Băng thu âm dang dở

Thông báo của Hạm đội Mỹ đóng căn cứ tại Đà Nẵng, nhà báo - nhà sử học Bernard Fall (Bernard B. Fall), Giáo sư thực thụ Trường Đại học Howard, Washington D.C, qua đời ngày 21-2-1967 ở tuổi 40 do dẫm phải mìn trong khi cùng một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ hành quân tìm diệt tại Con Đường Không Vui, cách thành phố Huế 14 dặm về hướng tây bắc, làm chấn động giới chính trị và học thuật phương Tây. Hầu hết các tờ báo quan trọng ở Mỹ và châu Âu đều dành vị trí trang trọng loan tin dữ. Quốc hội Pháp và Quốc hội Mỹ dành một phút mặc niệm, các nghị sĩ tả cũng như hữu cùng đứng lên im lặng cúi đầu. Tạp chí Time phát hành mươi hôm sau cái chết bất ngờ này, viết:“Dải đất ấy (Con Đường Không Vui, nơi ông qua đời - PQ) quá quen thuộc với nhà dân sự, Giáo sư Bernard Fall, có mặt duy nhất hôm đó giữa các nhà binh toàn là Lính thủy đánh bộ đang tiến hành cuộc hành quân tìm diệt. Ông là người, qua các cuốn sách và nhiều chuyến đi đi về về đất nước ấy, đã tự tạo lập cho mình tên tuổi là nhà bình luận quốc tế nổi tiếng nhất thế giới về Việt Nam hiện nay”. Roger Levy, Tổng thư ký Ủy ban nghiên cứu các vấn đề Thái Bình Dương, ca ngợi:“Ông có nếp quen sưu tầm tư liệu từ mọi nguồn, và không hề lùi bước trước gian nan nào”. Nhà văn Pháp Jean Lacouture, người đầu tiên xuất bản cuốn tiểu sử về Chủ tịch Hồ Chí Minh (1967), viết: “Cái chết của Bernard Fall là một thách thức đối với tất cả chúng ta, những người ít hay nhiều dũng cảm, thông minh hoặc tài năng, đã chiến đấu đòi [người Mỹ] ngưng cuộc thảm sát tại Việt Nam… Sau cái chết của người lính gác có trách nhiệm, một người lính gác đêm với cái nhìn dũng cảm, các chuyên gia về kỹ thuật leo thang chiến tranh Mỹ từ giờ lại được rảnh tay”. Nhà sử học Philippe Devillers, một chuyên gia khác về Việt Nam, nhận định:“Nếu nước Pháp mất đi một đại diện nổi bật(1) thì Hoa Kỳ tổn thất hơn thế nhiều. Bernard Fall là người duy nhất, không có ai thay thế được… Nhân dân Mỹ đã mất đi một người rất hiếm, có thể nói cho họ rõ sự thật, giúp họ hiểu đất nước Việt Nam mà anh đã dấn thân hết mình khám phá không mệt mỏi”.

Khi đã có đủ độ lùi thời gian và bình tĩnh nhìn lại, nhà sử học Mỹ Leonard P. Liggio quả quyết: “Bernard Fall là nguồn tin chủ yếu cho công chúng Mỹ hồi bấy giờ về những diễn biến chính trị xã hội tại Đông Nam châu Á và sự phản ứng của chính phủ Hoa Kỳ trước những diễn biến ấy. Rất nhiều lần, Bernard Fall ra sức chứng minh rằng các sự kiện thực tế diễn ra là hoàn toàn trái ngược những gì được viết trong “sử chính thống” do Bộ Ngoại giao Mỹ và Lầu Năm Góc trình bày thông qua các phương tiện báo chí, truyền thông”.

