Cảm hứng NƯỚC, ĐẤT và LỬA qua “Lửa thiêng”

Tháng 11/1940, Lửa thiêng được nhà xuất bản Đời nay in 3000 tập, với lời đề tựa của Xuân Diệu, Tô Ngọc Vân trình bày bìa. Tên tuổi Huy Cận đã tỏa sáng trên thi đàn dân tộc từ đấy, qua giọng điệu trữ tình ảo não, đầy tính triết lý thâm trầm. Lửa thiêng sau 70 năm, thưởng thức lại, người đọc thật thú vị về những cảm hứng vũ trụ, đất, nước, lửa,… bộc lộ trong thơ Huy Cận (đặc biệt là cảm hứng vũ trụ). Trong khuôn khổ cho phép, bài viết ở đây chỉ nhắc đến cảm hứng sáng tác nước, đất và lửa…

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả: Nước - Nỗi buồn và Tình yêu

Qua Hồi ký song đôi, Huy Cận từng nhắc lại những ấn tượng của mình về con sông quê miền sơn cước. Ở đó vào dịp mùa nước lũ, những khúc sông có thác ghềnh, đầy hiểm trở, rất đáng sợ. Trong Lửa thiêng, ký ức ấy vẫn lưu giữ cả tiếng gà gáy xế chiều khi qua ngã ba sông, còn âm âm, vang vang một thời tuổi nhỏ mơ màng:

Thuyền em qua thác sóng xô lùa.
Sông êm, bãi cát con cò đứng:
Khỏi vực, lòng em hết sợ chưa?
Tới ngã ba sông, nước bốn bề,
Nửa chiều gà lạ gáy bên đê.

(Em về nhà)

Nhà triết học Pháp, Bachelard với quan niệm phân tâm học vật chất cho rằng nước sâu, nước lặng thường gợi những nỗi buồn man mác. Con người sẽ cảm thấy một nỗi buồn hoang trước mặt nước lặng như ngủ yên, nước lạc lõng giữa rừng núi cô tịch. Tương tự, nước trong mạch liên tưởng của Huy Cận thật thâm trầm, qua bài Tràng giang:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy giòng.

Sông dài, trời rộng - bến cô liêu.
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Bài Tràng giang có tổng số 16 câu, trong đó có đến 9 câu thơ mô tả nước hoặc những hình ảnh liên quan sông, nước: sóng, gợn, thuyền, mái nước, cành khô lạc mấy giòng, sông dài, bến cô liêu… Không gian được mô tả trải dài, trải rộng mênh mông, như không có điểm dừng, điểm kết nối giữa nước và bờ (… không một chuyến đò ngang; không cầu gợi chút niềm thân mật; đâu tiếng làng xa… (đâu ở đây nghĩa là không có)…). Ngôn từ trong từng câu thơ như nén lại tất cả những điểm “không có”, “không thể”… thì năng lượng của nó càng có sức bật đối nghịch mãnh liệt. Chính vì vậy, Tràng giang thấm đượm nỗi buồn rười rượi như sự cộng hưởng giữa cái buồn nhân thế với nỗi buồn vũ trụ!

 

Ngoài suối, sông, thác, vực… là những hình ảnh nước chất chứa nhiều nỗi buồn của Huy Cận, trong Lửa thiêng, tiếng mưa, giọt mưa, đêm mưa, lệ mưa… cũng dội vang nhiều cung bậc trong tâm cảm của nhà thơ:

Đêm mưa làm nhớ không gian
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la
Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn…

(Buồn đêm mưa)

Mưa rơi trên sân.
Mái nhà nghiêng dần…
Ôi buồn trời mưa!

Lệ rêu muôn hàng.

(Điệu buồn)

Nước còn là biểu tượng của tình yêu trong thơ Huy Cận. Tuy cách thể hiện tình yêu của Huy Cận không sôi nổi, nồng nhiệt, như kiểu biểu hiện tình yêu của Xuân Diệu, nhưng vẫn hết sức dạt dào, tha thiết:

Sông mát tràn xuân nước đậm bờ.

(Xuân)

Nắng chia nửa bãi chiều rồi
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu

Ngủ đi em, mộng bình thường!
Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ…

(Ngậm ngùi)


Bản thảo Tràng giang.

Tai dưới đất để nghe chừng tiếng sóng: Đất - Suy tưởng về sự sống, chết

Vùng đất Ân Phú (Hà Tĩnh) được Huy Cận mô tả thật đẹp trong Hồi ký song đôi: “Đầu xuân, khi ngô mới nhú mầm, lá non mịn tơ như lông tuyết, xanh sáng như ngọc bích, cả cánh đồng ánh lên như một thảm nhung rất đẹp, mát mắt tưởng như có thể xén từng mẩu đất mà nhai nuốt được”. Đất quê hương thiêng liêng gắn chặt sâu thẳm trong tâm hồn nhà thơ:

Tôi sinh ra ở miền sơn cước
Có núi làm xương cốt tháng ngày
Đất bãi tơi làm ra thịt mát
Gió sông như những mảng hồn bay
.

(Tôi nằm nghe đất)

Đất có mối quan hệ mật thiết lạ kỳ với người dân quê. Những ngày thơ ấu, Huy Cận đã chứng kiến những anh trai cày khoét đất, lấy dây rừng căng qua hai cọc, làm thành chiếc trống thiên nhiên. Sau đó, tiếng trống đất được các anh em chăn trâu đánh lên trong nghi thức lễ tế trời trên núi. Âm thanh tiếng nhạc trống đất trầm đục “bịch bịch” thật cổ sơ, độc đáo. Huy Cận gọi đó là hơi thở của đất:

Chiếc trống vang lên điệu cổ sơ
Rung từ lòng đất- đến bây giờ
Tôi còn nghe rõ trong chiều lặn
Tiếng dội như là đất thở ra…

Nhắc lại hồi ức của Huy Cận về đất cũng có nghĩa là nhắc lại mạch sáng tác, cảm hứng sáng tác về đất của nhà thơ vào những năm 40. Hình ảnh đất qua tập Lửa thiêng ngày ấy đầy chất suy tưởng, triết lý về sự sống, chết của con người:

Đất sơ sinh đã hóa lại bùn lầy

(Thân thể)

Đất có khi là hình ảnh ấm áp, là mạch sống, là sức trẻ:

- Luống đất thơm hương mùa mới dậy,

Có ai gửi ý trong xuân vũ,
Đất nở muôn xuân vẫn chẳng mòn.

(Xuân) 

Đất là sức sống nuôi dưỡng vườn xanh với bao cây trái, lá hoa:

- Vườn hân hoan muôn vạn nỗi dàn bày
Của nhựa mạnh thành tơ trong lá mới
...

(Họa điệu)

Đất thật đẹp qua hình ảnh những con đường làng có bóng tre đầy mơ mộng, lãng mạn, dành cho đôi lứa:

Người cùng tôi đi dạo giữa đường thơm,
Lòng giắt sẵn ít hương hoa tưởng tượng.
Đất thêu nắng, bóng tre rồi bóng phượng…

(Đi giữa đường thơm)

Đất trong Lửa thiêng đôi khi là vùng không gian nằm trong quá khứ xa xôi mang bóng dáng thơ ca từ thời đại Bà Huyện Thanh Quan, thời đại Nguyễn Du:

- Dừng cương nghỉ ngựa non cao,
Dặm xa lữ thứ kẻ nào héo hon

(Đẹp xưa)

Nhà thơ Bùi Giáng nhận xét trong Lửa thiêng vấn đề nổi bật nhất là “tình yêu và lữ thứ; lữ thứ và không gian”. Lữ thứ thường gắn liền với dặm xa, nơi vùng đất núi rừng hoang sơ nào đó, chắc hẳn vắng bóng con người. Bởi vậy, người lữ khách một mình rong ruổi dặm xa luôn là hình ảnh cô đơn như một định mệnh ly biệt, thường tìm thấy trong văn chương lãng mạn của người xưa.


Bản thảo Chiều trên sông.

Đất liên quan gì đến triết lý về cái chết? Với điểm nhìn quen thuộc, không gian vũ trụ luôn có xu hướng từ phía dưới vọng lên; còn không gian của đất lại có chiều hướng nhìn ngang và thường đi xuống chiều sâu phía dưới lòng đất (cửa mộ, mồ nhỏ tí, địa phủ, địa ngục…). Đất biểu hiện là làn ranh giữa hai thế giới sống và chết (phía trên đất là cõi sống; phía dưới đất là cõi chết). Thế nào là chết? Chẳng bao lâu ngủ sầu trong đất! Huy Cận từng tưởng tượng đến cái chết khá lãng mạn của người thi sĩ - người của kiếp đi hoang, như sau:

Thì chết rồi, chắc người vẫn lang thang
Như buổi sống, ở trong bầu trăng gió.
Ở địa ngục, hay thiên đường, không rõ…

(Mai sau)

Con người khi chết rồi sẽ đi đâu, về đâu, sẽ “được chọn” theo hướng thiên đường hay địa ngục? Thật bí hiểm! May ra, có một điều hiển nhiên, nhân gian muôn thuở vẫn nghĩ là khi nhắm mắt lìa đời, con người ắt hẳn sẽ trở về với đất:

Tai dưới đất để nghe chừng tiếng sóng
Ở trên đời; - đầu ấy ngửng lên cao…

(Chết)

Và, chết đi rồi, có nghĩa con người sẽ đi vào xứ sở của sự quên lãng? Con người lúc ở bên kia cửa mộ, lúc bước vào thế giới không còn thời gian, không còn không gian, không còn tình cảm của “cõi người ta”? Thế mà hắn vẫn mang cái cảm giác nuối tiếc, sợ cô đơn với những khoảng cách: sắp xuống hư vô, xa tắp cuộc đời! Huy Cận hình dung một chuyến xe định mệnh, khi con người đã rời xa cõi sống, nhưng không dứt dằn vặt, băn khoăn! Nỗi đau đáu như đoạn độc thoại nội tâm của Hamlet khi suy nghĩ về lẽ sống chết “Tồn tại hay không tồn tại, đó là vấn đề” (To be or not to be, that is the question- Shakespeare). Để rồi, sự suy tưởng cứ trải dài từ đất phố thị dẫn đến đường làng ra nghĩa trang, với trục xe, bánh đẩy chậm chạp, có tiếng kèn tiễn biệt thê thiết:

Ai chết đó? Nhạc buồn chi lắm thế!
Kèn đám ma hay ấy tiếng đau thương

(Nhạc sầu)

Vì đã nâng bình lửa ấp lên môi: Lửa - sứ mệnh thắp sáng của nhà thơ

Lửa từng xuất hiện trong thơ Rimbaud - Donc le poète est vraiment voleur de feu - “Nhà thơ đúng là kẻ trộm lửa thiêng” (ám chỉ vị thần Prométhée trong thần thoại Hy Lạp đã trộm lửa thiêng của thần Zeus để tặng cho loài người). Rimbaud gắn sứ mệnh của nhà thơ với câu chuyện đi tìm lửa tương tự như thần Prométhée. Thiết tha qua cảm hứng thời đại của mình, Huy Cận đã mong mỏi nhà thơ trong thời đại mới cũng có sứ mệnh mang “lửa thiêng” thắp sáng cuộc đời con người.

Lửa thiêng là tập thơ mang chủ đề lớn về lửa, nhưng thực sự hình ảnh lửa, ngôn từ mô tả lửa rất ít thấy xuất hiện ở đây (lửa được thống kê có khoảng 03 từ trong số 50 bài thơ của tập Lửa thiêng). Vì sao ngôn từ mô tả lửa hiếm hoi? Có lẽ, đó cũng là nỗi bế tắc chung của các thi sĩ đang sống trong bối cảnh xã hội: Ôi! Tâm tư ngăn giữa bốn bờ tường/ Chờ gió mới, nhưng cửa đều đóng kín! (Quanh quẩn). Khát vọng Lửa Thiêng như sự tìm kiếm một ý nghĩa lớn, đúng đắn cho cuộc đời của một thế hệ nhà thơ trong trào lưu Thơ Mới.

Cho nên, phải đợi đến Kinh Cầu tự viết sau này, Huy Cận mới có dịp nhắc nhiều đến lửa: “Lửa là vật chất hân hoan, biến thành một niềm tín mộ. Phải chăng lửa là nơi vật chất và tinh thần phân tranh, là nơi đất đá vô tri vì một niềm phấn khởi đã được có linh hồn? Lửa: đó là kinh cầu tự của toàn Vũ Trụ từ buổi sơ khai đến ngày tận thế. Và những linh hồn rạng lửa, tự ngàn xưa gieo rắc trên cuộc đời bao nhiêu mầm sống, bao nhiêu nụ tinh anh!...”.

Lửa tiếp tục là nguồn cảm hứng sáng tác và hình tượng lửa tỏa sáng trong thơ Huy Cận giai đoạn sau Cách mạng Tháng Tám. Năm 1962, Huy Cận đã viết bài thơ Thăm núi Cô-ca, nhớ Pơ-rô-mê-tê đầy cảm xúc:

Phân phát lửa làm của chung thiên hạ
Ruột héo, gan khô; phận sự đã đành

Yêu ai xưa bỏ thần thánh theo người,
Giao ước lửa, quyết chung tình với lửa.

Ở thời điểm sáng tác bài thơ ấy, có lẽ, Huy Cận đã gặp được “sứ mệnh nhà thơ”, một điều ông tâm huyết đề ra trong tập Lửa thiêng từ hơn 20 năm trước!


Tài liệu tham khảo:

- Huy Cận (1995), Lửa thiêng, Nxb Hội Nhà văn, HN.

- Huy Cận (2000), Kinh cầu tự - Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, HN.

- Huy Cận (2002) Hồi ký song đôi, Nxb Hội Nhà văn, HN.

- Huy Cận (2005), Tác phẩm được giải thưởng Hồ Chí Minh, Nxb Văn học, HN.

- Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (nhiều người dịch), Nxb Đà Nẵng và trường Viết Văn Nguyễn Du, HN.

Bài liên quan: