46 năm chiến thắng Hàm Rồng (3/4/1965 - 3/4/2011) - Hàm Rồng trong tôi

Năm 1944, tôi ở mướn một nhà giàu Đường Lâm, làng quê hai vua Phùng Hưng, Ngô Quyền. Một hôm con trai nhà ấy hỏi mẹ: “Sao ở ta chỉ có hai vua mà Thanh Hóa có những bốn vua hai chúa”. Bà mẹ trả lời: “Trong ấy có Hàm Rồng cho người ta táng mả tổ”. Năm sau, Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, tôi vác gậy theo người lớn lên huyện giành chính quyền.

Cuối năm 1946, tôi gia nhập đoàn quân Nam tiến. Cuối 1950, tôi được sang Liên Xô tu nghiệp, cuối 1953 về nước, ở đơn vị pháo binh tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Một giặc lái bị ta bắt sống tiết lộ: trước khi quân Pháp ký hiệp định đình chiến, chúng sẽ oanh kích một số mục tiêu ở miền Bắc, trong đó có Hàm Rồng. Đại đội pháo chúng tôi nhận lệnh xuôi sông Mã về Hàm Rồng trực chiến. Hôm ấy 8 máy bay khu trục địch đến oanh kích Hàm Rồng, bị chúng tôi bắn trọng thương, một chiếc rơi ở Hòa Bình.

10 ngày cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, trực chiến và đánh trả máy bay địch ở Hàm Rồng, tìm hiểu tôi biết đây là địa danh nằm trên diện tích đất 4km² ở làng cổ Đông Sơn (nay là phường Hàm Rồng). Năm 1924, một nông dân khẩn hoang ở núi Rồng phát hiện ngôi mộ cổ táng trong lòng đất, người chết chôn theo nhiều vũ khí (cung tên, kiếm...). Thêm nhiều cuộc khai quật khảo cổ khác ở vùng đất này, từ năm 1934 nền văn hóa Đông Sơn dần phát lộ và nổi tiếng thế giới.

Tên “Hàm Rồng” ra đời từ dãy núi có hình tượng rồng dài 3km như con đê khổng lồ ở đoạn cuối bờ Nam hạ lưu sông Mã, đỉnh núi Đuôi Rồng giáp Giàng, nơi bắt đầu đất làng cổ Đông Sơn, đỉnh núi Đầu Rồng ở cuối đất làng Đông Sơn há to hai hàm làm thành hang Mắt Rồng, dõi nhìn biển Đông.

Nơi đây trong giai đoạn 1902 - 1905, bắt đầu cuộc đời cây cầu thép hùng vĩ, nổi tiếng về kỹ thuật, mỹ thuật biểu tượng cho trí tuệ con người đầu thế kỷ 20. Sau khi chiếm nước ta, cùng việc xây cầu Hàm Rồng, người Pháp lập KCN Hàm Rồng với quy mô vài ngàn công nhân để khai thác, bóc lột thuộc địa.

Hàm Rồng trên bến dưới thuyền, ngày đêm tải lương, đạn dược đưa đón các đoàn quân đi kháng chiến, nên không quân Pháp thường oanh kích. Cuối tháng 2/1947, ta đánh sập cầu xuống sông Mã, cản bước giặc trong ra, ngoài vô và từ biển ngược sông Mã.

10 năm sau hòa bình 1954 là thời kỳ miền Bắc hàn gắn vết thương chiến tranh. Hàm Rồng khi ấy chưa thuộc thị xã Thanh Hóa nhưng đã hình thành KCN bề thế, làm cho cảnh Hàm Rồng nhất là về đêm từ đỉnh núi Rồng nhìn xuống, hai bên bờ sông hai đầu cầu, ánh sáng điện rực sáng một khúc sông Mã ở hạ nguồn như đang mở ra thiên đường.

Ngày 19/5/1964, tham gia nhóm công tác nghiên cứu tổ chức trận địa pháo bảo vệ cầu Hàm Rồng trong chiến tranh, chúng tôi ngồi con tàu từ ga Hà Nội vào thông xe cầu Hàm Rồng thế hệ thứ 2 mang tên 19/5 (ngày sinh nhật Bác), là công trình kỹ thuật thể hiện tài trí của giai cấp công nhân trẻ Việt Nam.

