Chín hướng tiếp cận Nguyễn Du: Nhìn lại và đi tiếp

Nhân kỷ niệm lần thứ 245 năm sinh Nguyễn Du (1765-1820), tôi xin nêu lên những hướng tiếp cận Nguyễn Du, hay nói một cách khác, những cách đọc Nguyễn Du để chúng ta cùng nhìn lại và đi tới.

1. Hướng thứ nhất vẫn là hướng tiếp tục đi sâu hơn nữa về chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du, một hướng đã được nêu lên ngay từ đầu thế kỷ 19 với câu bình nổi tiếng của Mộng Liên Đường: “Con mắt sáu cõi, tấm lòng nghìn đời”, hay lời của chính Nguyễn Du về nỗi đau của mình trước những điều trông thấy: “Trước khi chết còn lo chuyện ngàn năm”, (“Thiên tuế trường ưu vị tử tiền”).

Chủ nghĩa nhân đạo, lòng nhân ái, nỗi đau lo nghìn đời... chính là bản chất của văn học. Ta đã nói nhiều về điều này ở Truyện Kiều. Nhưng cần tiếp tục với những phạm trù nghiên cứu mới. Chẳng hạn, chất Phục hưng, chủ nghĩa nhân đạo Phục hưng trong Nguyễn Du.

Khái niệm Phục hưng là một khái niệm đặc thù của văn hoá phương Tây. Nhưng với viện sĩ N.I.Kônrat nó đã trở thành một khái niệm phương Đông và với quan điểm của ông, nó có từ thời Đường, dù điều này gây nên tranh cãi quyết liệt.

Trung Quốc thế kỷ VIII-IX và Việt Nam thế kỷ XVIII-XIX có những tiền đề, đúng hơn, những nhân tố nào của văn học Phục hưng không? Làm sao trong văn học hậu kỳ trung cổ, văn học Việt Nam đã có thể bước một chân sang Phục hưng với Truyện Kiều? Sự so sánh văn học sẽ giúp chúng ta tìm ra những sự tương đồng và dị biệt giữa Đông và Tây, những bước trùng nhau và những bước chênh nhau, nhưng nhân loại là một, dù trước hay sau, do những hoàn cảnh lịch sử, các dân tộc sẽ lần lượt đạt tới những đỉnh cao văn hoá kỳ vĩ bằng những thiên tài như Cervantes, Shakespeare... ở phương Tây và Đỗ Phủ, Nguyễn Du ở phương Đông.

Làm được điều này một cách tỉ mỉ, thuyết phục về lý thuyết và về tài liệu, chúng ta sẽ nâng tầm Nguyễn Du lên tầm thiên tài mẹ (génie-mère) của nhân loại. Liên quan đến chủ nghĩa nhân đạo là vấn đề chủ nghĩa hiện thực.

Chủ nghĩa hiện thực là con đường lớn của văn học nhân loại. Nhưng đối với Nguyễn Du, nếu lấy chủ nghĩa hiện thực cổ điển của phương Tây để xem xét ông thì “thiệt” cho ông. Lý giải vấn đề này một cách thuyết phục cũng không đơn giản.

2. Văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp của văn học Trung Hoa. Trung Hoa là nền văn học già và Việt Nam là một nền văn học trẻ hơn. Văn học Việt Nam đã tiếp nhận và “bứng trồng” hầu như toàn bộ thể loại của nền văn học Trung Hoa. Và không chỉ là thể loại mà còn là chủ đề, tư tưởng, tình cảm nữa.

Nguyễn Du là một trường hợp điển hình của sự tiếp nhận và tiếp biến văn hoá đó. Chúng ta đã nghiên cứu vấn đề này, nhưng còn chưa thật cụ thể và chưa đủ sâu.

Thơ Đường đã tan ra trong Truyện Kiều, bàng bạc trong từng hình ảnh, ý tưởng, câu chữ, điển cố... Nhưng cái lớn của thơ Đường, một nền thơ hàng đầu nhân loại, đã thấm vào Nguyễn Du và thoát ra trong câu thơ lục bát dân tộc như thế nào vẫn còn chờ một sự so sánh giữa hai nền thơ với tất cả những chủ đề, thi pháp, thủ pháp... của nó một cách hết sức cụ thể và ở tầm cao lý thuyết.

