“Chớ rửa lông mày…”

Vui như Tết! Tết đến có nghĩa là mùa xuân cũng đến. Mùa xuân đầm ấm, kế tiếp mùa đông lạnh lẽo, tượng trưng cho sự hồi sinh tươi vui của vạn vật, mùa xuân cũng tượng trưng cho tuổi trẻ, cho tình yêu, “xuân tình”.

Nhớ cảnh tưng bừng ngày tết, thi sĩ Lan Sơn kể:
Muôn màu tươi sáng: phấn, hoa, hương.
Đời ngọt ngào như có vị đường.
Tôi sống, tôi say và mỗi Tết,
Lòng tơ thêm động chút yêu đương…
(Tết và người qua)
Tết vui vì ngày tết người ta chỉ thích nói và nghe chuyện vui, kiêng chuyện buồn. Bài này viết về tình yêu trong ca dao Việt Nam song viết vào dịp Tết nên cũng chỉ đề cập những mối tình tươi thắm và tránh nhắc đến tình sử éo le của những Trương Chi, Phạm Thái, Trương Quỳnh Như…
Vậy thì Tết đến, chúng ta hãy thưởng thức tận tình vị ngon ngọt của tình yêu thuở xa xưa qua những câu ca dao tình tứ, còn vị cay đắng của quế chi có thể chờ, chúng ta có tới ba mùa hạ, thu, đông để… “nhâm nhi”.
Tôi tạm chia tình yêu trong ca dao Việt Nam làm ba giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên là “giai đoạn mời trầu làm quen”, ai cũng biết ở xứ ta “miếng trầu là đầu câu chuyện”.
Nhập đề, nàng kể:

 


Hôm qua tôi đi hái dâu,
Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn.
Hai anh đứng dậy hỏi han,
Hỏi rằng cô ấy vội vàng đi đâu?
Thưa rằng tôi đi hái dâu,
Hai anh lại mở gói trầu mời ăn.
Thưa rằng bác mẹ tôi răn:
“Làm thân con gái chớ ăn trầu người”.
Tại sao?
Ăn trầu thì mở trầu ra,
Một là thuốc độc, hai là mặn vôi.
Thuốc độc đây chưa hẳn đã là thuốc để giết người mà chỉ là để “bỏ bùa mê” cho đối tượng say đắm mình. Tôi nhớ hồi nhỏ có đọc một truyện kể tục lệ kỳ quái của một làng nọ. Làng có tục hàng năm chỉ định một người con gái đi bỏ bùa mê cho trai làng khác. Phải làm sao cho chàng trai say mê mình như điếu đổ, “ốm lăn ốm lóc” vì bệnh tuơng tư, nhưng nàng phải giữ vẹn tiết trinh thì mới gọi là thành công, dân làng sẽ làm ăn thuận lợi. Cách duy nhất để chữa bệnh, giải độc cho người con trai là lấy được nàng. Song nếu nàng vì lý do nào đó đã phạm tội ăn ở với chàng trai ấy thì dân làng sẽ cử người đi giết... Có lẽ câu “Ăn trầu thì mở trầu ra” lấy ở tích này?
Trở lại câu chuyện trai gái làm quen nhau, sau khi đã cùng ăn trầu (không có bùa mê), trò chuyện đằm thắm, chàng có thể mạnh dạn tiến xa hơn. Nếu chàng là người tao nhã, sẽ văn hoa, bay bướm:
Mình về ta chẳng cho về,
Ta nắm vạt áo, ta đề bài thơ.
Bước sang giai đoạn thứ nhì là giai đoạn để chàng thuyết phục, “nịnh đầm”:
Trúc xinh trúc mọc bờ ao,
Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh.
Trúc xinh trúc mọc đầu đình,
Em xinh em đứng một mình cũng xinh!
Hay là:
Cổ tay em trắng như ngà,
Con mắt em liếc như là dao cau,
Miệng cười như thể hoa ngâu,
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.
Chàng cũng có thể kể ra từng cái mình “thương” ở nàng:
Một thương tóc bỏ đuôi gà,
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên,
Ba thương má lúm đồng tiền,
Bốn thương răng lánh hạt huyền kém thua,
Năm thương giải yếm đeo bùa,
Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng,
Bảy thương nết ở khôn ngoan,
Tám thương miệng nói lại càng thêm xinh,
Chín thương cô ở một mình,
Mười thương con mắt hữu tình với ai.
(Cái chữ “ai” của Việt Nam rất oái oăm, vừa có nghĩa là “người” mà cũng có thể là “ta”: Ai nhớ ai chăng là?/ Nào ai ai có nhớ ai?).
Tám cái “thương” đầu áp dụng vào bất cứ cô gái nào cũng được nhưng cái “thương” thứ chín và thứ mười mới thật là “chí tình”, dành riêng cho nàng. Song “con mắt hữu tình” chàng thấy chưa đủ, còn muốn nàng nói rõ ra hơn. Cũng may là hình như chàng chỉ biết đếm đến mười, nếu chàng đếm đến trăm thì biết bao giờ mới bước sang được giai đoạn ướm hỏi rành rọt:
Mình về có nhớ ta chăng?
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười…
Sau khi đã ướm hỏi và và thấy có vẻ đã “thuận buồm xuôi gió”, để nàng vững tin ở mình, chàng sôi nổi thề thốt:
Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo,
Thất bát sông cũng lội,
Tam thập lục đèo anh cũng qua.
Nàng bèn tỏ rõ lòng mình:
Qua đình ngả nón trông đình,
Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu.
Rồi than thở:
Núi cao chi lắm núi ơi,
Núi che mặt trời chẳng thấy người thương!
Ruộng xa chi lắm ruộng ơi,
Ruộng rút gần lại cho tôi gặp chàng.
Nhưng thiết tha nhất là khi:
Yêu nhau cởi nón cho nhau,
Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay
Yêu nhau cởi nhẫn cho nhau,
Về nhà dối mẹ qua cầu đánh rơi…
Đây là thời kỳ đẹp nhất của đôi lứa, thời kỳ người ta lạc quan, nhìn đời thấy cái gì cũng tươi thắm, thời kỳ mà Nguyễn Bính tuyên bố:
Đời tươi như buổi bình minh nạm vàng.
Nguyễn Nhược Pháp nói rằng hai người yêu nhau, lấy nhau là hết chuyện. Không đúng. Đã gọi là “bình minh” tất không vĩnh cửu. Xuân Diệu thực tế:
Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết?
Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt…