*****

Non năm sau, tôi, Hy, Tân trên đường công tác Hàm Rồng về lại Hà Nội. Hôm ấy là 3/4/1965, mới hơn 10 giờ, trời nắng ong ong trên đầu, mặt đất hơi nóng bốc lên hầm hập, xe con chúng tôi đến gần đầu cầu núi Rồng, máy bay Mỹ đến đánh cầu, một quả rocket nổ gần làm xe hư giữa đường, người trong xe bị xô đập vào thành xe, xe như sắp bốc cháy, chúng tôi vội ra khỏi xe, cùng tiến về phía tiếng hô khẩu lệnh của trận địa gần.

Đây là trận địa trung liên và súng trường gần cầu nhất, trên bãi bờ Nam sông Mã, dưới chân núi Rồng của các chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang, vừa làm nhiệm vụ vừa uy hiếp, đánh trả máy bay địch bảo vệ cầu, vừa theo dõi báo cáo về chỉ huy.

Quả bom khác rơi sát trận địa bên phải, công sự bị lấp, các xạ thủ nhanh chóng trở lại nơi cũ nhưng không có công sự. Thuấn liền cầm hai chân trung liên đặt lên vai mình cho Lúng bắn. Nhóm súng trường của Tam, Hiên, Khiền bên trái cầu, vừa đánh trả địch vừa quan sát báo cáo về chỉ huy. Bị hạ nhiều máy bay, giặc điên cuồng trả đũa.

Loạt bom nổ ngay núi Rồng, bụi đất phả vào mắt Thuấn, chúng tôi người giúp Thuấn rửa mắt, người thay Thuấn cầm hai chân trung liên đặt lên vai mình cho Lúng bắn. Khiền bị đá rơi vào đầu, lịm đi không nói được, hai nữ dân quân cứu thương đến băng vết thương cho Khiền, định đưa Khiền về tuyến an toàn chăm sóc. Khiền tỉnh dần, nói: “Hiên ơi, mình phải ở lại trận địa chiến đấu cùng cậu đến cùng”.

Một quả bom rơi gần chớp lửa, Khiền vội nằm xuống, đất vùi kín người. Tôi và Hiên moi Khiền lên, vừa lúc nhóm nữ dân quân cứu thương chạy đến xử lý vết thương. Khiền dần tỉnh lại, cầm súng đưa lên ngắm chiếc máy bay bay tới nhưng hoa mắt, buốt óc, ngắm không được. Khiền tựa súng vào vai, lấy khăn lau mặt, day hai mắt một lúc lại tiếp tục bắn.

Một cái bè dài, lớn, không người điều khiển bồng bềnh trôi gần khắp ngang sông, cách cầu khoảng 100m. Nếu bè không cột vào bờ, bè trôi tới cầu, gặp dòng chảy quẩn xiết, bè quấn vào trụ giữa cầu, gây nguy hiểm cho cầu. Tôi liền bơi ra sông kéo bè cột vào bờ. Bè vừa cột vào bờ, loạt bom giặc ném xuống sông, nước sông dâng lên, quật nửa bè vắt lên bờ và kéo tôi ra sông. Tôi bơi vào bờ.

Tin ta hạ chiếc máy bay Mỹ thứ 17 như tiếp thêm sức mạnh cho mọi người. Một quả rocket nổ gần, áo Khiền xém cháy. Hiên gọi Khiền không thưa, vội cởi áo cho Khiền. Khiền bị sức ép, tai, mũi nhỉ ra, mắt nhắm nhưng vẫn nói: “Xin thủ trưởng cho tôi ở lại chiến đấu đến cùng”. Nhóm nữ cứu thương xử lý tình huống, báo cáo chỉ huy trận địa. Nhận lệnh, tôi và Hy cùng một nữ cứu thương chuyển Khiền lên tuyến cứu chữa.

Hơn 6 tiếng đồng hồ lăn lộn, xông pha dưới trời nắng lửa, bom đạn, ai nấy lem luốc như củ khoai, củ sắn vừa móc dưới đất lên nhưng vẫn nhận ra nhau qua khóe mắt, nụ cười của người chiến thắng từ trận đầu. Từ các làng, cụ ông, cụ bà chống gậy theo con cháu gánh cơm, gánh nước ra trận địa. Sau bữa khao dã chiến tại trận địa cùng các chiến sĩ gang thép, thủ trưởng Mai Gia Vọng đến nơi xe chúng tôi bị loạt bom đầu tiên làm hư hại. Anh chứng nhận vào giấy công tác của chúng tôi, gửi xe cho chúng tôi về Hà Nội.

