Cù lao Ông Hổ

“Ông Hổ”, “Ông Cọp” hay “Ông Ba Mươi” là những tên gọi vừa kính trọng vừa nể sợ đối với Ông Hổ (cọp) mà đến nay vẫn còn lưu truyền trong dân gian Nam Bộ. Hiện nay, có khá nhiều đình, am, miếu... ở đồng bằng sông Cửu Long có tranh, tượng, phù điêu thờ cúng Ông Hổ. Đặc biệt là xã Mỹ Hòa Hưng còn được gọi là cù lao Ông Hổ. Vậy địa danh này có từ đâu? Và xuất phát khi nào?

Theo các cụ già kể lại, các cụ trước kia ở Tiền Giang về khai hoang và sinh sống ở cù lao Ông Hổ đến đời cụ là được bốn đời, hơn 300 năm; hiện các cụ đã có cháu, chắt. Nếu kể từ khi Nguyễn Hữu Cảnh (1650-1700) đi dẹp giặc trở về đóng quân ở cồn Cây Sao năm 1700 (tức là cù lao Ông Chưởng), đất cù lao Ông Hổ có người Việt sinh sống tính đến nay gần 300 năm, phù hợp với lời kể của các cụ.

Sơ lược về cù lao Ông Hổ

Cù lao Ông Hổ là một cù lao nhỏ, chiều dài 8km, chiều ngang nơi rộng nhất 5km, nằm chếch về hướng tây bắc thành phố Long Xuyên cách khoảng 4km. Cù lao Ông Hổ nối tiếp với cồn Bà Hòa ở thượng lưu và các cù lao Phó Ba, cồn Phó Huế ở hạ lưu, chia sông Hậu thành hai luồng nước, rộng phía tả ngạn, hẹp phía hữu ngạn. Cù lao Ông Hổ nằm song song với cù lao Ông Chưởng – cù lao lớn nhất An Giang, chia sông Cửu Long thành hai dòng sông Tiền, sông Hậu – hợp thành một miền đất nông nghiệp trù phú.

Thời trước, cù lao Ông Hổ thuộc làng Bình Đức - tổng Định Thành - huyện Tây Xuyên - phủ Tây Biên - tỉnh An Giang. Dưới thời Pháp thuộc, một phần cù lao, quê hương Chủ tịch Tôn Đức Thắng là làng An Hòa - tổng Định Thành - quận Châu Thành - tỉnh Long Xuyên. Mãi đến năm 1919, ba làng Mỹ Hội Tiểu, An Hòa và Hưng Châu nhập thành làng Mỹ Hòa Hưng, nay là xã Mỹ Hòa Hưng thuộc thành phố Long Xuyên.

Đất, nước cù lao Ông Hổ

Đất trên cù lao là đất phù sa được bồi hằng năm, có màu nâu sẫm, mịn, tơi xốp, bước đi nghe mát rượi dưới chân. “Tháng bảy nước nhảy khỏi bờ”, dòng nước Sông Hậu tràn vào, đưa đến cho đồng ruộng những hạt phù sa mới. Nước ngập kéo dài sáu tháng kéo theo từng đàn tôm, cá, rùa, rắn, lươn…Nông dân sau khi sạ cấy đã xong lại bắt tay ngay vào việc chuẩn bị câu, lưới, lờ lợp, trúm…đánh bắt cá tôm.”bao phen quạ nói với diều/Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm”-câu ca dao phản ánh sự trù phú của vùng rộng lớn ven sông Tiền, sông Hậu, chạy dài từ Bình Di, Bá Nam trở xuống. Cù lao Ông Hổ nằm song song với cù lao Ông Chưởng cùng trong vùng đó. Nhà nào cũng có một chiếc xuồng, một ít dụng cụ câu, đánh bắt cá. Ít nhất cũng đủ cá tôm ăn ngày hai bữa. Cuối mùa nước (khoảng tháng 10,11), tôm cá trên đồng lại gom về sông rạch.Mùa đánh bắt cho thu hoạch cao hơn. Tôm cá đầy ắp ở các chợ…

Dân cù lao bắt đầu khai khẩn đất từ trong ra ngoài. Họ đi lần theo các con rạch tự nhiên, dừng lại trên bờ rạch, cất chòi để ở, dần dần đắp nền, phát hoang cấy lúa, trồng khoai, tỉa bắp, tỉa đậu… Mỗi người khoét một lõm, lâu ngày đất nọ giáp ranh đất kia. Con người liên kết với nhau chống thú rừng, chim, chuột phá hoại mùa màng. Khi nước giựt, lúa trổ, người ta phải cất chòi xua đuổi từng đàn chim manh manh, dòng dọc(1) hàng vạn con. Mùa đậu, bắp phải canh giữ ngày đêm, chống đàn khỉ hàng ngàn con quấy phá. Nước càng cạn thì muỗi kéo từng đàn, dưới nước vô số đỉa chực xông ra hút máu người. Thiên nhiên trù phú nhưng kèm theo những thử thách khắc nghiệt khiến con người phóng khoáng, rộng bụng nhưng phải chịu thương chịu khó, táo bạo và dũng cảm. Những người đến khai hoang vùng đất mới lẽ tự nhiên phải liên kết với nhau, giúp đỡ nhau, đồng lòng với nhau, ăn ở có nghĩa tình.

pic

Cổng chào Cù lao Ông Hổ

Cuộc sống sông nước của người dân

Con sông Hậu ngày ngày chảy nước qua cửa về mùa khô, dòng sông chảy từ từ phẳng lặng, nước ròng chảy xuống, nước lớn chảy ngược lên. Vào lúc nước rong(2) buổi sáng nước đầy ắp sông, dòng nước trong xanh, tắm sông vào những buổi đó thật là thú vị! Trẻ con đi bắt cá, nô đùa trên cồn cát trải dài ở đuôi cồn. Con người từng trải nắng mưa, sóng gió, có màu da sậm, thân hình chắc nịch, cơ bắp săn cuộn lên, còn trẻ con thì lớn nhanh như thổi. Về mùa nước, dòng nước sông Hậu quay lại một chiều đổ ra biển. Dòng nước trở nên hung hãn vì những cuộn xoáy ngầm, đục ngầu phù sa. Trẻ con bị cấm không được ra sông nữa. Nước từ từ tràn ngập cả cù lao. Mọi hoạt động thu gọn lại trên nếp nhà sàn và những chiếc xuồng nhỏ. Mùa mưa cũng bắt đầu từ sáng nắng chiều mưa cho đến tháng 8, 9 thì có khi cả chục ngày mưa rào rào rồi rỉ rả suốt ngày đêm. Ngồi trên nhà sàn thả câu cũng đủ cá ăn. Những con cá đầu mùa còn non, xương mềm, kho lên ăn luôn cả xương. Hàng xóm láng giềng, hôm nhà này đúc bánh xèo, ngày mai nhà khác làm bánh tằm tôm, bữa kia nhà nọ đổ bánh khọt… Người ta rủ nhau đến ăn, uống ít ly rượu đế, bàn luận chuyện mùa màng, chuyện thời cuộc…, tình làng nghĩa xóm thật là đầm ấm!

Truyền thuyết về cù lao Ông Hổ

Thời trước, xung quanh cù lao là bãi bùn, có nơi cồn cát nổi lên. Cây bần mọc lên từng chòm dựa theo mé nước. Cây bần là một loại cây chịu nước. Một cây bần mọc lên, xung quanh đâm tua tủa những rễ khí sinh to bằng cổ tay, cao năm ba tấc, nhọn như mũi dùi. Những cây bần đi tiên phong trong việc củng cố đất, làm cho cù lao này càng bồi tụ dài, rộng thêm, mỗi năm một ít. Trên cù lao, cây gáo, cây tràm mọc lên thành từng chòm, đều là những cây chịu nước. Xen lẫn trong các chòm tràm, gáo là bạt ngàn lau sậy, đế và các loại cây lao chằng chịt như choại, giác, bìm bìm, hắc sửu… Thời trước, rừng rậm, đất hoang, người thưa nên chim muông, thú rừng, cá đồng, cá sông, ong mật… còn nhiều vô kể. Ai có sức săn, đánh, bắt thì đều có ăn có để.

Tên cù lao được một truyền thuyết kể rằng: Có vợ chồng một người nông dân cất nhà ở dựa mé rạch. Mùa nước nổi, nước sông Hậu ngập đất cù lao, vợ chồng chống xuồng lên đồng lấy củi trở về, thấy trên dề lục bình trôi có một con vật giống như con mèo mướp. Nó bị ướt, run cầm cập. Hai ông bà bắt lên xem thì ra đó là một con cọp con lạc mẹ, đang vừa đói vừa rét. Ông bà lau khô, ủ ấm rồi lấy cơm nguội cho ăn. Hai ông bà mang cọp về nuôi để giữ nhà. Cọp mỗi ngày một lớn, quen ở với người nên hiền lành. Vài năm sau, ông bà sinh được một cô con gái. Cô gái lớn lên gọi cọp là anh hai. Khi cô con gái đi lấy chồng, ông bà chỉ có cọp làm bạn. Khi ông bà mất, cọp cũng bỏ vào rừng kiếm ăn. Hằng năm cứ đến lễ giỗ, cọp tha về một con heo rừng rồi quy phục trước mộ, sau đó bỏ đi, không quấy phá ai hết. Từ đó dân làng mến con cọp có tình có nghĩa với người nên đặt tên cù lao là “cù lao Ông Hổ”.

Nếu truyền thuyết “bọc trứng Âu Cơ” giải thích về nguồn gốc con Rồng, cháu Tiên của nhân dân ta; nếu chuyện “Sơn Tinh – Thủy Tinh” phản ánh cuộc đấu tranh với thiên nhiên, nếu chuyện “Thánh Gióng” nói lên sức mạnh chống xâm lược của dân tộc ta thì huyền thoại cù lao Ông Hổ nói lên phần nào khí chất trong cốt truyện người và cọp sống chung với nhau nhưng sự đối xử với nhau rất mực thủy chung, tình nghĩa trọn vẹn!

 

--------------------

(1) Chim manh manh, dòng dọc: Một giống chim nhỏ, giống như chim sẻ, sống từng đàn hàng vạn con. Mùa lúa sớm (khoảng tháng 8 dương lịch) thường bị những đàn chim này phá hại.

(2) Nước rong, nước kém: Tiếng địa phương chỉ triều nhước hay triều cường. Mỗi tháng 2 lần nước rong vào những ngày rằm và 30 âm lịch, hai lần nước kém vào ngày 10 và 20 âm lịch.

 Tài liệu tham khảo:

- Bác Tôn (1888-1980) - cuộc đời và sự nghiệp, NXB Sự Thật, 1988

- Bản tin xuân 2010, Ban Tuyên giáo Đảng ủy xã Mỹ Hòa Hưng