Bài ca người gảy đàn thành Thăng Long*

Người gảy đàn ấy không rõ họ tên là gì, chỉ nghe thuở nhỏ nàng đã theo học đàn Nguyễn trong bộ nữ nhạc cung vua Lê. Tây Sơn dấy binh, đội nhạc cũ chết chóc, tản mác. Nàng lưu lạc nơi đầu chợ, ôm đàn hát rong. Những bài nàng đàn đều là những khúc gảy hầu nhà vua, người ngoài không ai được nghe, cho nên nàng được khen là “tuyệt kỹ” của một thời.

Tôi, hồi trẻ đến kinh đô thăm anh tôi, đêm trọ ở quán bên hồ Giám. Cạnh đấy các quan Tây Sơn tụ hội bọn con hát, con hát nổi tiếng không dưới vài chục người. Nàng riêng thạo đàn Nguyễn, hát cũng hay, lại khéo pha trò. Người xem đều mê mẩn, nhiều lần thưởng cho nàng những chén rượu lớn, nàng tức thì uống cạn, tiền lụa thưởng nhiều vô số kể, chất đầy mặt đất.

Tôi lúc ấy nấp trong bóng tối, trông không rõ lắm. Sau gặp nàng ở nhà anh tôi. Nàng không đẹp lắm, người thấp, má phính, trán dô, mặt gãy, người đẫy đà, khéo trang điểm, mày nhạt phấn đậm, áo màu hồng, quần lụa đen biếc, phong nhã tươi tắn. Nàng hay uống rượu, thích hài hước, mắt long lanh, chẳng hề để ý đến một ai.

Ở nhà anh, tôi mỗi lần uống rượu đều say, nôn mửa cả ra, nằm dài trên đất, bạn bè cũng không để tâm chê trách. Sau đó vài năm tôi dời vào Nam, và từ đó không trở lại Thăng Long nữa.

Mùa xuân năm nay, tôi phụng mệnh sang sứ phương Bắc, trên đường qua Thăng Long, các quan có đặt tiệc tiễn tôi ở dinh Tuyên phủ nên cho gọi hết nữ nhạc trong thành, con hát trẻ đến mấy chục người, tôi đều không biết mặt biết tên.

Họ thay nhau ca múa. Rồi nghe vút lên một khúc đàn Cầm trong trẻo, nghe khác hẳn các khúc nhạc đương thời. Tôi lấy làm lạ nhìn người đàn, thì thấy người gầy võ, thần sắc khô khan, mặt đen, xấu như quỷ, quần áo toàn bằng vải thô, bạc phếch, vá nhiều mảnh trắng, ngồi lặng lẽ ở cuối chiếu, không nói không cười, hình dáng khó coi quá.

Tôi không biết là ai, duy nghe tiếng đàn thì dường như đã từng quen biết nên động lòng trắc ẩn. Tiệc tan, hỏi đến người chơi đàn thì ra chính người gảy đàn ngày xưa ấy. Than ôi! Người ấy sao đến nỗi này! Tôi bồi hồi ngẩng lên cúi xuống, khôn xiết cảm thương cho sự đổi thay xưa và nay.

Đời người trăm năm, vinh nhục buồn vui khó có thể nào lường được. Sau khi từ biệt, suốt trên đường đi tôi cảm xúc vô hạn, nên làm bài ca để gởi mối cảm hứng.

Người đẹp Long thành, họ tên nào ai biết,

Ngón nguyệt cầm nàng chơi kỳ tuyệt,

Tên cô Cầm – cách gọi mến thân,

Khúc Cung phụng trong cung vua triều trước,

Khúc nhạc thần tiên giáng cõi trần.

Ta nhớ thời trai từng giáp mặt,

Tiệc bên hồ Giám cuộc dạ yến,

Nàng chừng hai mốt, tuổi đang xuân,

Đôi má hồng tươi mờ trang điểm.