Đêm ấy trên đường về Hà Nội, từ Lèn về Phủ Lý, địch thả pháo sáng, oanh kích xe chạy trên đường, ngồi xe chạy đèn ngầm tôi nghĩ về tính ác liệt của chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ; nghĩ về chỉ huy Mai Gia Vọng, đội bom đạn, bám trận địa truyền khẩu lệnh đánh trả địch; nghĩ về xạ thủ Khiền nhiều lần như chết đi sống lại vẫn không rời trận địa; nghĩ về xạ thủ Thuấn cầm hai chân trung liên giữ trên vai mình cho Lúng bắn; nghĩ về 2 nữ dân quân thoăn thoắt khi tiếp đạn, khi cứu thương; nghĩ về những người chết chôn theo vũ khí trong các ngôi mộ táng dưới đất núi Rồng hàng ngàn năm trước, thường trực bên mình tinh thần sẵn sàng chiến đấu bảo vệ mảnh đất quê hương...


Dân quân Hàm Rồng - Thanh Hóa kéo pháo vào trận địa (1967).
Ảnh: Nguyễn Đình Ưu.

*****

Đông Sơn – Hàm Rồng “địa linh, nhân kiệt” của “Thanh Hóa biển bạc rừng vàng/Ruộng đồng man mác xóm làng liên miên” (*), trong kháng chiến chống Mỹ trở thành pháo đài thép cùng với Yên Vực, Nam Ngạn viết nên huyền thoại về cây cầu thép Hàm Rồng được mang tên ngày sinh nhật Bác (cầu 19/5) đã thành anh hùng cùng với nhiều tập thể, cá nhân anh hùng, được thế giới ca ngợi.

Tôi nhớ câu thơ “Đứng cao nhìn xa tít/Ngỡ mình đứng trong mây” của lãnh tụ Cần vương Nguyễn Quang Bích; đồng thời là nhà thơ của non xanh nước biếc khi từ đỉnh Cánh Tiên – đỉnh núi cao nhất ở Hàm Rồng, được đắp bằng đá trắng hai chữ “Quyết thắng”, khẳng định quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, khẳng định sức mạnh truyền thống lịch sử làm nên chất anh hùng ca của nền văn hóa Đông Sơn – cái nôi văn minh nhân loại và chất trữ tình của núi Rồng – sông Mã.

Trải bao thăng trầm lịch sử, Đông Sơn – Hàm Rồng vẫn giữ được nhiều nét lớn của một làng quê Việt Nam truyền thống, từ năm 2003, nền kinh tế nông nghiệp Đông Sơn chuyển hướng phát triển kinh tế du lịch. Hơn 100ha đồi núi trọc trong kháng chiến chống Mỹ đã phủ xanh thông, keo, cây lưu niên thành Lâm viên Hàm Rồng, nhiều dịch vụ phục vụ cho phát triển du lịch, cách cầu Hàm Rồng 300m về phía hạ nguồn là cầu mới Hoàng Long.

Trong quy hoạch phát triển TP Thanh Hóa đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 vùng hạ lưu sông Mã có cầu Nguyệt Viên, cảng khách Hàm Rồng – Nam Ngạn. Khi ấy Hàm Rồng, cầu Hàm Rồng giữa thành phố, như cầu Long Biên, phường Long Biên giữa thủ đô Hà Nội. Một Hàm Rồng mang tầm thời đại là nguyện vọng của người Hàm Rồng và của cả nước, của những hoạch định của các nhà lãnh đạo tài năng.

Kỳ vọng “Mã táng Hàm Rồng” không của riêng ai. Trước tiên là của những người con Hàm Rồng hy sinh trong chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc, của những người con trên mọi miền Tổ quốc hy sinh trong chiến đấu bảo vệ Hàm Rồng. Tại khu đất cạnh trụ sở UBND phường Hàm Rồng, Nhà nước đã khánh thành “Đài tưởng niệm chiến thắng Hàm Rồng”.

Theo SGGP


(*)

Lời Bác Hồ.