Chữ “Kiều” và chữ “thừa” không hề mắc bệnh “hạc tất”

Trong Hồn Việt số 31 ra tháng 01/2010, trên mục Trao đổi, ông Nhạn Đà có bài viết Trở lại bài thơ chê Kiều. Trong bài ấy, ông có nói đến hai chữ “Thúy Kiều” mà tôi đã sửa trong câu: “Tài sắc Thúy Kiều nghĩ cũng thừa” ở bài thơ Chê Kiều.

Ông Bát Sách thì nói chữ “Thúy” làm cho câu thơ khi đọc lên nghe “nó thế nào ấy” (1) còn ông Nhạn Đà thì nói: “không phải chữ Thúy mà chính là chữ Kiều. Ông cho đó là “trường hợp câu thơ bị bệnh “hạc tất” (bệnh nặng nhất trong tám bệnh của thơ thất ngôn bát cú Đường luật). Bệnh nằm ở chữ thứ 4 và chữ thứ 7 cùng thanh độ. Ở đây, hai chữ (thứ tư và thứ bảy) đều là hạ bình thanh (cũng gọi là trường bình thanh), tức là hai chữ đó đều là thanh bình (bằng) có dấu huyền ( \ ). Chữ “Kiều” (chữ thứ tư) và chữ “thừa” (chữ thứ bảy) đều có dấu huyền, rõ ràng là mắc bệnh hạc tất”.


Ảnh minh họa.

Đối với mấy nhận xét trên của ông Nhạn Đà, chúng tôi xin được trao đổi như sau:

Ông Nhạn Đà đã căn cứ vào thuyết bát bệnh của Thẩm Ước (441-513) là: bình đầu, thượng vĩ, phong yêu, hạc tất, đại vận, tiểu vận, bằng nữu chính nữu. Trong phạm vi của bài trao đổi này, chúng tôi chỉ nói về bệnh hạc tất thôi.

Như trong thơ thất ngôn Đường luật, nếu theo Thẩm Ước, thì phải xét cái địa vị khinh - trọng của mỗi chữ trong câu như chữ thứ 2 và thứ 6 (vì nó là hai cái đòn cân về thanh độ đặt hai bên chữ thứ 4 là chữ gối hạc: chữ gối hạc nếu bổng thì nó trầm, nếu trầm thì nó bổng).

Nếu như ông Nhạn Đà nói là bệnh hạc tất nằm ở chữ thứ 4 và thứ 7 thì sai, và nếu ông cho đó là bệnh nặng nhất trong tám bệnh của thơ thất ngôn bát cú Đường luật thì cũng không đúng, vì làm thơ Đường luật chỉ cần theo đúng niêm luật thôi, còn thanh độ chỉ làm cho câu thơ có thêm nhạc điệu chứ không nhất thiết phải tuân thủ.

Hơn nữa, tám bệnh ấy chỉ là do Thẩm Ước đặt ra từ các đời Tề - Lương (479-557) chứ không phải trong đời Đường (618-907) nên chỉ có giá trị tương đối trong việc cải tiến cho thơ cổ thể mà thôi. Thi sĩ có tài đời Đường họ hiểu lẽ đó, nên đã phá bỏ những gò bó ấy để viết theo hứng như bài Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu, Cửu nhật đăng cao của Đỗ Phủ, Anh Vũ châu của Lý Bạch…

Chính Lý Bạch đã nói rằng: “Từ đời Lương đến đời Trần, thơ chuộng thói diễm bạc đã quá mức. Đến Thẩm Ước lại bày ra thanh luật nữa. Bây giờ để trở lại lối xưa ngoài ta ra còn ai?”. Cho nên, ông không tự trói buộc ở “trò hề thanh điệu” như ông từng nói.

Những thi sĩ ít tài, không hiểu lẽ đó, cứ bo bo giữ đúng phép của Thẩm Ước làm cho thơ mất hẳn sinh khí. Đến đời Thịnh Đường thì đã có sự phản ứng mạnh mẽ. Hàn Sơn, một Hòa thượng thi sĩ đã chê các đồ đệ của Thẩm Ước là những kẻ đui:

Hữu cá Vương tú tài, / Tiếu ngã thi đa thất. / Vân bất thức phong yêu (2), / Nhưng bất hội hạc tất (3). / Bình trắc bất giải áp, / Phàm ngôn thủ thứ xuất. / Ngã tiếu nhĩ tác thi, / Như manh đồ vịnh nhật.

(Có chàng Vương tú tài, chê thơ ta nhiều lỗi: Phong yêu đã chẳng biết. Hạc tất lại không hay. Bằng trắc không theo đúng. Trọng ý chẳng trọng lời. Ta cười chú làm thơ, như đui vịnh mặt trời).

Gần đây, Lương Xuân Phương trong Cựu thi lược luận do Chính Trung thư cục ấn hành ở Đài Bắc năm 1959, đã viết rằng: “Cái qui tắc bát bệnh trên trói buộc người ta quá, cho đến chính những sáng tác của họ Thẩm cũng không tránh hết những bệnh ấy… Những nhà nghiên cứu về sau công kích cái qui tắc ấy, tìm ra trong tác phẩm trứ danh của vô số đại gia những điều phạm vào bát bệnh của Thẩm Ước”.

Cho nên, chúng tôi nhận thấy ở câu “Tài sắc Thúy Kiều nghĩ cũng thừa, hai chữ thứ 4 và thứ 7 chỉ thuộc về thanh độ thôi chứ không có mắc bệnh gì cả. Chúng tôi chỉ xin dẫn mấy thí dụ sau đây, trích trong các bài thơ của các đại thi hào Trung Quốc và Việt Nam.

Bài Vịnh Vũ Hầu từ (詠 武 侯 祠) của Đỗ Phủ (杜 甫):

Thừa tướng từ đường hà xứ tầm,
Cẩm Quan thành ngoại bách sâm sâm…

(Đền thờ quan thừa tướng tìm ở chốn nào, ngoài thành Cẩm Quan chỗ những cây bách um tùm).

Bài Thương Ngô tức sự (蒼 梧 即 事) của Nguyễn Du (阮 攸):

Ngu Đế nam tuần cánh bất hoàn,
Nhị phi sái lệ trúc thành ban…

(Vua Ngu Thuấn đi tuần ở phương Nam, không trở về nữa. Hai bà phi khóc, nước mắt rơi vào khóm trúc thành những vết lốm đốm).

Hay bài thơ Cối say của LÊ THÁNH TÔNG:

Thóc lúa kho trời vẫn sẵn đầy,
Tạo thành cái cối để mà say…

Bài thơ Vịnh mùa đông của Nguyễn Công Trứ:

Nghĩ lại thì trời vốn cũng sòng,
Chẳng vì rét mướt bỏ mùa đông…

Như vậy, chữ “Kiều”, chữ thứ tư trong câu Tài sắc Thúy Kiều nghĩ cũng thừa” đâu có gì sai phạm về luật thơ Đường thất ngôn bát cú theo các thí dụ kể trên. Hơn nữa, người ta còn đưa ra những câu thơ phá vỡ hẳn những qui định chính yếu về thanh luật cho rằng, thơ hay có thể bất chấp những ràng buộc nói trên như 2 câu thơ trong bài thơ Đề Đông Khê công u cư (題 東 溪 公 幽 居) của Lý Bạch:

Đông Khê bốc trúc tuế thì yêm…
Đỗ Lăng hiền nhân thanh thả liêm,

(Đề chỗ nhà ở ẩn của ông Đông Khê: Người hiền ở Đỗ Lăng vừa trong sạch vừa liêm, chọn được nơi dựng nhà ở Đông Khê, ẩn dật quanh năm…).

Hoặc câu mở đầu bài Qua đèo Ba Dội của Hồ Xuân Hương mà chữ thứ hai cũng không theo cả luật bằng trắc nữa:

Một đèo, một đèo lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo…

Cho nên, trong quyển Cựu thi lược luận, soạn giả Lương Xuân Phương đã cho rằng: “Nếu cứ so đo quá kỹ ở thanh luật thì trên thực tế chưa hẳn đã là nắm được tiêu chuẩn để đoán định cái hay của thơ”.

Vậy chúng tôi xin vắn tắt trao đổi lại mấy điều như trên với ông Nhạn Đà.


(1)

Ông Bát Sách đã sửa câu thơ ấy là: “Tài sắc Kiều kia nghĩ cũng thừa” nhưng ông Nhạn Đà lại cho rằng “chữ kia cũng được nhưng còn nhẹ nhàng lắm”. (Chúng tôi lại thấy nó cũng nặng, không khác gì chữ kia trong câu “Thằng bán tơ kia giơ dói ra”).

 Ông Nhạn Đà đã sửa lại là: “Tài sắc Kiều nhi nghĩ cũng thừa” và đã giảng “chữ nhi nghĩa là con (ca nhi: con hát) để tỏ ý khinh Kiều là xướng ca vô loại”. Chúng tôi nhận thấy chữ nhi trong Kiều nhi ở câu này (theo các từ điển Trung Quốc như Từ Hải Từ Nguyên) không thể hiểu là con với cái nghĩa khinh khi được.

Trong bài Vịnh Kiều, Nguyễn Khuyễn đã viết: “Kiều nhi giấc mộng bật như cười / Tỉnh dậy xuân xanh quá nửa rồi…” thì “Kiều nhi” đâu có ngụ ý gì là khinh khi đâu.

(2)

Phong yêu: áp dụng trong thơ ngũ ngôn thì chữ thứ 2 không được đồng thanh với chữ thứ 5, nếu không thì có vẻ như hai đầu câu thơ phình ra mà ở giữa thắt lại tức là cái bệnh phong yêu (lưng ong).

(3)

Hạc tất: áp dụng trong thơ ngũ ngôn thì chữ thứ 5 không được đồng thanh với chữ thứ 15 (tức là chữ cuối câu thứ 3) vì như vậy có vẻ như hai đầu nhỏ mà ở giữa to, thô như cái đầu gối hạc vậy.

Bài liên quan: