Cùng một ánh trăng

Nhà thơ Huy Cận cho rằng trên thi đàn Việt Nam thế kỉ XX, Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử sẽ là một trong số những người hiếm hoi để lại tên tuổi cho hậu thế.

Xuân Diệu (1916 – 1985) xuất hiện như một làn gió mới, đã được khách yêu thơ, đặc biệt là phái Tân học – chịu ảnh hưởng văn chương Pháp hết sức tán thưởng về vẻ tân kỳ, bởi ngôn từ rất mới lại thoát khỏi tư tưởng khuôn sáo cũ, những niêm luật gò bó của “thơ Đường”. Nhưng điều đó lại gây sóng gió trong làng thơ vì những người quen đọc thơ Đường đã chỉ trích Xuân Diệu là “Tây” quá, “Tây” từ nội dung (đề cập đến “cái tôi” chứ không nói chung chung) đến hình thức (phép dùng từ, đặt câu vay mượn cấu trúc Tây phương), thí dụ:

Hơn một loài hoa đã rụng cành

(“Đây mùa thu tới” – Thơ thơ)

Tuy nhiên, trong dáng dấp “Tây” của Xuân Diệu, ta vẫn thấy phảng phất phong cách Việt:

Rượu nơi mắt với khi nhìn ướm thử;
Gấm trong lòng và khi đứng chờ ngây;
Và nhạc phấn dưới chân mừng sánh bước
Và tơ giăng trong lời nhỏ khơi ngòi
Tà áo mới cũng say mùi gió nước
Rặng mi dài xao động ánh dương vui.

(“Xuân đầu” – Gửi hương cho gió)

Chính Hàn Mặc Tử cũng đã phân tích và công kích thơ Xuân Diệu: “Vẫn biết nghệ thuật chuộng ở sự tiến bộ, ở sự hoàn toàn từ tinh thần đến hình thức của một bài thơ. Song lẽ, ta không nên quên rằng: Thơ ta là thơ quốc âm, ta phải giữ cái tinh thần Việt Nam của ta, hơn nữa cái tinh thần Đông phương mà sự rung cảm tâm hồn người ta là nhờ cái đẹp kín đáo, cái tình sâu sắc, cái buồn thấm thía…

Vì thế cho nên, những sáo ngữ: trăng, hoa, tuyết, gió hay là những danh từ đẩy đưa trong khi hành văn (những danh từ rất thường dùng) đều là những luận đề bất tử cả. Mất những danh từ ấy, những sáo ngữ ấy, nghĩa là mất hết tinh thần Đông phương rồi, mất cái điện lực, cái gân chuyển tình cảm vào người…

Bao giờ Xuân Diệu cũng ưa cái lập dị với những thi liệu của Tây phương, cốt làm cho bài thơ mình có cái dáng dấp một sự duy tân. Nhưng cuộc duy tân ấy thất bại ngay vì không hợp với lòng dân, nghĩa là không cảm được người ta vậy. Phải để cho bài thơ có cái cốt cách nguyên vẹn từ xưa, cái cốt cách cố hữu của nó, mới nổi cái giá trị của nó lên. Kết luận không thể lập dị trong những sự dùng ngữ kiểu cách, những “tournures” lạ kì để làm cho bài thơ thoát sáo, vì thoát sáo theo kiểu ấy, bài thơ sẽ mất sức rung cảm, kém hay”.

Hành trình thơ của Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) khác Xuân Diệu bởi: Hàn Mặc Tử bước chân vào làng thơ bằng những bài thơ Đường luật (nổi tiếng từ 1931 với ba bài: “Thức khuya” (hay “Đêm không ngủ”). “Gái ở Chùa”, “Chùa hoang” rồi mới gia nhập làng thơ mới. Tập thơ đầu tay “Gái quê” (1936) gồm cả thơ mới lẫn thơ Đường luật, và sau đó Hàn còn đi xa hơn nữa với những vần thơ kỳ dị, không mạch lạc, khó hiểu, sáng tác trong trạng thái đau khổ tột bậc khi mắc bệnh hủi (“Thơ điên” sau đổi ra “Đau thương” (1938)).