Đặc biệt là chủ đề Nguyễn DuĐỗ Phủ. Nguyễn Du đã xem Đỗ Phủ là thầy, “bậc thầy nghìn đời của thơ” và nói mình “đêm đêm hồn mộng đi vào thơ Đỗ Phủ” ("Thiên cổ văn chương thiên cổ sư – Mộng hồn dạ nhập Thiếu Lăng thi”). Nhưng cụ thể thì Nguyễn Du đã tiếp nhận những gì của Đỗ Phủ, tiếp nhận và biến cải những gì trong tư tưởng và trong nghệ thuật.

Rất cần hiểu đúng, hiểu sâu, đọc mới Đỗ Phủ để hiểu Nguyễn Du. Nhưng dù tự nhận là học trò, Nguyễn Du là một học trò làm vinh danh thầy, cụ thể là Nguyễn Du đã viết nên trường ca tự sự Truyện Kiều dài đến 3254 câu lục bát Việt Nam, một tiểu thuyết bằng thơ - một tác phẩm phải đạt tới song trùng nghệ thuật: vừa thơ vừa truyện. Đó là thể loại trường ca tự sự không có trong văn học Trung Hoa, không có ở Đỗ Phủ (vì nhiều lý do lịch sử) mà là một thể loại Đông Nam Á (các dân tộc Tày, Thái, Khmer, đặc biệt các “khan” Tây Nguyên).

Vấn đề không phải là sự hơn kém giữa các thể loại. Vấn đề là thiên tài của thể loại đã được khai thác như thế nào để trở thành thiên tài nghệ thuật. Nói như thi hào Nga Pushkin thì “Tôi không chỉ viết một cuốn tiểu thuyết mà là viết một cuốn tiểu thuyết bằng thơ và đó là một sự khác biệt kinh khủng”.

Như vậy, việc tìm hiểu thế giới nghệ thuật của Đỗ Phủ và Nguyễn Du để tìm ra những tương đồng và dị biệt – cũng như Trần Thị Phương Phương, một nhà nghiên cứu trẻ ở TP.HCM đã so sánh Kiều với Evgenhi Ônhêghin của Pushkin - mở ra những chất lượng mới của nghiên cứu Truyền Kiều.

Có thể nói rằng ở đây, nghiên cứu so sánh giữa các nền văn học, đặc biệt giữa các nền văn học Viễn Đông, phương Đông... qua Truyện Kiều là một hướng nghiên cứu còn nhiều tiềm năng và triển vọng.


Tượng Đại thi hào Nguyễn Du.

3. Dính líu đến nghiên cứu so sánh với văn học Trung Hoa và Đỗ Phủ, một vấn đề trực tiếp hơn được đặt ra: Vấn đề Truyện KiềuKim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân. Đối với Việt Nam chúng ta, vấn đề dường như đã được giải quyết. Nhưng đó là cách nghĩ của chúng ta.

Gần đây, một vài nhà nghiên cứu Trung Quốc, Đài Loan lại đặt lại vấn đề này. Vấn đề là ở Trung Hoa, họ không đọc Truyện Kiều trong tiếng Việt mà qua một bản dịch của một học giả không phản ánh đúng nguyên tác từ câu chữ đến cảm hứng, thế rồi nhà nghiên cứu đó cho rằng Truyện Kiều từ triết lý đến nghệ thuật thua xa Kim Vân Kiều truyện.

Bà Phạm Tú Châu đã trả lời trên Báo Văn Nghệ. Từ đó mới thấy rằng vấn đề này, vấn đề “tranh chấp tác quyền” này phải được làm lại từ đầu với những phân tích hệ thống về “tập tục mượn cốt truyện” trong văn học cổ từ Tây sang Đông, về việc Nguyễn Du đã thay đổi cảm hứng chủ đạo, tư tưởng chủ đề và chất lượng nghệ thuật cũng như chiều sâu của chủ nghĩa nhân đạo khi sáng tạo lại Truyện Kiều.

