HV153 - Nguyễn Du - thiên tài tầm cỡ Phục hưng

01 Tháng Mười Một 2020 1:13 CH
MAI QUỐC LIÊN

Bookmark and Share

Hình ảnh của HV153 - Nguyễn Du - thiên tài tầm cỡ Phục hưng

KỶ NIỆM 200 NĂM NGÀY MẤT ĐẠI THI HÀO NGUYỄN DU (1820 - 2020)

Đại thi hào Nguyễn Du

Trong tập Thanh hiên chữ Hán có bài thơ rất lạ của Nguyễn Du: Khất thực (Ăn xin). Nguyễn Du đi ăn xin? Nhưng đó là điều có thật trăm phần trăm trong đời Nguyễn Du mới được ông thành thật, dũng cảm, ghi lại trong thơ như thế. Gặp thời loạn, tan nhà tan cửa, gia cảnh cực kỳ khó khăn, tù túng, Nguyễn Du nhiều lúc phải lâm vào cảnh đường cùng (thử tưởng tượng cái cảnh “mười miệng ăn kêu đói ở phía Bắc Hoành Sơn - Thập khẩu đề cơ Hoành lĩnh bắc”), thế mà Tiên Điền quê ông là vùng đất cát pha, trồng trọt lương thực gì được cho nên lâm vào cảnh đói cơm thiếu gạo cũng là chuyện thường tình. Có điều là con nhà tể tướng, giàu sang phú quý, mà bây giờ phải lâm vào cảnh cùng khốn đó thì cũng là chuyện không phải bình thường. Gặp người khác, nhà Nho khác thì vì sĩ diện cho mình và cho gia đình, không ai người ta lại nói ra chuyện đó. Nhưng Nguyễn Du cũng như Đỗ Phủ là những nhà thơ hiện thực vĩ đại, hiện thực đến tàn nhẫn và khắc nghiệt, đã không trốn tránh sự thực. Đỗ Phủ thì: “Cưỡi lừa mười ba năm, đất kinh tìm kiếm ăn, nhà giàu sớm gõ cửa, ngựa béo chiều theo chân, rượu thừa miếng chả nguội, nuốt tủi đã bao lần” (dịch). Trời đất ơi, thi hào thi thánh, bậc thầy thơ muôn đời được cả thế giới ca ngợi mà phải ăn đồ thừa của nhà phú quý, “nước đời lắm cảnh lạ lùng khắt khe”.

Bài thơ Khất thực của Nguyễn Du:

Tằng lăng trường kiếm ỷ thanh thiên

Triển chuyển nê đồ tam thập niên

Văn tự hà tằng vi ngã dụng?

Cơ hàn bất giác thụ nhân liên!

Nhà thơ, nhà Hán học Dũng Hiệp đã dịch bài thơ này thật là tài hoa và theo tôi, thể hiện hết cái thần của nguyên tác:

Tựa kiếm nhìn lên thăm thẳm xanh

Ba mươi năm lội giữa bùn tanh

Văn chương phù phiếm không no được

Đói rét người thương tủi phận mình.