Năm 1997, bà quả phụ Dorothy Fall sang nước ta lần theo dấu vết của chồng nhằm hoàn tất cuốn tiểu sử-hồi ức về ông (Memories of a Soldier-Schoolar). Bà được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Bà viết: “Đại tướng đã đọc các tác phẩm của Bernard Fall. Ông xúc động nói với tôi: Chồng bà là người đầu tiên viết nhân dân Việt Nam chiến đấu vì hòa bình. Chồng bà là người đầu tiên dự đoán thất bại của Mỹ ở Việt Nam. Chồng bà nghiên cứu sâu về Việt Nam và hiểu rõ nhân dân chúng tôi lắm”. Bà Dorothy dành nhiều trang trong cuốn Memories of a Soldier-Schoolar thuật lại “tấm lòng quý mến của Bernard Fall đối với đất nước Việt Nam và những cố gắng không mệt mỏi của ông giúp Việt Nam khỏi bị tàn phá bởi bom đạn, cũng chính là giúp Hoa Kỳ tránh thảm họa thất bại cuối cùng”.

* *

pic

Bản dịch tiếng Pháp tác phẩm

Con đường không vui của Bernard Fall

Bernard Fall người Pháp gốc Do Thái, sinh năm 1926 tại Viên, thủ đô nước Áo. Năm 1938, tránh nạn phát xít, gia đình ông di cư sang Paris, nhập quốc tịch Pháp, rồi tham gia chiến tranh chống Đức xâm lược. Năm 1940, cha ông bị quân đội Đức bắt và xử tử, mẹ ông bị đày vào trại tập trung, không bao giờ trở lại. Cậu bé Bernard 16 tuổi đã tham gia quân du kích Pháp hoạt động tại vùng núi Alpes, chờ đủ tuổi sung vào quân đội (Sư đoàn 2 Bắc Phi Quân Giải phóng Pháp), năm 1946 mới trở lại trường học. Ông sang Mỹ học thạc sĩ, được các giáo sư khuyến khích nên đi sâu nghiên cứu vấn đề chiến tranh Pháp ở Đông Dương, vấn đề nóng nhất lúc bấy giờ. Chàng nghiên cứu sinh đến Việt Nam lần đầu năm 1952, tìm tư liệu hoàn thành luận văn tiến sĩ.

Năm 1953, sau khi theo dõi một chiến dịch càn quét của quân đội Pháp có tên là Opération Camargue phối hợp lục, hải, không quân, mà ông coi là một “cuộc hành quân lớn ngang tầm thế chiến II”, với mục đích bao vây, tiêu diệt Trung đoàn 95 Quân đội Nhân dân Việt Nam đang hoạt động tại vùng này, ông đã quả quyết sự thất bại không thể nào tránh khỏi của Đạo quân viễn chinh Pháp tại Việt Nam. Với nhiều bài đăng trên báo chí phương Tây phản đối chiến tranh thực dân, Bernard Fall trở thành đối tượng theo dõi của tình báo Pháp. Không những nhiều bài viết của ông bị ngăn chặn trên đường gửi đến các tòa soạn, mọi thư riêng ông thăm hỏi người vợ chưa cưới đang ở Mỹ cũng đều bị kiểm duyệt săm soi.

Từ bài học thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ, ngay từ những ngày Mỹ bắt đầu can thiệp vào miền Nam Việt Nam, Tiến sĩ Bernard Fall đã khẳng định Mỹ nhất định rồi cũng sẽ thất bại. Ông kiên trì bác bỏ và tìm cách chứng minh quan điểm của những thế lực hiếu chiến Mỹ cứ một mực cho rằng sức mạnh quân sự và vũ khí tối tân có thể đè bẹp ý chí độc lập của một dân tộc, là hoàn toàn sai lầm. Bernard Fall đến lượt trở thành “đối tượng nguy hiểm cho nước Mỹ”, bị FBI theo sát từng bước chân.

Về nhân thân, Bernard Fall lại tự cho là mình có “thế mạnh”. Là cựu chiến binh Sư đoàn 2 Bắc Phi Pháp chống phát xít, được trao tặng Huân chương Giải phóng, Bernard Fall đến Việt Nam được các đơn vị Đạo quân viễn chinh Pháp ở đây đón tiếp như đồng đội, sẵn sàng mời tham gia các cuộc hành quân, nhờ thế ông dễ dàng thâm nhập các nguồn tư liệu quân sự. Sang thời Mỹ can thiệp sâu vào Việt Nam, với tư cách giáo sư một trường đại học tên tuổi tại thủ đô Washington, cộng tác viên của nhiều cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình hàng đầu Mỹ, ông dễ dàng hòa nhập vào các đơn vị quân đội Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Bernard Fall trước sau vẫn kiên định trong quan điểm phản đối chiến tranh xâm lược, và cố gắng hết mình đấu tranh đòi Mỹ mau chóng rút khỏi Việt Nam. Ông tự hào là trong quá trình thực hiện tại chỗ các công trình nghiên cứu, chưa bao giờ nhận trợ cấp của bất kỳ ai mà đều tự lo trang trải chi phí các chuyến đi dã ngoại.

Trong khoảng thời gian chưa tới 14 năm, từ cuối 1952 đến đầu 1967, Bernard Fall đã sang Việt Nam sáu lần, có chuyến đi kéo dài cả nửa năm, đặc biệt những năm tình hình chiến sự ngày càng nóng: 1965, 1966, 1967 năm nào ông cũng có một chuyến đến khảo sát tại chỗ. Ông đã cung cấp cho báo chí Mỹ, đặc biệt những tờ báo tên tuổi như The Washington Post, The New York Times… không chỉ nhiều bài, tin mà còn những tấm ảnh chụp tại chỗ có giá trị tố cáo chiến tranh. Có ảnh chụp cảnh làng quê Nam Việt Nam bốc cháy ngùn ngụt dưới trận mưa bom của Mỹ. Có ảnh chụp cảnh tù binh người Việt bị quân đội Mỹ cố tình bắt phơi nắng cho chết dưới sức nóng mặt trời như thiêu như đốt, trước con mắt lạnh lùng của những tên lính gác...

Trong sáu chuyến đi ấy, chuyến đến Bắc Việt Nam năm 1962 có tác động quyết định đến nhiều quan điểm chính trị của Bernard Fall. Ông được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số nhà lãnh đạo gần gũi của Người, được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp và trả lời phỏng vấn… Ông lên Điện Biên Phủ nghiên cứu thực địa, chuẩn bị tác phẩm Hell in Very Small Place. The Siege of Đien Bien Phu(2), xuất bản lần đầu năm 1966. Ông vào bờ bắc sông Bến Hải khảo sát “Mặt bên kia của vĩ tuyến 17” (tên một bài viết). Sau chuyến đi thăm miền Bắc Việt Nam, ông cho công bố nhiều bài trên các phương tiện truyền thông lớn ở Mỹ và Anh, trong đó có bài lời lẽ vô cùng trân trọng “cụ già tuổi ngoại bảy mươi với chòm râu bạc đi dép cao su”. Báo The Washington Post đăng bài ông phỏng vấn Thủ tướng Phạm Văn Đồng, trong đó Thủ tướng khẳng định “Mỹ không muốn có một cuộc chiến tranh dài nhưng rồi nó sẽ kéo dài. Mỹ không muốn thất bại ở Việt Nam nhưng rồi cuối cùng nhân dân Việt Nam là người chiến thắng”. Vẫn theo nhà sử học Leonard P. Liggio, sau chuyến đến miền Bắc nước ta năm 1962, qua thực tế cảm nhận được nơi đây, Bernard Fall nhấn mạnh sự khác biệt giữa hai miền Bắc - Nam; khác hẳn ở miền Bắc, chính quyền Sài Gòn ở miền Nam tuyệt nhiên không được bất kỳ sự ủng hộ nào từ dân chúng, mà “thiếu sự ủng hộ ấy, máy bay trực thăng và vũ khí hiện đại đến mấy cũng chẳng làm nên trò trống gì”.

Theo nhà báo Don Oberdorfer, từng có 25 năm làm việc tại nhật báo The Washington Post và là người viết Lời giới thiệu tập Di cảo của Bernard Fall xuất bản mấy tháng sau khi ông qua đời, trước khi thăm miền Bắc nước ta, quan điểm của Bernard Fall còn có một số điểm mơ hồ hoặc lệch lạc, chẳng hạn ông vẫn có định kiến các nhà lãnh đạo Bắc Việt nếu không là cái bóng của Moskva thì cũng của Bắc Kinh; ông ủng hộ chủ trương của một số người nên cho tồn tại một nước Nam Việt Nam trung lập làm rào cản, ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản tràn xuống Đông Nam Á v.v... Sau khi tận mắt nhìn thấy thực tế ở miền Bắc Việt Nam, được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp, gặp gỡ một số quan chức có trách nhiệm, phỏng vấn nhiều người dân thường, quan điểm của ông về các vấn đề trên hoàn toàn đổi khác.

