Cần tiếp cận thích đáng với khoa học giáo dục hiện đại

Đề tài góp ý cho công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục nước nhà đang được dư luận đặc biệt quan tâm. Tiếp theo bài viết rất sâu sắc của tác giả Lê Tự Hỷ nhan đề Vài nhận xét về chủ trương Đổi mới giáo dục đăng trên Hồn Việt số 76 (tháng 12-2013), tôi xin góp thêm tiếng nói cho đề tài rất quan trọng này.

Do những sự lắt léo của lịch sử, nước ta bị ngăn cách với khoa học giáo dục hiện đại trong nhiều thập kỷ, khiến cho nền giáo dục Việt Nam bị lạc hậu rất xa so với các nước tiên tiến trên thế giới. Vì thế, muốn cho công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục nước ta đi đến thành công, thì khoa học giáo dục hiện đại quốc tế phải được tiếp cận để áp dụng một cách thích đáng.

1)Nếu chỉ tiếp cận với giáo dục nước ngoài một cách sơ sài và nông cạn, rồi vội vã đem nhận thức chủ quan của người có trách nhiệm áp dụng vào việc đổi mới giáo dục nước ta, thì sẽ khó tránh khỏi những hậu quả tai hại.
Trong cuộc đổi mới giáo dục cuối thế kỷ 20, nhận thức được rằng kiểu chương trình đồng nhất áp dụng cho bậc trung học phổ thông (THPT) hiện hành là quá lạc hậu so với thế giới, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho xây dựng một chương trình phân ban thí điểm để thay thế nó. Nhưng chương trình này được phân ban theo tư duy chủ quan lỗi thời của những người chịu trách nhiệm, không hề tham chiếu lý luận và mô thức quốc tế hiện đại. Xuất phát từ quan niệm cũ coi giáo dục phổ thông chỉ là nơi “dạy chữ và dạy người” bằng các môn văn hóa và khoa học cơ bản, chương trình thí điểm phân ban chỉ dựa trên các bộ môn đó để phân chia thành 4 ban A, B, C, D (theo 4 khối thi đại học), thêm ban E dành cho những em không có khả năng thi đại học mà cũng chẳng được dạy nghề gì để ra đời (!). Thí điểm này thất bại, Bộ lại thí điểm 3 ban: ban A (toán, lý, hóa, sinh), ban C (văn, sử, địa) và ban B (giống như ban E trước kia). Kết quả là không có học sinh nào xung phong vào ban B, rất ít học sinh đăng ký ban C và đại đa số các em chọn ban A. Thí điểm này hoàn toàn thất bại, buộc Bộ phải hủy bỏ để quay về với chương trình THPT đồng nhất (kèm theo 4 khối thi đại học A, B, C, D và ngày càng thêm nhiều khối phụ).

Cùng lúc đó, tiếp nhận hình thức tổ chức của hệ thống đại học Hoa Kỳ, Bộ tiến hành đổi mới giáo dục đại học bằng một chương trình “2 giai đoạn” để nâng cao chất lượng đào tạo; đồng thời thành lập 2 đại học quốc gia và mấy đại học “vùng”, với tham vọng để các đại học này đạt được “tầm cỡ quốc tế”. Tuy nhiên, do chưa hiểu rõ về thực chất bên trong hệ thống đại học 2 giai đoạn của Hoa Kỳ mà vội đem áp dụng vào nước ta theo ý tưởng chủ quan của giới chức có thẩm quyền (tai hại nhất là việc hiểu sai khái niệm “general education”), nên chương trình 2 giai đoạn của Bộ đã trở nên dị dạng, khác hẳn với nguyên mẫu của Mỹ, gây tổn hại cho chất lượng đào tạo và bị thực tiễn bác bỏ; còn các đại học quốc gia và đại học “vùng” dù vẫn tồn tại nhưng không hề đạt được “tầm cỡ quốc tế”.

Trong cuộc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đầu thế kỷ 21, một chương trình phân ban THPT mới lại được xây dựng theo cách tư duy cũ và cũng không biết đến mô thức quốc tế hiện đại, nên nó lại đi theo vết xe đổ của chương trình thí điểm trước đó.