Chuyện bây giờ mới kể

Tôi đang ngồi tán gẫu với đạo diễn, nhà thơ Phan Vũ trong phòng 105 khách sạn Caravelle thì có tiếng cô trực điện thoại của khách sạn báo có hai người khách muốn gặp tôi, họ đang chờ dưới phòng tiếp tân.

Tôi vội xuống để xem họ là ai mà biết tôi trong Đoàn Điện ảnh miền Bắc đi chiến trường đã vào Sài Gòn trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trước Mặt trận Giải phóng.

Thấy vẻ ngạc nhiên của tôi trước hai vị khách chưa quen biết thì vị khách trẻ - trạc trên dưới ba mươi tuổi - bước lại bắt tay tôi và vui vẻ tự giới thiệu: “Tôi là Tạ Trung Đông, nhiếp ảnh, còn anh này là Từ Bá Châu, kỹ sư chất dẻo, nhà sản xuất phim Lệ đá. Chúng tôi nghe trong Đoàn Điện ảnh miền Bắc có anh Dương Linh là người Trà Vinh, chúng tôi rất mừng vì chúng tôi cũng là người cùng quê với anh, nên mạn phép đến đây để làm quen”.

Nghe anh Đông nói, tôi chợt nhớ tỉnh Trà Vinh có bốn dòng tộc giàu có nổi tiếng. Thứ nhất là dòng tộc Nguyễn Khắc ở huyện Châu Thành, đứng đầu là Nguyễn Khắc Mưu - còn gọi là Hội đồng Mưu - ông này có nhiều con, người con lớn thứ ba là Nguyễn Khắc Sự - dân thường gọi là bác vật Sự - có vợ đầm, sau khi Pháp trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai năm 1945, đã cho Sự làm đến chức Phó chủ tịch Hội đồng Liên hiệp Pháp. Còn người con thứ năm là Nguyễn Khắc Vệ thì làm đại sứ cho chánh phủ Bảo Đại ở Anh.

Dòng tộc thứ hai là Lâm Quang ở huyện Càng Long, đứng đầu là bà Lâm Quang Sáng. Có mẩu chuyện vui về nhân vật này: ở vùng làng Tân An nhân dân không ai dám nói là “trời sáng” mà chỉ nói là “trời hửng” vì gọi “sáng” là phạm húy, sẽ bị bọn gia nhân nghe được bắt về đánh đập. Một hôm có chiếc ghe buôn lớn ở xa chở hàng đồ gốm đến chợ Tân An bán. Lúc ghé đến là trời tối, nên khi rạng sáng, chủ ghe gọi mấy người làm công đang ngủ say: “Tụi bây ơi! Trời sáng rồi dậy dọn hàng lên chợ bán!”. Bất ngờ, lúc ấy có mấy tên gia nhân của bà Sáng đi ngang qua nghe thấy, vội túm tóc chủ ghe lôi về sân nhà đánh một chục roi về tội “phạm húy”! Bị đánh đau, khi đi ra cổng, chủ ghe vừa xoa đít vừa chửi thề: “Đ. mẹ thời vận chó đẻ quá!”. Không ngờ câu chửi thề đó lại trúng vào tên Lâm Quang Thời, Lâm Quang Vận là em ruột của Lâm Quang Sáng nên lũ gia nhân lại lôi đầu chủ ghe bắt nằm xuống đánh thêm hai chục hèo nữa. Lần này thì những người làm công phải khiêng ông này xuống ghe rồi nhổ sào đi luôn không dám trở lại vùng chợ Tân An này nữa.

Dòng tộc thứ ba là Từ Bá. Dòng tộc này có ông Từ Bá Đước là một nhân sĩ yêu nước, chống Pháp từng bị Pháp cho vào tù nhiều lần. Nổi bật nhất trong dòng tộc này là Từ Bá Chét (không biết trong giấy tờ ông có tên nào khác không). Ông này nổi tiếng chống Pháp đến cùng. Người ta kể khi quân Pháp trở lại chiếm thị xã Trà Vinh vào cuối tháng 11-1945, một đơn vị vũ trang của thị xã gồm Thanh niên Tiền phong và Tự vệ chiến đấu do ông giáo Nguyễn Văn Giả chỉ huy, sau khi chiến đấu quyết liệt đã rút về Cầu Cống xã Phước Hưng, nơi có nhiều dinh thự dòng họ Từ Bá thì ông Từ Bá Chét ra cổng đón mời vào ở dinh thự của mình, đãi anh em ăn uống đầy đủ suốt ba ngày liền. Trước khi đơn vị rút đi, ông Chét nói với giáo Giả: “Tui già rồi không còn sức đi theo anh em được. Hiện tui có cây súng săn hai nòng nhưng không còn đạn, tui chỉ xin ông chỉ huy cho bốn viên đạn, để tui ở lại sanh tử với bọn Tây khi chúng đến đây!”. Nghe ông Chét nói, ông giáo Giả nghĩ ổng nói vậy chớ bọn Pháp đến đây ổng theo luôn chớ làm sao dám bắn chúng. Nhưng ổng nuôi anh em ăn ở ba ngày đàng hoàng, nay chỉ xin có bốn viên đạn, không cho thì coi sao đặng, dù đơn vị không có bao nhiêu loại đạn này. Vậy là ông giáo Giả vội trao cho ông Chét bốn viên đạn rồi lật đật chạy theo anh em.

Mấy hôm sau một cánh quân Pháp từ thị xã Trà Vinh hành quân truy quét Việt Minh, xuống tới Cầu Cống. Từ xa, tên trung úy Pháp chỉ huy cánh quân thấy có nhiều dinh thự to lớn nên hỏi tên phiên dịch, tên này cho biết đó là khu dinh thự của dòng tộc Từ Bá - một dòng tộc nổi tiếng ở Trà Vinh. Và khi đến trước cổng nhà ông Từ Bá Chét, gã trung úy bảo đơn vị ở ngoài chờ để một mình hắn vào thôi. Khi biết quân Pháp hành quân về hướng nhà mình, ông Chét vội nấp trong phòng khách với khẩu súng săn hai nòng đã lên đạn sẵn, lắng nghe tiếng giày gã trung úy nện đều đều trên lớp sỏi từ ngoài cổng vào. Khi tên này vừa bước lên bậc thềm phòng khách thì ông Chét vọt ra chĩa súng nổ luôn một phát vào ngực tên giặc khiến hắn ngã nhào xuống thềm. Ông Chét vội nấp trở lại khi bên ngoài cổng tiếng súng bọn giặc nổ ào ào vô, nhưng bức tường phòng khách dày đạn không xuyên thủng được. Lúc sau, một tốp lính Pháp do tên thượng sĩ chỉ huy cầm khẩu tiểu liên xung phong xông lên trước, và tên này cũng chung số phận với gã trung úy, cũng lãnh đủ loạt đạn của khẩu súng săn ông Chét nã vào ngực khi hắn nhảy lên thềm. Đến lúc này, bọn Pháp biết chỉ có một người nấp trong phòng khách bắn chúng, nên không tên nào dám xông lên nữa mà dùng lựu đạn ném vào. Sau tiếng nổ chát chúa, ông Chét bị thương nặng, chúng lôi ông ra bắn chết ngoài sân, khi ông vẫn luôn miệng chửi mắng chúng.

Còn dòng tộc thứ tư là Tạ Trung ở huyện Cầu Ngang thì không nghe nói có ai theo giặc. Ông Tạ Trung Quân, bác sĩ nha khoa tốt nghiệp bên Pháp cùng lượt với bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Hưởng, luật sư Nguyễn Hữu Thọ và một số các vị khác. Trong dòng tộc này có Tạ Trung Ái, cán bộ Cục 2 Bộ Tổng tham mưu quân đội ta.

Đại khái quê hương Trà Vinh tôi có bốn dòng họ nổi tiếng này, tài sản họ phần lớn là ruộng đất không chỉ riêng ở Trà Vinh mà còn nhiều ở các tỉnh miền Tây như Bạc Liêu, Cà Mau, Rạch Giá… không ai biết hết. Và cũng như bao nhiêu dòng tộc khác ở miền Nam, gia đình của họ cũng đều có những người theo cách mạng kháng chiến, tuy không nhiều lắm.

Sau đó, Tạ Trung Đông đưa tôi đến thăm cha anh là bác sĩ Tạ Trung Quân ở lầu 2 chung cư Eden - quận 1. Tuy tuổi đã cao nhưng trông ông vẫn còn tráng kiện, nói năng hoạt bát, rất vui vẻ tiếp khách khi ông biết tôi cũng là dân Trà Vinh với ông. Từ đó khi có dịp tôi đều ghé thăm ông. Một lần vào khoảng cuối tháng 5 năm 1975, tôi đến thăm ông trước khi Đoàn Điện ảnh sắp trở về Hà Nội. Cũng như mọi lần trước, ông tự tay pha trà vui vẻ tiếp khách, rồi rất tự nhiên ông kể chuyện ông Trần Văn Hương, nguyên Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn vừa đến ông chữa răng. Tôi ngạc nhiên hỏi: “Bác cũng quen biết ông Hương à?”. “Không phải quen biết bình thường mà là sự quen biết đặc biệt” - ông Quân cười thoải mái - “Chính tôi đã nhặt “xừ” Hương từ đống rác lên đó!”. Thấy tôi tỏ vẻ hết sức ngạc nhiên, ông vui vẻ kể sau Hiệp định Genève 1954, Ngô Đình Diệm được Mỹ đưa về làm Thủ tướng, sau đó Diệm tổ chức lật đổ Bảo Đại bằng một cuộc “trưng cầu dân ý” bịp bợm, dựng lên chế độ Việt Nam cộng hòa mà Diệm làm tổng thống. Và để tỏ ra chế độ này cũng có dân chủ, Diệm cho các ngành nghề được lập hiệp hội và cấp kinh phí tượng trưng cho hoạt động. Các bác sĩ nha khoa cũng được thành lập Hội Nha sĩ và cử ông Tạ Trung Quân làm Chủ tịch hội. Có trụ sở, có giấy phép hoạt động, nhưng không có ông bác sĩ nào chịu ngồi vào ghế thường trực, mà chỉ muốn ở nhà chữa răng kiếm tiền, mọi việc đều đổ dồn về ông chủ tịch. Khốn nỗi, ông Quân cũng phải chữa răng kiếm sống như họ chứ. Vậy là trụ sở hội luôn đóng cửa, thi thoảng ông chủ tịch ghé qua cho có lệ. Một hôm có vị thân chủ đến ông Quân chữa răng, nói có quen biết một ông giáo đang làm cho đội bốc xếp cảng Sài Gòn, công việc rất cực nhọc ảnh hưởng đến sức khỏe, nên muốn tìm một công việc khác đỡ cực hơn. Ông Quân nghe mừng quá, bèn nói là Hội Nha sĩ đang cần một người thư ký thường trực, và muốn gặp ông Hương xem ông ta có chịu làm công việc đó hay không. “Vậy là tôi đã nhặt xừ Hương từ đống rác lên đó!”, ông Quân cười thoải mái.

Không bao lâu sau, Sài Gòn tổ chức bầu cử Nghị viện đô thành. Tất nhiên, Hội Nha sĩ có đủ tư cách pháp lý để đề cử ứng cử viên vào nghị viện, nhưng khổ nỗi, không có ông bác sĩ nào chịu ra làm nghị viên mà chỉ muốn ở nhà chữa răng kiếm tiền. Do đó, họ đồng ý cử ông Trần Văn Hương đại diện cho Hội Nha sĩ ra ứng cử vào nghị viện. Ông bác sĩ nào chữa răng cho thân chủ đều vận động họ và gia đình bỏ thăm bầu cho ông Hương. Kết quả là ông Hương đắc cử với số phiếu cao. Và do các phe phái mâu thuẫn nhau tranh giành chiếc ghế chủ tịch, nên rốt cục họ chọn ông Hương là người không có đảng phái nào.

Đúng là “ngao cò tranh nhau, ngư ông đắc lợi” - ông Quân cười lớn rồi kể tiếp - Vậy là xừ Hương nghiễm nhiên được bầu làm Chủ tịch Nghị viện đô thành. Và ít lâu sau, lại được cử làm Thủ tướng. Để trả ơn tôi, xừ Hương mời tôi làm Bộ trưởng Y tế, nhưng tôi kiên quyết từ chối. Tôi nói: “Cám ơn toa đã có nhã ý mời moa, nhưng moa không có “gu” làm chánh quyền, moa chỉ làm bác sĩ nha khoa chữa răng kiếm sống thôi”. Anh nghĩ coi, tôi đã từ lâu có mối quan hệ mật thiết với các anh Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Hưởng và các anh khác trong kháng chiến chống Pháp, mua thuốc men, dụng cụ y tế cho các anh trong khu. Sau này khi chống Mỹ, tôi vẫn giữ quan hệ với các anh Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát bên Mặt trận Giải phóng, làm sao tôi mặt mũi nào tham gia chánh quyền Sài Gòn. - ông Quân vui vẻ kể tiếp - Từ đó về sau, mỗi lần có lễ lạc gì lớn, xừ Hương đều có mời tôi tham dự, và tôi cũng chỉ đến cho có mặt vài phút rồi lặng lẽ rút lui. Vui sướng gì chạm cốc với bọn người mà mình không ưa, phải không anh? - ông Quân lại cười lớn - Từ sau ngày giải phóng 30 tháng 4, tôi không biết tin tức gì về xừ Hương, bỗng nhiên cách đây mấy hôm, xừ Hương chống gậy đến đây để tôi coi lại hàm răng có trục trặc gì đó rồi nói: “Sau giải phóng moa chuẩn bị ba lô sẵn sàng đi học tập, thì một hôm có vị đại tá Giải phóng đến gặp moa bảo chuyện đi học tập của ông, Ủy ban Quân quản Sài Gòn không giải quyết được mà do Hà Nội quyết định, ông cứ ở nhà yên tâm chờ. Sau khi vị đại tá về rồi, thì có một tiểu đội Quân Giải phóng đến canh gác trước nhà moa. Mấy ngày sau, cũng chính vị đại tá đó đến nhà moa bảo Hà Nội nói ông nhiều tuổi rồi, được miễn không phải đi học tập nữa, moa mừng quá bởi rất lo mình lớn tuổi rồi đi học tập không biết có chịu nổi không”. Vậy là xừ Hương được nhà nước mình với chính sách nhân đạo đã miễn việc đi học tập không như nhiều lời đồn đại lăng nhăng của bọn người xấu! - ông Quân mỉm cười độ lượng rồi tiếp - “Cái chánh quyền Sài Gòn này mà những người lãnh đạo điều khiển nó tầm cỡ như xừ Hương, xừ Thiệu thì dầu cho Mỹ có đem binh hùng tướng dõng với tiền tỉ đô la viện trợ, thì cũng không cứu vãn nổi sự sụp đổ trước anh em Giải phóng mình, phải không anh?”.

Tôi cũng cười tán thành và khâm phục sự nhận xét chí lý của ông mà trước đây tôi cứ ngỡ ông chỉ giỏi về chuyên môn.