* * *

pic

Tập Di cảo của Bernard Fall về cuộc chiến tranh Việt Nam

Giáo sư Bernard Fall thể chất cao lớn, khỏe mạnh, không ngờ mắc chứng bệnh hiểm nghèo. Sau bốn lần mổ trong thời gian ba năm với 8.000 đôla chi phí xét nghiệm, các bác sĩ Mỹ mới tạm kết luận bệnh của ông hiếm gặp, chữa trị khó khăn. Ông càng dốc sức làm việc, tranh thủ thời gian. Trang đầu của công trình đồ sộ nghiên cứu bài học thất bại của Pháp tại Điện Biên Phủ, thực hiện sau chuyến thăm miền Bắc nước ta năm 1962, ông ghi: “Tặng Dorothy, người đã [cùng chồng] sống ba năm dài với các bóng ma Điện Biên Phủ”. Theo lời bà vợ ông, dường như Bernard Fall linh cảm “cuộc sống còn lại của anh đang được tính theo ngày” vì lý do này hay lý do khác, do đó ông sống hối hả, hết mình. Ông muốn sưu tầm thêm tư liệu hoàn thành một cuốn sách nữa về Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, vẫn nhằm mục đích nói cho người Mỹ rõ mọi cố gắng tuyệt vọng của họ kéo dài cuộc chiến tranh phi nghĩa ở Việt Nam đều là vô ích. Trong thư gửi bạn Roger Levy viết tháng 11-1966, ba tháng trước khi qua đời, ông báo tin: “Năm nay tôi đã bay 1.300 giờ, tức 54 ngày trên máy bay. Tôi đang lao vào học tiếng Việt và hiện đang bị ngôn ngữ ấy nhấn chìm. Nhưng bây giờ, lại đến lúc phải chuẩn bị trang phục chiến đấu ở rừng, ba lô, lều bạt... để lên đường sang Việt Nam lần nữa…”.

Dự kiến chuyến đi rồi sẽ dài ngày, ông quyết định chuyển gia đình nhỏ gồm người vợ Dorothy đang mang thai cùng hai đứa con gái bé sang Hồng Kông cho tiện bề từ Việt Nam qua lại thăm nom.

Ông tiên cảm chuyến đi tiềm ẩn nhiều rủi ro. Theo Jean Lacouture, vài hôm trước khi đáp máy lên đường sang Việt Nam, ngày 8-12-1966, Bernard Fall tâm sự với một số bạn, vị thế của ông ở Mỹ đang gặp khó, những việc ông làm thời gian qua có thể đặt ông vào hoàn cảnh hiểm nghèo. Ông nói riêng với vài người thân rằng nếu ông chết ở Việt Nam, họ có thể hiểu tai họa từ đâu tới. Từ đó, cái chết vì “dẫm phải mìn” của nhà báo chống chiến tranh, theo thông báo của Hải quân Mỹ, một thời gian cũng có gây nên khá nhiều băn khoăn cho số bạn thân của ông ở Pháp. Trong cuốn sách Guerres d’Indochine…, tên bản dịch tiếng Pháp tác phẩm Street Without Joy của Bernard Fall, in năm 1970 tại Paris, mấy dòng giới thiệu tác giả tại bìa 4 đã buông lửng câu cuối: “…Trong một chuyến du khảo tại miền Nam Việt Nam, ông chết bởi một quả mìn trong những trường hợp hiện nay vẫn còn bí ẩn…”.