Ba mươi năm lăn lộn trong bùn tanh của cuộc đời, đói cơm rách áo nhưng thơ phú giúp gì cho sinh kế. Thi phú là cái khó nhất trong trần đời, làm được một câu thơ hay, bất tử đó là việc không phải của con người mà là việc của thần thánh. Cho nên gọi là “thi thánh”, “thần cú”. Nhưng tất cả những cái ấy gần như không liên quan gì đến bát cơm manh áo. Đỗ Phủ từng nói, “khốn cùng đến thế, có phải vì đã làm thơ hay chăng” (Khốn cùng chí thử khởi công thi). Nguyễn Du cũng cay đắng: “Nhất sinh từ phú tri vô ích, mãn giá cầm thư đồ tự ngu” - một đời chuyên về từ phú biết là vô ích, đầy giá sách và đàn chỉ tự làm ngu mình mà thôi. Từ đó mà suy ra về chức năng của văn học nghệ thuật như của các bậc lý luận ngày nay thì thật mỉa mai. Đó mới là nói chuyện áo cơm, còn chuyện đau ốm nữa. Nguyễn Du bị bệnh tiểu đường. Từng có câu thơ “Tiêu khát nhật tăng Tư Mã bệnh” - bệnh tiểu đường (bệnh mà Tư Mã Tương Như mắc phải) ngày càng tăng, lại từng có câu “Tam niên tích bệnh bần vô dược” - bệnh kéo dài ba năm, nhà nghèo không có thuốc. Thời Nguyễn Du chỉ dùng thuốc bắc thuốc nam, thuốc bắc thì đắt không có tiền mua, ông phải vào các chùa như chùa Diệc, nơi cụ Lê Thước tìm được bản Văn chiêu hồn hay chùa Dằng (nay nghe nói đang phục dựng) để xin thuốc nhà chùa. Mười mấy đứa con nghèo, bệnh, mãi đến khi làm quan đến chức “á khanh”, đi sứ, mới được trọng thị, cuối cùng chết vì bệnh dịch, một đại dịch khu vực từ Gia Định lan ra Huế.

Một thời đại dữ dội. Một cuộc sống dữ dội mà Nguyễn Du đã trải qua mà từ đó đem lại cho chúng ta những câu thơ Truyện Kiều, những câu thơ chữ Hán tầm cỡ nhân loại, những câu thơ tuyệt diệu, thấm đậm những cay đắng và khát vọng của con người. Không hiểu cuộc đời Nguyễn Du, tâm sự Nguyễn Du, những đảo lộn, những nghịch lý trong cuộc đời ấy mà chỉ đọc suông, khen suông thì chưa phải tri âm tri kỷ với tâm hồn lớn lao, bất diệt của Nguyễn Du.

*

Nguyễn Du là một nhà văn tầm cỡ Phục hưng, hoặc nói một cách chính xác hơn, đó là một nhà văn có “những nét tương đồng với thời Phục hưng”. Như ta biết, thời đại Phục hưng, bắt đầu từ thế kỷ 15 ở châu Âu, là một thời đại vĩ đại của nhân loại. Nó làm rung chuyển châu Âu từ gốc đến ngọn. Nó chống giáo hội, chống lãnh chúa, đề cao cái tôi tư sản, khuyến khích việc khám phá thế giới. Về văn học, nó đã đẻ ra những thiên tài cỡ như Bocassio, Shakespeare, Cervantez…, đặc biệt là Shakespeare. Nó đề cao con người, đề cao người phụ nữ, đề cao tình yêu tự do, khám phá con người từ bên trong con người. Đứng trước những cái ác của xã hội, con người ấy chiến đấu và băn khoăn về lẽ tồn tại của mình: “Tồn tại hay không tồn tại” (To be or not to be). Muốn có một thời đại tư tưởng, một thời đại văn nghệ như vậy thì phải có cơ sở xã hội, cơ sở lịch sử của nó. Đó chính là giai cấp tư sản đã phất ngọn cờ chống các thế lực phản động đã thống trị châu Âu trong đêm trường trung cổ. Sản xuất, kinh tế của chỉ một thời này thôi đã ngang bằng tất cả các thời đại trước cộng lại. Đã xuất hiện những con người khổng lồ về tư tưởng, về khí phách, về khát vọng. Một nền văn học chưa hề có, chưa hề xuất hiện ở châu Âu, với những tên tuổi mà về sau nhân loại xem là kinh điển. Ở Việt Nam ta, trong xã hội quân chủ phong kiến kéo dài với phương thức sản xuất châu Á trì trệ, giao thương quốc tế tuy có nhưng chủ yếu là đổi hàng cho cung vua, phủ chúa, chưa đạt tới mức làm biến chuyển tận gốc nền kinh tế. Thế kỷ Nguyễn Du là thế kỷ chiến tranh liên miên, nội loạn, giặc ngoài, sức sản xuất kém sút, giới trí thức Nho sĩ bị cầm tù trong những tín điều hàng nghìn năm của Nho giáo, vậy thì làm sao lại có thể tiếp cận với khái niệm Phục hưng? Viện sĩ Nga N.I. Konrad khi nghiên cứu, so sánh văn học phương Đông và phương Tây đã cho rằng thế kỷ thứ 8, 9 ở Trung Quốc chính là thời kỳ Phục hưng của văn học Trung Quốc. Konrad tìm thấy trong “Nguyên đạo” của Hàn Dũ sự đề cao cái tôi và cả văn học thời Đường - Tống đã nhuốm màu Phục hưng. Thơ Đường là một hiện tượng kỳ bí, có lẽ đột xuất trong văn hóa Trung Quốc, nó sinh thành trong một truyền thống lớn lao của thi ca Trung Quốc có từ Kinh Thi, nó sinh thành trong các đô thị cổ ở Trung Quốc thời đó như Tràng An, Dương Châu, Lạc Dương…, nó sinh thành trong một nền văn hóa tư tưởng đa dạng gồm Nho, Phật, Lão, đặc biệt là những tư tưởng biện chứng pháp của Lão Tử, dòng họ nhà vua họ Lý rất được thấm nhuần. Ở đây có thể vận dụng lý thuyết về sự phát triển nội tại độc đáo của chính bản thân văn học so với những tiền đề kinh tế - xã hội chăng? Dẫu sao điều ấy là có thật, còn giải thích như thế nào thì còn phải suy nghĩ thêm. Nguyễn Du cũng như vậy, ông đích thực là buổi bình minh của một thời đại lớn trong văn học mà Truyện Kiều là đỉnh điểm. Truyện Kiều có tất cả sự tương đồng với những đặc tính Phục hưng: Tình yêu tự do say đắm (Kiều là một Juliet của phương Đông, của Việt Nam), cái tôi bên trong của con người, “con người bên trong con người” được khám phá, một chủ nghĩa nhân văn đầy trân trọng và thương yêu những con người bị rơi vào những hoàn cảnh ở tầng hạ đẳng (làm điếm), bi thương nhất. Nhưng “đục trong thân vẫn là thân” và cô điếm ấy cũng chính là một nghệ sĩ tuyệt diệu. Nguyễn Du đã giải quyết được cái nan đề “Hữu Minh nhất đại vô song kỷ, Đại Việt thiên thu tuyệt diệu từ”. Bên trong tác phẩm văn học tuyệt diệu của thời đại, tuyệt diệu không phải chỉ vì ngôn từ mà là trong toàn bộ kiến trúc phức tạp của nó, chứa đựng một chủ nghĩa nhân văn làm cho người ta tranh luận suốt bao thế kỷ. Bởi vì đó là những tư tưởng vượt thời đại, bởi vì trong trong xã hội Việt Nam u tối và bi kịch lúc đó chưa dung chứa được một quan niệm lớn và mới mẻ như vậy về con người, nhất là với các nhà Nho thủ cựu.

Hồ Xuân Hương, Phạm Thái, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm… những tác giả, tác phẩm cùng thời đại với Truyện Kiều cũng là những cánh én báo mùa xuân tới. Rất tiếc là thời đại văn học đó đã bị gãy ngang vì nhiều lý do. Trong đó có sự hồi phục Hán học và Nho giáo của triều Nguyễn, rồi kháng chiến chống Pháp, văn học phải chuyển sang thế cầm gươm, không đi sâu vào con người, cá thể bình thường được.

Nhưng Nguyễn Du vẫn là một tượng đài lớn, sừng sững đứng giữa bao thế kỷ văn học của Việt Nam. Cùng với dân tộc ta ngày nay, đang hội nhập vào nền văn hóa toàn nhân loại với tất cả bản lĩnh độc đáo của mình, Nguyễn Du đã là người tiên phong vượt ra khỏi giới hạn dân tộc để trở thành nhân loại. Nguyễn Du có thể gặp gỡ và đối thoại với Shakespeare, với Dante, Puskin và với bao thiên tài khác của nhân loại. Cuộc đối thoại này không phải là không có khó khăn vì những đặc tính dân tộc nhưng ta luôn luôn nhớ rằng Nguyễn Du hoàn toàn đủ sức đối thoại với các thiên tài châu Âu, Phục hưng.

Nhân đây, nhân bàn về sự tương đồng Phục hưng của Nguyễn Du, xin được góp một ý kiến về vấn đề năm Nguyễn Du viết Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều), một vấn đề đã tốn biết bao tâm huyết và giấy mực của các học giả Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Tài Cẩn, Trương Chính…

Shakespeare có hai giai đoạn sáng tác, lấy Giấc mộng đêm hè làm ranh giới. Sau Giấc mộng đêm hè với giọng điệu vui tươi và cái nhìn vui tươi về cuộc sống, là sự đánh giá hiện thực khác qua cái nhìn hoài nghi của Hamlet: sống hay không sống, tồn tại hay không tồn tại. Nguyễn Du cũng vậy, thời gian viết Thanh hiên Nam Trung thì đói nghèo, bệnh tật, phong trần “thập tải phong trần” là thời gian chán chường, tiêu cực, bế tắc chỉ muốn “gọt tóc vào rừng ở”, làm sao có cảm hứng mạnh mẽ, tích cực để viết Truyện Kiều. Chính cụ Giải nguyên Lê Thước đã phát hiện vấn đề này đầu tiên. Nghiên cứu văn học phải nên đi vào cái mà Belinsky gọi là cảm hứng chủ đạo; vào chính tác phẩm với muôn ngàn biểu hiện của nó, chứ không phải chỉ căn cứ vào chữ húy, mặc dù chữ húy nhiều khi cũng là chỉ dấu quan trọng. Tuy nhiên, bản thân vấn đề chữ húy trên văn bản các Truyện Kiều cổ cũng rất phức tạp, không dễ tin. Nhưng cái mệnh đề: “Nguyễn Du sứ hoàn, hữu Bắc hành thi tập, Kim Vân Kiều truyện hành thế” của Quốc sử quán triều Nguyễn (Nguyễn Du đi sứ trở về, có Bắc hành thi tập Kim Vân Kiều truyện truyền tụng trên đời) là rất đáng tin. Vì nó phù hợp với cảm hứng chủ đạo tích cực, nhập thế giữa Truyện KiềuBắc hành, vì Quốc sử quán là cơ quan có nhiều tư liệu giá trị về Nguyễn Du. Không phải chỉ về chức tước, tiểu sử Nguyễn Du, còn nói cả tính cách Nguyễn Du (do quan sát trực tiếp): “bề ngoài vâng dạ, bên trong tự phụ” là rất đúng. Những tư liệu về Truyện Kiều có trước khi đi sứ, như nói có từ 1805, trong bài thơ của Phạm Quý Thỉnh cũng đã bị bác, do bài thơ ấy Phạm Quý Thỉnh làm năm 1821 chứ không phải 1805.

Người ta không thể bác bỏ điều ghi chép của những người đương thời ở Quốc sử quán một cách đơn giản như vậy được, nếu không có “hai lần lý lẽ”.♦


Tư liệu tham khảo:

- Nguyễn Du toàn tập (2 tập), Mai Quốc Liên, Vũ Tuân Sán, Nguyễn Minh Hoàng. Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2015.

- Truyện Kiều, Mai Quốc Liên chú giải, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2018.

- Lịch sử văn học thế giới, Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, Viện Văn học thế giới M. Gorky, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2014.

- Phương Đông và phương Tây, N.I. Konrad, NXB Giáo dục, 1996.

  • PArner Honvietquochoc
  • Viet nam air
  • free hit counter script