Ngây thơ men rượu ửng má đào,

Năm cung réo rắt điệu thay nhau,

Tiếng khoan như gió rừng thông vậy,

Tiếng trong như tiếng hạc kêu đêm giữa từng không

Mạnh như sét đánh tan bia Tiến Phúc

Buồn như Trang Tích giọng Việt ngâm.

Người nghe say đắm không biết chán,

Ấy khúc Trung Hòa đại nội âm.

Các quan Tây Sơn lảo đảo say,

Cả đêm vui chơi còn tiếc nuối,

Tả hữu đua nhau ném lụa tiền,

Tiền bạc coi ra gì, đất thó!

Hào hoa ý khí át vương hầu,

Thiếu niên Ngũ Lăng không đáng kể.

Ba mươi sáu cung xuân gộp lại,

Thành Trường An báu vật đêm này.

Tiệc ấy quay đầu hai chục năm,

Tây Sơn thua rồi, ta vào Nam.

Long thành gang tấc chẳng thấy lại,

Huống chi tiệc rượu với cung cầm.

Tuyên phủ vì ta bày cuộc vui,

Trong tiệc cô đào đều trẻ tươi

Cuối chiếu một người tóc đốm bạc,

Mặt võ thần khô người xơ xác,

Đôi mày tàn tạ không điểm trang

Đố ai biết đó người diệu kỳ bậc nhất kinh thành ngày nọ,

Khúc xưa giọng mới lệ thầm rơi,

Tai nghe tiếng đàn lòng quặn đau,

Chợt nhớ lại hai mươi năm trước,

Từng thấy nàng trong tiệc Giám hồ.

Thành quách đổi dời, việc người biến cải,

Bao nơi ruộng dâu thành “thương hải”.

Cơ nghiệp Tây Sơn còn chi đâu,

Ca múa một người trơ sót lại.

Trăm năm chớp mắt có là bao,

Việc cũ đau lòng lệ thấm áo.

Ta ở Nam về đầu bạc phới,

Trách chi người đẹp má phai đào,

Mở to đôi mắt luống nhớ lại,

Thương thay giáp mặt ngỡ ngàng sao!

MAI QUỐC LIÊN dịch

 

* Nguyên tác: Long Thành cầm giả ca.

Bài ca người gảy đàn thành Thăng Long là một kiệt tác của thơ chữ Hán Nguyễn Du. Đây là câu chuyện có thực, cũng như câu chuyện của Bạch Cư Dị và người gảy đàn ở bến Tầm Dương là có thực. Từ chất liệu đó, hai đại thi hào làm nên hai kiệt tác. Bạch Cư Dị là người đi trước, bài Tỳ bà hành nói tâm trạng của ông và của người gảy đàn, một ông quan và một ca nương, nỗi đau trước thân phận của nàng và của ông, được ngàn năm truyền tụng.

Nguyễn Du khác Bạch Cư Dị ở chỗ ông đưa vào bài thơ những cảm quan lịch sử lớn, những thay triều đổi đại, những biến động lịch sử liên quan đến số phận cô Cầm và cả số phận của ông. Bài thơ do đó vừa hay vừa lớn, những đối nghịch giữa lịch sử và phận người là một nét đặc sắc của thi pháp bài thơ: Cơ nghiệp Tây Sơn còn chi đâu/ Ca múa một người trơ sót lại…

Đã có nhiều dịch giả bậc thầy dịch bài thơ. Chúng tôi đến sau, muốn chọn một cách dịch theo sát nguyên tác nhất từ tình điệu đến vần điệu. Nhưng “dịch còn khó hơn cả sáng tác” (Lỗ Tấn), và cũng chỉ là để “mua vui” cho bạn đọc nhân dịp kỷ niệm 250 năm ngày sinh đại thi hào. Nhân dịp này, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học cũng sẽ xuất bản Nguyễn Du toàn tập (bộ mới).