Nhà báo - nhà sử học qua đời ở tuổi 40, đủ thời gian lưu lại cho đời 7 tác phẩm được giới sử học đánh giá cuốn nào cũng sáng giá, sắc sảo hơn cả là Con Đường Không Vui. Theo các nhà nghiên cứu, các sách của Bernard Fall không đơn thuần khảo luận về quân sự, tường thuật các cuộc hành quân…, mà đều là những công trình nghiên cứu sâu về chính trị học và dân tộc học từ thực tế một cuộc chiến tranh.

Sau khi chồng từ trần, bà quả phụ Dorothy làm tiếp những công việc dở dang ông để lại, khẩn trương chuẩn bị để sớm ra mắt bạn đọc tập Di cảo của chồng về cuộc chiến tranh Việt Nam có tên Last Reflections on a War (Những suy nghĩ cuối cùng về một cuộc chiến tranh). Tập di cảo có in bài The Last Tape, gỡ từ chiếc băng âm thanh cuối cùng nhà báo Bernard Fall đã dùng để ghi âm cuộc tường thuật trực tiếp tại chỗ dành cho Hãng CBS (Mỹ) chiều 21-2-1967 dọc theo tỉnh lộ 68 ở vùng ven biển huyện Hải Lăng, một Con Đường Không Vui nữa song hành với Con Đường Không Vui nơi quốc lộ 1 chạy qua huyện này. Băng thu thanh được Hải quân Mỹ gửi trả gia đình Giáo sư Bernard Fall cùng với chiếc ba lô ông mang trên vai trong suốt quá trình tham gia cuộc hành quân cùng Lính thủy đánh bộ.

Trong tập sách, còn có một bài nữa gỡ từ một băng âm thanh khác. Ấy là cuộc trao đổi giữa Giáo sư Bernard Fall và nhà báo Dick Hubert, người dẫn chương trình của Đài phát thanh WABC-FM, New York, phát trực tiếp lên sóng ngày 21-11-1966 - đúng ba tháng trước cái ngày định mệnh Bernard Fall giã từ cõi thế. Đầu đề chương trình phỏng vấn là Celebrity’s Choice, tên một chuyên mục vốn có của Đài WABC-FM.

Chuyên mục này định kỳ mời một celebrity (nhân vật lừng danh) đến đài, giao lưu trực tiếp với người dẫn chương trình về cuộc đời và sự nghiệp của mình cùng những nghĩ suy về thời cuộc, nhân đó giới thiệu và mời thính giả cùng nghe một bản nhạc từng để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong đời.

Ngày hôm ấy, tại Phòng thu của Đài WABC-FM, học giả Bernard Fall giới thiệu với thính giả Bản giao hưởng số 5 của Beethoven. Tại sao? Ông lý giải: Ấy là vào năm 1940, những ngày đen tối nhất của nước Pháp dưới ách chiếm đóng của Đức quốc xã. Hồi ấy, bất kỳ người Pháp nào nghe đài phát thanh BBC (nơi tướng De Gaulle trực tiếp đọc Lời kêu gọi nhân dân Pháp đứng lên kháng chiến) và bị phát hiện, ngay lập tức bị tù đày, giết chóc là không thể nào tránh khỏi. Trong hoàn cảnh đó, cậu Bernard vẫn dò tìm và bắt được làn sóng Đài BBC đúng vào lúc đài đang phát Bản giao hưởng số 5 của nhạc sĩ thiên tài người Đức...

Sắp kết thúc chương trình, ngỏ lời chia tay, Dick Hubert thiết tha đề nghị vị khách mời, sau chuyến đi Việt Nam tới, “cho dù chiến tranh bên ấy diễn biến theo hướng nào”, xin lại đến giao lưu cùng thính giả: “Trong chừng một năm trở lại, có được không, thưa Giáo sư?”. Theo những người chứng kiến, lời đề nghị thân tình của bạn làm Bernard Fall như thể bị sốc. Mặt ông thất thần. Miệng ông không thốt ra lời, chỉ nghe từ cổ họng tiếng ậm ừ như thể ông đang nghẹt thở…

* * *

Lời tường thuật từ miệng của Bernard Fall tại Băng thu âm cuối cùng cho biết, chiều hôm ấy 21-2-1967, trên Con Đường Không Vui dọc cánh đồng lúa men theo bờ biển, phóng viên phát thanh đeo tòn ten chiếc máy thu âm trước ngực, micro cài ngang tầm miệng vào quai chiếc mũ sắt đội trên đầu, tận tình tác nghiệp. Nhà báo cẩn thận từng bước đặt chân lên dấu chân người lính Mỹ đi trước, để tránh sập hầm chông hoặc dẫm phải mìn, vừa đi vừa quan sát và tường thuật trận càn “tìm diệt Chinook” đang diễn ra. Bám sát sau ông là thượng sĩ Byron G. Highland, phóng viên nhiếp ảnh của Lính thủy đánh bộ Mỹ, ông này cũng bỏ mình tại trận cùng lúc với Bernard Fall:

“Bạn nghe đài thân mến, lúc này đây, phóng viên đang nói với bạn từ Con Đường Không Vui, nơi người Pháp từng chiến đấu năm 1953. Tôi đang ở tại một ngôi làng nhỏ cùng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 9 Lính thủy đánh bộ Mỹ... (Tiếng động: - Cự ly 1.100 mét, đại liên 20, bắn!). Khẩu lệnh mà các bạn vừa nghe qua nền âm thanh ấy là tiếng hô của viên trung úy (Tiếng súng nổ xối xả từ băng thu âm). Nhiều người vừa bị bắn gục. Chỗ tôi đang đứng đây cách mục tiêu quá xa để có thể nhận ra những người vừa bị bắn hạ ấy là ai. Tối nay mới có điều kiện xác minh, biết chắc những người quân ta vừa hạ sát kia là Việt Cộng vũ trang đầy đủ hay chỉ là những người dân bình thường như bạn và như tôi... Đây, phóng viên Hãng phát thanh CBS đang nói với các bạn từ Con Đường Không Vui. Lúc này ở đây vào khoảng 4 giờ rưỡi chiều, giờ địa phương. Có tiếng súng đối phương bắn trả... Tình hình có vẻ như đang xấu đi cho quân ta - tôi muốn nói có một cái gì đó rất đáng lo ngại. Hình như ta sa vào một ổ phục...” (Tiếng động: Ầm!...).

Bài tường thuật chiến sự tại chỗ của phóng viên Bernard Fall chấm dứt đột ngột ở đây. Từ ambuscade (phục kích) mới phát được âm tiết đầu: Could be an am… Tiếng nổ chát chúa cắt ngang. Tiếp theo sau là im lặng, im lặng hoàn toàn, im lặng vĩnh viễn, chẳng có gì nữa để nghe qua làn sóng phát thanh...

Vợ ông, bà Dorothy cho biết, sau khi quyết định sẽ tham gia để nhìn thấy tận mắt cuộc hành quân Chinook của Lính thủy đánh bộ Mỹ, Bernard Fall bay luôn sang Hồng Kông ở lại chơi với vợ con một tối, ngày 20-2-1967 trở lại Việt Nam để sáng hôm sau ra mặt trận và qua đời. Tại lời “Tựa” cuốn Last Reflections on a War, bà quả phụ viết: “Đấy là chuyến đi thứ sáu của Bernard Fall đến nước Việt Nam mà anh xiết bao yêu quý... Anh qua đời tại dải đất thân thuộc của mình, nơi Con Đường Không Vui, như thể đã có hẹn hò từ trước với định mệnh”.

Còn nhà báo Don Oberdorfer buồn rầu dẫn câu nói dở của đồng nghiệp: Could be an am… làm câu kết thúc “Lời giới thiệu” tập Di cảo: “Đấy là mấy tiếng cuối cùng thốt ra từ miệng một học giả-sử gia lớn về cuộc chiến tranh Việt Nam: Giáo sư Bernard Fall”.

Con đường chiến tranh muôn thuở vẫn là Con Đường Không Vui.

 

______

(1) Mặc dù sống và làm việc nhiều năm tại Mỹ, lấy vợ người Mỹ, Bernard Fall vẫn giữ quốc tịch Pháp.

(2) Các bản dịch tiếng Pháp, tiếng Việt đều lấy nhan đề Điện Biên Phủ, một góc địa ngục.