Kim Vân Kiều truyện, theo nghiên cứu của nhà nghiên cứu Đài Loan Trần ích Nguyên (trong Nghiên cứu câu chuyện Vương Thuý Kiều) có cả một bề dày ảnh hưởng trong các thể loại sân khấu văn học Trung Quốc và lan sang Nhật, Triều Tiên... Nhưng dù sao nó không được chính quê hương của nó cho là kiệt tác.

Chuyển sang một thể loại khác, thơ và truyện của Việt Nam, nó bỗng nổi tiếng toàn cầu. Vấn đề tưởng chừng đơn giản, nhưng làm ở tầm cao, và sự thuyết phục “tâm phục, khẩu phục” đối với người nước khác, cũng là một hướng nghiên cứu không dễ. Không có Kim Vân Kiều truyện thì không có Truyện Kiều, nhưng Truyện Kiều không phải là phóng tác, phiên dịch, thậm chí “diễn âm” như các cụ xưa gọi, mà là một sáng tạo mới, sâu và lớn trên một tích truyện cũ; đó là vấn đề nên được làm ở một chất lượng mới.

4. Hiện nay thi pháp học (poétique) đang là “mode”. Không có gì chán ngán hơn cho văn học là sự chỉ nhìn thấy những câu chữ lạnh lùng, những kết nối toán học, những cách tạo câu tạo chữ...

Chính Todorov một trong những đại diện lớn của trường phái thi học cấu trúc đã thừa nhận sự giới hạn của lý thuyết này khi đi vào phân tích tác phẩm và đó là điều mà Jakovson cũng đã vấp phải và thất bại khi phân tích thơ Baudelaire, Shakespeare, Pasternak,... Nhưng nếu không có thi pháp học, chỉ có nghiên cứu nội dung chung chung, dễ đi vào lối mòn. Sự tìm ra những điểm kết nối giữa nội dung, hình thức, tìm ra cách thức kể một câu chuyện, điểm nhìn và sự di chuyển điểm nhìn, những khả năng tạo nghĩa của chữ, câu thơ và những phần tử nhỏ nhất của nó là hình vị (morphème), cái đẹp của ngữ pháp, cái đẹp của cú pháp câu thơ Kiều... sẽ còn hứa hẹn nhiều tìm tòi nữa.

GS Trần Đình Sử, một trong những người có công đưa vào và thiết lập bộ môn Thi pháp học ở Việt Nam, đã có công trình Thi pháp Truyện Kiều với rất nhiều tìm tòi mới. Tuy nhiên, thi pháp Truyện Kiều vẫn còn là một thách thức và mời gọi cho nhiều công trình khác nữa.

5. Hiện nay hướng nghiên cứu văn bản học đang được thảo luận sôi nổi. Văn bản học là cơ sở của nghiên cứu văn học. Nếu không có sự nghiên cứu văn bản để đưa lại một văn bản chính xác thì việc phân tích sau đó sẽ thiếu thuyết phục. Văn bản học Truyện Kiều lại khó vì nó đụng đến chữ Nôm - tiếng Việt cổ, ngữ âm từ vựng tiếng Việt cổ, từ địa phương và nhiều phương diện khác.

Gần đây chúng ta đã tiếp tục tìm lại hầu như tất cả các văn bản Kiều Nôm cổ (và tất nhiên vẫn còn khả năng phát hiện một số bản nữa, trừ việc tìm ra chính bản thủ bút của Nguyễn Du (!) hoặc một bản tương tự). Các công trình nghiên cứu văn bản đã đưa đến nhiều cơ hội để nhận diện lại bộ mặt thật của Kiều trên từng chữ, từng câu, đặt lại một số trường hợp đọc Nôm, viết Nôm trong Kiều...

Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn làm hẳn một công trình phân tích và thống kê, lý giải từng từ trong chín bản Kiều Nôm tiêu biểu của thế kỷ 19, từ đó đề nghị một cách đọc, cách chọn từ giữa các bản cổ nhất đó. Kết quả là đã có gần 2000 trường hợp chênh nhau được đem ra đối xứng, xem xét và đề nghị một bản Kiều mới. Đó là cơ sở để giới văn bản học Truyện Kiều thảo luận.