 

Yêu nhau rồi lấy nhau chỉ mới là thời kỳ đầu. Lấy nhau, chung sống với nhau rồi càng nhiều chuyện để nói… “Làm thân con gái” lấy chồng có hạnh phúc hay không còn tùy may rủi:
Con gái như hạt mưa sa,
Hạt vào trướng gấm, hạt sa ruộng lầy.
Nếu có kẻ bị “sa ruộng lầy”:
Nhớ khi anh bủng anh beo,
Tay cất chén thuốc, tay đèo múi chanh.
Bây giờ anh khỏi, anh lành,
Anh âu duyên mới, anh tình phụ tôi!
Thà tôi xuống giếng cho rồi!
Thì cũng có người lọt vào “trướng gấm”:
Lỗ mũi em mười tám gánh lông,
Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho.
Đêm nằm thì ngáy o o,
Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà.
Đi chợ thì hay ăn quà,
Chồng yêu chồng bảo về nhà trừ cơm.
Trên đầu những rác cùng rơm,
Chồng yêu chồng bảo hoa thơm cài đầu.
Nhất định anh chồng này thờ đạo “nhất vợ nhì Trời”!
Đến đây xin mở dấu ngoặc để bàn về một nghi vấn văn học có liên quan đến cặp lông mày của nàng.
Có tới hai bài ca dao nhắc đến mấy câu này:
Có rửa thì rửa chân tay,
Chớ rửa lông mày chết cá ao anh!
Tuy cùng là để cầu hôn nhưng trừ hai câu trên thì hai bản khác hẳn nhau. Bản nào ra đời trước?
Bản A:
Cái kiến mày kiện củ khoai,
Mày chê tao khó lấy ai cho giàu?
Nhà tao chín đụn, mười trâu,
Lại thêm ao cá bắc cầu rửa chân.
Cầu này cầu ái cầu ân,
Một trăm con gái rửa chân cầu này.
Có rửa thì rửa chân tay,
Chớ rửa lông mày chết cá ao anh!
Nhà anh có một cây chanh,
Nó chửa ra cành nó đã ra hoa.
Nhà anh có một mẹ già
Thổi cơm chẳng chín, quét nhà chẳng nên…
Bản B:
Trên trời có đám mây xanh,
Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng.
Ước gì anh lấy được nàng,
Thì anh mua gạch Bát Tràng về xây.
Xây dọc anh lại xây ngang,
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.
Có rửa thì rửa chân tay,
Chớ rửa lông mày chết cá ao anh!
Nhà anh có một cây chanh…
(Đoạn nói về mẹ già thì hai bản giống nhau. Tôi thấy không ăn nhập mấy với phần trên nên nghi có thể người đời sau gán ghép vào và vì thế xin miễn bàn).
Theo tôi thì có lẽ bản A ra đời trước vì dựa vào đoạn gồm có hai câu chính yếu nói về “lông mày”, ta thấy “ao cá” được nhắc tới hai lần, khác bản B trên thì bảo xây “hồ bán nguyệt” mà dưới lại nói đến “ao cá”, không ổn.
Tuy nhiên, bản A dẫu hợp lý về cái ao nhưng lại không hợp tình. Không ai đi cầu hôn mà mở đầu đã phê phán nàng không có óc suy xét, dám chê chàng nghèo trong khi chàng có tới “chín đụn, mười trâu, lại thêm ao cá…”. Ao lại có bắc cả cầu rửa chân mà là “cầu ái cầu ân” không phải cầu tầm thường, có cả trăm cô gái đến rửa chân ở đấy. Cái lầm của chàng là khoe quá trớn, nói hơi nhiều: Ao là ao nhà chàng, cầu bắc trên ao cũng của chàng, làm sao có cả trăm cô gái ở đâu tự do đến rửa chân được nếu không có sự thỏa thuận của chủ nhân? Khả nghi! Không ổn là ở đấy. Ai biết đâu chỗ ma ăn cỗ?
Trong bản B, điều không hợp lý là hứa xây “hồ bán nguyệt” cho nàng rửa chân, nhưng sau đó lại bảo “Chớ rửa lông mày chết cá ao anh” , ao hay hồ? Có lẽ tác giả đọc bản A thích hai câu thơ nói về “lông mày” nhưng nhận thấy tình lý toàn bài không ổn, chàng trai quá vụng về, bèn sáng tác một bài khác, giữ lại hai câu thơ hay, nhưng khi chép lại thì không nhớ rõ, hồ ao lẫn lộn, thành ra “tam sao thất bản”.
Song đấy chỉ là lỗi nhỏ, có thể châm chước. Về mặt tình lý thì bản B ăn đứt bản A. Mở đầu chàng đã ngỏ ý một cách khiêm nhường: “Ước gì anh lấy được nàng”… Rồi hứa xây hồ bán nguyệt cho riêng một mình nàng rửa chân, không phải cho cả trăm người. Cũng xin nhớ không phải xây gạch thường mà là gạch Bát Tràng, thứ gạch nổi tiếng hạng nhất (chàng cũng khoe giàu nhưng tế nhị hơn). Tóm lại, chắc lời thỉnh cầu của chàng có nhiều hy vọng được chấp thuận hơn.
Kết luận, cầu hôn cũng năm bảy đường, phải khôn khéo chứ không phải hễ “cầu” là được.
Chẳng hạn chớ nên bắt chước thi sĩ Đinh Hùng dại dột đặt câu hỏi:
Tôi khổ rồi, em có thấy yêu không?
Câu trả lời thuận miệng nhất, không suy nghĩ, là: “Không!”.
Phải biết phép dàn quân bố trận để nắm chắc phần thắng. Hãy bắt chước cổ nhân, đi tát nước cũng có thể thành công:
Hôm qua tát nước đầu đình,
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen.
Em được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà.
Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ con chưa có, mẹ già chưa khâu.
Áo anh sứt chỉ đường bâu,
Ước gì cô ấy lại khâu cho cùng.
Khâu rồi anh sẽ trả công,
Có muốn lấy chồng anh sẽ giúp cho.
Giúp cho một thúng xôi vò,
Dăm con lợn béo, một vò rượu tăm.
Giúp cho đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi trầm em đeo.
Giúp cho quan tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.
Nghĩa là phải biết nói xa nói gần, nói bóng nói gió, nói đến con kiến trong lỗ cũng phải bò ra (nhưng đừng để nó bò ra một lúc rồi lại bò vào!). Từ chuyện đi tát nước mà con cà con kê, loanh quanh một hồi dẫn dần đến chuyện cưới hỏi… Tài thực là tài!

Châtenay-Malabry, tháng 11-2013

______
* Tiến sĩ, nhà nghiên cứu cổ học Việt Nam, tác giả Lối xưa xe ngựa (2 tập), Thi Hương, thi Hội, thi Đình… (H.V.).