Đỗ Phủ trong đôi mắt thời đại chúng ta

Theo cách tính của Tư Mã Thiên, từ Chu Công đến Khổng Tử khoảng 500 năm, từ Khổng Tử đến Tư Mã Thiên khoảng 500 năm nữa. Cái vai trò nắm giữ văn hóa Trung Hoa, cứ khoảng 500 năm lại xuất hiện một vĩ nhân. “Kẻ hèn mọn này đâu dám từ chối việc ấy” (Tư Mã Thiên)… Một ý thức sâu sắc, vĩ đại, và cũng chẳng khiêm nhường giả dối. Đỗ Phủ xuất thân trong một gia đình nhà Nho “phụng Nho thủ quan”. “Thơ, ấy việc nhà ta”, ông viết. Kể lên đời ông nội, Đỗ Thẩm Ngôn là một danh gia đời Đường. Ngược lên nữa, ông tổ Đỗ Dự đời Tấn là một danh tướng…

Đỗ Phủ từ năm sáu, bảy tuổi đã nổi tiếng văn chương. Ông nuôi cái chí sánh mình với các thánh hiền đời xưa (Tiết, Tắc) giúp vua vượt Nghiêu Thuấn. Ảo mộng đó đã tan tành khi ông thi trượt vì bọn Lý Lâm Phủ ghét nhân tài, cho là hiền tài đã được hắn thu dùng hết rồi. Cơm áo, vợ con, đúng là đã “không đùa với khách thơ”. Một tài năng lỗi lạc như ông mà phải dâng phú, dâng thơ, nhờ bạn bè nói hộ, mãi hàng chục năm mới được ban cho một chức quan nhỏ. Vì vào thời ấy, những trí thức như Đỗ Phủ, muốn sống, thì phải ra làm quan – cái nghề duy nhất!

Cuộc sống sau này trong ly loạn, tha phương, nghèo đói…, và bộ mặt của triều đình đã làm ông “vỡ mộng”. Nhưng không làm ông thay đổi cái chí nguyện yêu dân, yêu nước, yêu đời của mình.

Cái lạ lùng đầu tiên của Đỗ Phủ là làm sao ông xuất thân tầng lớp trên, mà ông lại kiên trì đi về phía nhân dân, phát ngôn cho họ, phát ngôn cho lý tưởng tốt đẹp, cao cả của mình. “Cùng niên ưu lê nguyên” (Cả năm lo cho dân đen) (Tự kinh phó Phụng Tiên huyện vịnh hoài ngũ bách tự). Chắc chắn phải có một truyền thống văn hóa sâu dày hàng nghìn năm từ thời cổ đại Thương Chu mà Đỗ Phủ đã thấm nhuần sâu sắc phần tinh hoa; đặc biệt là tinh thần “thân dân” của Nho giáo nguyên thủy. Ông đã viết: “Nho quan đa ngộ thân” (Mũ áo nhà Nho làm lỡ làng thân mình). Đóng vai một trí thức Nho giáo, vì dân, vì nước, Đỗ Phủ đã gặp phải biết bao khốn khó. Nhưng suốt đời ông, ông không từ bỏ chí nguyện đó.

Đại thi hào Đỗ Phủ

Có biết bao bài thơ vì cuộc đời nhân dân mà viết nên, từ thời chạy loạn khỏi Trường An đến thời chiến loạn, Tam lại, Tam biệt, Tự kinh phó Phụng Tiên huyện vịnh hoài ngũ bách tự. Đó là những tuyên ngôn thơ của Đỗ Phủ, những kiệt tác bình thường mà phi thường của một thi nhân thời cổ. Ta phải nhận rằng, cho đến thời chúng ta đang sống, với biết bao phức tạp, biến thiên, ta vẫn thấy Đỗ Phủ, ngoại trừ phần “trung quân” khó tránh khỏi vì những ràng buộc của thời đại, thì toàn bộ tư tưởng thơ Đỗ Phủ là một đỉnh cao của tư tưởng nhân văn của nhân loại. Đó có thể gọi là tư tưởng “xã hội chủ nghĩa sơ khai” của loài người!

Chính vì vậy mà khi đánh giá thơ Đường, thơ Lý – Trần…, Viện sĩ Nga N.I.Konrad đã cho rằng nền thơ ấy đã đạt đến thời Phục hưng (Renaissance) của nhân loại. Phục hưng là một tư trào tư tưởng văn hóa ở châu Âu, bắt đầu từ thế kỷ XV, chống ách nô dịch của lãnh chúa phong kiến của giáo hội, đòi tự do cá nhân, khích lệ khám phá thế giới… Đó là một thời đại to lớn làm lịch sử loài người chuyển sang một kỷ nguyên mới. Nó làm lay chuyển tận gốc rễ những quan niệm, tín điều cũ kỹ về thế giới, về con người, và đó là một thời kỳ mới về văn hóa – văn nghệ. Gốc rễ của phong trào ấy là sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, và từ đó một giai cấp mới ra đời, giai cấp tư sản mang sứ mệnh chôn vùi giai cấp lãnh chúa phong kiến, giải phóng con người (dĩ nhiên là vẫn trong phạm vi tư hữu tư sản mà thôi).

Ở phương Đông, mà ở đây là ở Trung Quốc, do nhiều điều kiện lịch sử đặc thù, đã không có một tư trào mang tên Phục hưng như thế. Nhưng căn cứ vào sự nghiên cứu lịch sử cụ thể về tư tưởng – văn hóa – xã hội thời Đường của Trung Quốc với những đại diện tư tưởng như Hàn Dũ 韓 愈 (768-824) và với những tác gia văn học vĩ đại, mở thời đại mới, N.I Konrad đã nêu lên có một thời đại Phục hưng sớm ở Trung Quốc. Konrad viết:“Lý Bạch cùng với Vương Duy và Đỗ Phủ (…) là những người khởi xướng thực sự cho nền thơ ca vĩ đại của thời đại Phục hưng Trung Quốc, lại mở đầu cho kỷ nguyên Phục hưng ở tất cả các nước Đông Á”.

Vấn đề là đối với Đỗ Phủ, chúng ta thấy rõ mồn một chủ nghĩa nhân văn mới với trung tâm chú ý là con người – những khổ nạn của con người – những khát vọng của con người. Mặt khác, trong hình thái của nghệ thuật thể hiện, thì từ Đỗ Phủ bắt đầu một chủ nghĩa hiện thực đích thực, chín mùi, già dặn, một chủ nghĩa hiện thực lấy những chi tiết của bản thân đời sống làm chất liệu nghệ thuật. Mặt khác, nó tuân thủ triệt để đặc điểm: tác giả không hề can thiệp, rao giảng, thuyết minh mà để sự vật và tình thế tự nó nói lên. Ta hãy xem Thạch Hào lại với màn kịch nhỏ - bi kịch của một gia đình nông dân trong chiến tranh với 3 đứa con ra lính, đứa con dâu bế con nhỏ không mảnh quần lành, ông già vượt tường trốn bắt phu và bà già phải đi phu thay – nấu cơm cho lính. Kết thúc: sáng hôm sau, tác giả lên đường, chỉ cùng ông già từ biệt (Thiên minh đăng tiền đồ - Độc dữ lấy ông biệt 天明登前途, 獨與老翁別).

Cho nên, vai trò quan trọng hàng đầu của Đỗ Phủ trong suốt lịch sử văn học – lịch sử văn hóa Trung Hoa chính là vai trò của một ngọn cờ - tư tưởng- nghệ thuật có tính chất mở thời đại. Những nhà lý luận – nhà thơ đồng thời với ông, đã nhận ra điều đó khi viết:

“Đỗ Tử Mỹ trên làm mờ cả Phong Tao (Kinh Thi, Sở Từ), dưới thì kiêm cả Thẩm-Tống (Thẩm Thuyên Kỳ 沈佺期, Tống Chi Vấn 宋之問); lời thơ vượt cả Tô-Lý (Tô Vũ 蘇武, Lý Lăng 李陵), khí thơ nuốt cả Tào-Lưu (Tào Thực 曹植, Lưu Côn 刘琨); che khuất đỉnh cao Nhan-Tạ (Nhan Diên Chi 顏延之, Tạ Linh Vận 謝靈運); nhuộm cả dòng thắm Từ-Dữu (Từ Lăng 徐陵, Dữu Tín 庾信); có được tất cả thể thế cổ kim và hết thảy cái đặc sắc của từng thi sĩ. Người làm thơ từ xưa đến nay, chưa có ai như Đỗ Tử Mỹ” (Nguyên Chẩn).

杜子美上薄風騷下該沈宋,言奪蘇李氣吞曹劉,掩顏謝之孤高,雜徐庾之流麗,盡得古今體勢,兼人人之所獨專,則詩人以來,未有如子美者.

(Đỗ Tử Mỹ thượng bạc Phong Tao, hạ cai Thẩm, Tống, ngôn đoạt Tô, Lý; khí thôn Tào, Lưu, yểm Nhan Tạ chi cô cao, tạp Từ, Dữu chi lưu lệ; tận đắc cổ kim thể thế, kiêm nhân nhân chi sở độc chuyên, tắc thi nhân dĩ lai, vị hữu như Tử Mỹ giả).

***

Thơ Đỗ Phủ, gồm hơn 5.000 bài, nay chỉ còn hơn 1.400 bài, là một bách khoa thư về cuộc sống – con người; trong đó chứa đựng những chi tiết cụ thể của thời đại ông, nhưng tính toàn nhân loại, tính vĩnh cửu… cùng hiện lên rất rõ.

Người ta gọi thơ Đỗ là “thi sử”. Đó là một nhà chép sử bằng thơ – một Tư Mã Thiên bằng thơ. Người ta có thể gặp trong thơ Đỗ cái kiêu sa của cung đình, cái khổ nạn của dân quê, cái bạo ngược của loạn quân, cái thảm biệt của gái tiễn chồng ra trận, cái hoang vắng thê lương của biên tái; cũng có thể gặp cái hùng vĩ của núi sông, cái hiu hắt của mùa thu, cái sáng trong của đêm trăng, cái diễm lệ của hoa xuân, cùng cái trác tuyệt của điệu múa, cái sinh động của hội họa…

Yêu và giận, thương lo và phấn khích, tất cả những cung bậc tình cảm của con người đều được gởi gắm vào thơ. Một thời đại loạn ly, chiến trận, trôi giạt, đói rét, buồn đau và tuyệt vọng… Trải qua thời đại ấy, Đỗ Phủ bộc lộ tất cả phẩm chất cao quý của một con người.

Hình tượng trung tâm của thơ Đỗ chính là con người Đỗ Phủ. Một con người yêu nước, thương dân, lo đời; một con người toàn diện, phong phú trong quan hệ vợ con, bè bạn, trong quan hệ với thiên nhiên, một con người tiêu biểu cho văn hóa Trung Hoa bao nhiêu thế kỷ, “sách đọc vỡ muôn quyển – hạ bút như có thần”, “phú liệu Dương Hùng địch  - Thơ xem Tử Kiến gần”, “bất bạc kim nhân, ái cổ nhân”. Con người ấy, nhìn từ thế kỷ XXI ngày nay, 1.300 năm trôi qua rồi, vẫn thấy gần gũi, thân thương, vẫn thấy “hiện đại”, thấy mới! Đó là vì chủ nghĩa nhân văn mà Đỗ Phủ suốt đời hiến mình, theo đuổi, vẫn còn là cái đích còn xa của toàn nhân loại.

Những vấn đề mà thời đại đặt ra cho Đỗ Phủ, hơn 1.300 năm rồi, vẫn còn đặt ra gay gắt cho thời đại chúng ta, vẫn còn ám ảnh chúng ta… Hy vọng của nhân loại vào một chủ nghĩa nhân văn mới, một chủ nghĩa nhân văn dựa trên sự phát triển phi thường của sức sản xuất và một quan hệ trong suốt giữa con người, “tự do của mỗi người là điều kiện cho tự do của toàn xã hội” (K.Marx) chưa được thực hiện, trong khi đói nghèo, chiến trận, căng thẳng giữa các nước không hề giảm…

Trong hoàn cảnh đó, Đỗ Phủ vẫn là một người bạn lớn, một người đồng chí, một ngọn cờ vẫy gọi chúng ta đi qua những khổ nạn trên “hành trình qua thống khổ” của nhân loại.

15/10/2012