Từ lâu, từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, vấn đề này đã được các nhà phiên âm, chú giải Truyện Kiều như Trương Vĩnh Ký, Kiều Oánh Mậu,... và sau đó hàng loạt các nhà nghiên cứu nữa tiếp tục nhưng đây là lần “tổng duyệt”.

Điều đáng mừng là văn bản Kiều hiện hành đã đáp ứng được sự thưởng thức của công chúng và sự nghiên cứu của các nhà nghiên cứu văn học. Dĩ nhiên phải đi sâu vào từng từ, một cách khoa học và thận trọng, với một sự nghiên cứu xuyên ngành, liên ngành và toàn diện hệ thống.

Ở đây, không có dịp để đi sâu vào việc này, tôi xin nêu một trường hợp mà lâu nay đã thảo luận: “Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao” hay “mày râu nhẵn trụi...”? Thì rõ ràng là phải phiên âm, phải đọc là “mày râu nhẵn nhụi...”.

Một là vì về phương diện luật đồng hoá trong đọc từ lấp láy của ngữ học, bắt buộc âm thứ hai dù viết thế nào cũng phải được đồng nhất phụ âm đầu, dù âm thứ hai viết là đụi, trụi,... gì chăng nữa. Và như thế mới cân đối, hài hoà với “bảnh bao” vế sau, một “luật đối” chặt chẽ trong câu thơ Kiều. Nhưng đó mới chỉ là âm, cần chú ý đến nghĩa.

Để miêu tả Mã Giám Sinh, Nguyễn Du phải diễn tả tính cách một tay điếm đàng, đi mua người về “rước khách kiếm lời”, vậy hắn phải giả trang, phải trang điểm lừa người: “áo quần bảnh bao”. Và có thể hắn đã cạo râu nhẵn nhụi hoặc giả hắn có một thứ tướng mạo không giống đàn ông: nhẵn nhụi cả mày râu, mà mày râu là thứ tiêu biểu cho cốt tướng, sức sống của nam tử. “Sông Tương một giai nông sờ” hay “nung sừ”, (tiếng cổ là mênh mông), “Thâm nghiêm kín cổng cao tường” hay “kín cống”, “Sầu đông càng khác càng chầy” hay “Sầu đong càng lắc càng đầy”, hoặc “càng gạt càng đầy”. Còn hàng trăm trường hợp phải chọn lựa, thảo luận.

Bên cạnh đó là vấn đề niên đại sáng tác Truyện Kiều. Tôi chỉ xin nêu vắn tắt là sự tìm tòi, thảo luận trên các tạp chí gần đây về vấn đề này rất thú vị, nhưng Đại Nam Thực Lục Chính Biên, cuốn sử chính thức của Triều Nguyễn do Quốc Sử Quán biên soạn đã ghi rất dứt khoát là Nguyễn Du “sau khi đi sứ về,có Truyện Kiều và Bắc hành tạp lục hành thế” (“hành thế” tức là “ra đời”, “lưu hành” , “công bố” ... ).

Triều Nguyễn, theo lời kể của cụ Nguyễn Đình Ngân, Giám đốc thư viện Trung bộ, đã cho người về Tiên Điền đem tất cả tài liệu của Nguyễn Du về kinh đô Huế, sau khi nhà thơ mất. Họ có nhiều tư liệu chính thức và chính xác về Nguyễn Du.

Quan trọng hơn, điều khẳng định này của Quốc Sử Quán trùng khớp với tư duy sáng tác văn học. Giữa Bắc hành tạp lụcTruyện Kiều là cùng một tình điệu, tư tưởng, cách nhìn đời bi phẫn.

Còn trước đó thì Nguyễn Du cực kỳ bi quan, nhìn đời chỉ thấy “hắc dạ” và chỉ muốn “gọt tóc vào rừng ở”. Một tâm trạng, một tư tưởng yếm thế cao độ như thế khó viết nên Truyện Kiều, đỉnh cao của tư tưởng nghệ thuật, của chủ nghĩa nhân đạo tích cực. Vì thế tìm tòi thì cứ tìm tòi, nhưng chừng nào, như người ta hay nói, có đủ “hai lần lý lẽ” thì mới gạt bỏ được thuyết của Quốc Sử Quán.

 

6. Hướng thứ sáu này tiếp tục nghiên cứu mối quan hệ giữa Văn học dân gian và Truyện Kiều. Nguyễn Du đã từng nói: “Thôn ca sơ học tang ma ngữ - Dã khốc thời văn chiến phạt thanh” (Trong tiếng ca nơi thôn dã ta học lời nói của người trồng dâu trồng gai - Trong tiếng khóc nơi đồng nội ta nghe tiếng dội của chiến tranh). Nếu không có ca dao tục ngữ, quan họ, hát phường vải, không có toàn bộ nền văn hóa dân gian, chủ yếu là thế giới quan dân gian, cảm quan dân gian, tức là cái nôi của văn hóa dân tộc, ta sẽ không có Truyện Kiều.

Từ lời ăn tiếng nói của nhân vật đến từ ngữ kể chuyện, cách nhìn người, nhìn đời, triết lý sự đời..., Nguyễn Du đều thấm đẫm chất liệu và thế giới quan dân gian, một thế giới quan nhân đạo, dân chủ, tiến bộ.

Phật giáo trong Truyện Kiều là Phật giáo dân gian, là cách quan niệm và hiểu Phật giáo theo kiểu các bà cụ nhà quê lên chùa, vừa dung dị mà chân thực, không như Thiền tông bác học mà Nguyễn Du cũng ảnh hưởng và chấp nhận, tôn kính nữa là khác. Nhưng có lẽ nó đã không vào sâu tư duy nghệ thuật của ông, ngoài ra những lời tuyên bố như là: “Ta đã đọc kinh Kim Cương hơn nghìn lượt”, “Tâm ta thường định chẳng xa Thiền”.

Vấn đề văn hóa dân gian có một tầm độ rất quan trọng trong vấn đề nhận định bản sắc dân tộc của Truyện Kiều, trong vấn đề tách biệt nó ra khỏi Kim Vân Kiều truyện chữ Hán, vì nó làm nên hồn cốt Việt Nam của Truyện Kiều...

Hướng này không phải ta đã không đi, nhưng tôi cảm thấy vẫn cần đến những sự tổng kết mới dựa trên lý thuyết, nhất là lý thuyết của M.Bakhtin trong "Sáng tác của F. Rabelais và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng".

Luận điểm về thế giới quan bình đẳng, dân chủ, về tiếng cười nhị chức năng, về cái dị hợm và thủ pháp kéo xuống ứng dụng cho Hồ Xuân Hương là hoàn toàn khớp. Nhưng trên cơ bản, M.Bakhtin đã cung cấp cho ta một phương pháp luận, một cách tiếp cận đối với mối liên hệ giữa sáng tác dân gian và kiệt tác văn học, mà Truyện Kiều cũng không là ngoại lệ.

7. Hướng thứ bảy, nghiên cứu Truyện Kiều Nguyễn Du trong trường lý thuyết tiếp nhận. Gần hai trăm năm tiếp nhận, bàn cãi về Truyện Kiều là một minh chứng cho sự tiếp nhận của công chúng. Soi mình vào Truyện Kiều trong 200 năm qua từ lý thuyết Nho, Phật, Lão... cho đến Freud, hiện sinh, mác xít; giờ đây vấn đề vẫn chưa cạn kiệt, nếu chúng ta tiếp tục điều tra xã hội học về người đọc Truyện Kiều, về những cách tiếp cận của người đọc hiện đại giữa bao nhiêu những lớp tầng văn hóa phồn tạp, giữa những ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông hiện đại.

8. Hướng thứ tám, nghiên cứu những vấn đề của thơ chữ Hán Nguyễn Du, đặc biệt là Bắc Hành tạp lục, để thấy rõ một Thái Sơn nữa trong văn học, tương đối với Truyện Kiều, thống nhất với Truyện Kiều.

Nguyễn Du đã đặt ra những vấn đề về văn hóa, về con người, về thời đại, như cách đặt vấn đề "To be or not to be” trong Hamlet của Shakespeare: hồn Khuất Nguyên đừng về cõi trần nữa, vì đầy những kẻ ăn thịt người ngọt xớt như đường, vì lịch sử nhân loại đầy đau thương, chỉ trừ thời Tam Hoàng. Đây là một tác phẩm lớn về nhiều mặt mà chúng ta chưa khai thác hết được tiềm năng của nó. Đây là thể loại trữ tình triết lý rất sâu sắc mà thơ Việt nên kế thừa, phát huy.

Vì là chữ Hán nên độ phổ biến chưa cao, nhưng không thể vì Truyện Kiều mà quên thế giới thơ này của Nguyễn Du. Có không biết bao nhiêu bài hay, câu hay, từ hay trong đó: “Nhất phiến hàn thanh tống cổ câm” (Một tiếng sóng lạnh tiễn đưa kim cổ) hay: “Tri giao quái ngã sầu đa mộng, Thiên hạ hà nhân bất mộng trung?” (Bạn thân trách tớ hay sầu mộng, Thiên hạ ai chẳng người ở trong mộng?) v.v… chẳng là những câu thơ “danh cú” ư?

So sánh thơ chữ Hán của Nguyễn Du và thơ chữ Hán Việt Nam, thơ Trung Hoa nữa…, ta sẽ thấy đây là một ngọn cô phong trong văn học, xứng đáng ngợi ca không kém Truyện Kiều. Sao lại chỉ có biết Truyện Kiều, đổ xô vào Truyện Kiều, bỏ qua và bỏ quên sáng tác đích thực này?

9. Hướng thứ chín, theo Feliks Kuznersov, Viện sĩ, Viện trưởng Viện Văn học thế giới M.Gorki, ba nhân vật vĩ đại nhất của văn học Nga thế kỉ thế kỉ XIX từng định đoạt sự phát triển tinh thần của nhân dân Nga là Gogol, Dostoevski, Tolstoi… Đó không chỉ là những nhà văn, mà còn là những nhà tư tưởng lớn nhất của Nga thế kỉ XIX, những người bị dằn vặt bởi vấn đề tâm linh con người, những vấn đề sinh tồn mang tính bản thể luận (1).

Nguyễn Du phải chăng là một trong những giai đoạn phát triển tư tưởng, tinh thần, tâm linh và tồn tại của người Việt, đặc biệt là vấn đề con người, cái bên trong con người, nhân cách con người, lương tâm và đạo đức con người, (chứ không phải chỉ là cái cá nhân, cá thể…).

Và nếu vậy, Nguyễn Du xứng đáng được nghiên cứu trên tầm bản thể luận.“Cách tiếp cận mới đối với việc lý giải di sản nghệ thuật của các thiên tài văn học Nga được hình thành hiện nay, đó trước hết là cách tiếp cận sinh tồn, cách tiếp cận bản thể luận” F. Kuznersov viết.

Giá trị tinh thần của con người và xã hội, vấn đề ý nghĩa của cuộc sống, vấn đề lý giải sự tồn tại, vấn đề lương tâm như là vấn đề chủ yếu trong hệ thống giá trị đạo đức, sống để làm gì và sống như thế nào?... cách đặt vấn đề tiếp nhận giá trị cổ điển Nga như thể đặt ra cho chúng ta phương hướng nghiên cứu không xa lạ gì với phương pháp nghiên cứu kinh điển mà chúng ta theo đuổi. Đây có thể xem là hướng tiếp cận tổng quát về Nguyễn Du, là cách đọc Nguyễn Du cơ bản mà chúng ta hướng đến.

Có thể còn nhiều cách đọc, cách tiếp cận khác mà chúng tôi chưa kịp đề cập. Nhưng nhìn lại và nghĩ tới một vài hướng đi dù còn rất sơ lược, chúng tôi muốn cùng các bạn suy nghĩ về những bước đi tiếp tới trong việc đọc Nguyễn Du.


(1)

Xem Lương tâm nổi giận, Lê Sơn dịch, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, NXB Văn hóa Sài Gòn, tr.124-125.

Bài liên quan: