương Độc lập.

Suốt đời không mệt mỏi, ông theo đuổi sự nghiệp xây dựng những nhịp cầu văn hóa nối liền giữa các lục địa Đông - Tây. Đóng góp của ông thiết thực - chuẩn bị hành trang cho thế hệ trẻ bước sang thiên niên kỷ mới, “kỷ nguyên toàn cầu hóa và hội nhập cộng đồng mà muốn giữ được bản sắc của riêng mình, thì phải biết mình, biết người và cũng phải làm cho người biết ta”, như ông thường nhắc nhở thế hệ trẻ.

Nay ở tuổi 102, hằng ngày trong ngôi nhà ở khu đô thị Trung Yên (Hà Nội), nhà văn hóa Hữu Ngọc vẫn say mê làm việc. Nguồn cảm hứng nghệ thuật, sức sáng tạo và vốn hiểu biết của ông còn gần như vô tận.

Ông Hữu Ngọc - một con người khiêm tốn, giản dị, hiền lành, liêm khiết, một học giả uyên thâm Đông - Tây, kim cổ, một mẫu người của thế kỷ 21, một nhịp cầu văn hóa giữa các dân tộc; ông cũng là người hào hoa lãng mạn, mà học trò ở Mỹ đã phong ông “Người lãng mạn cuối cùng của thế kỷ 20”.♦

  • PArner Honvietquochoc
  • Viet nam air
  • free hit counter script