Trần Thanh Mại, người đầu tiên viết sách giới thiệu thơ Hàn Mặc Tử, nhận xét là hai phần ba “Đau thương” viết về trăng và đặt câu hỏi, tuy không mấy tin tưởng, có phải đến mùa trăng thì người mắc bệnh hủi hay đau đớn, khó ngủ… tựa như ảnh hưởng của trăng với nước thủy triều.

Trăng có ảnh hưởng đến bệnh hủi hay không thì chưa rõ nhưng trăng thu hút cả Xuân Diệu và Hàn Mặc tử là điều chắc chắn. Dưới đây chỉ là những nhận xét cá nhân về ảnh hưởng của chị Hằng đến nguồn thi hứng của hai nhà thơ được nhiều người mến chuộng.

* Trăng của Xuân Diệu

Xuân Diệu viết khá nhiều về trăng, chỉ riêng trong “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió”, trăng đã được nhắc đến trong những bài: “Trăng”, “Huyền diệu”, “Nhị hồ”, “Đây mùa thu tới”, “Với bàn tay ấy”, “Thơ than”, “Ca tụng”, “Nguyệt cầm”, “Buồn trăng”, “Lời kỹ nữ”, “Bài thứ năm”, “Bụi mưa mùa cũ”, “Sương mờ”, “Huyền ảo”, “Cảm xúc”, “Vội vàng”, “Hoa đêm”, “Thân thể”…

Trăng của Xuân Diệu khi thì mơ mộng:
Trăng vừa đủ sáng để gây mơ.

(“Nhị hồ” - Gửi hương cho gió)

Khi thì gợi sự nhớ nhung, tương tư:
Sương nương theo trăng ngưng lưng trời;
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi.

(“Nhị hồ”)

Dưới trăng, lòng người có khi “buông thả”:
Nếu hương đêm say dậy với trăng rằm,
Sao lại trách người thơ tình lơi lả?

(“Cảm xúc” – Thơ thơ)

Nhìn hình ảnh “Trăng lồng bóng nước” khiến Xuân Diệu tưởng như trăng đang khỏa thân. Thi nhân lý luận: “Bởi vì trăng cũng thở những ý nghĩ điếm đàng và trên nước chói vàng tựa hồ như một thân thể đang tắm”.

Người ta thường ví nôm na mặt trăng tròn với cái đĩa còn thi nhân lại thấy nó giống bộ ngực khêu gợi của người thiếu nữ:

Trăng vú mộng của muôn đời thi sĩ
Giơ hai tay mơn trớn vẻ tròn đầy.

(“Ca tụng” – Thơ thơ)

Song, trăng mô tả đến đây vẫn chưa thực sự là “trăng của Xuân Diệu”, những cảm tác đó là cảm tác chung của thi nhân. “Trăng của Xuân Diệu” có nét riêng, luôn luôn tràn đầy, tràn ngập:

Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá,
Ánh sáng tuôn đầy các lối đi.

(“Trăng” – Thơ thơ)

Nếu ánh trăng lai láng khiến Thúc Tề thấy xuân tình rộn rã:

Lai láng niềm trăng tuôn dạ nước,
Ngập tràn sông trắng, gợn bâng khuâng,
Hương trăng quấn quýt hơi sương ướt,
Ngân dội lời tình điệu hát xuân.

(“Trăng mơ”)

thì ngược lại, nó lại gợi Xuân Diệu cảm giác lạnh lẽo, buốt giá:

Trăng thu thường thấy trắng phau,
Ấy màu của tuyết, ấy màu của băng.
Lạnh thay là ảnh cô Hằng,
Lạnh trong cung lạnh, trong trăng lạnh lùng
.

( “Bụi mưa mờ cũ” – Gửi hương cho gió)

Bởi thế cho nên, con người như càng thấm thía hơn sự cô tịch:

Chỉ biển trời xanh, chẳng bến trời,
Mắt nhìn thêm gợn ánh khơi vơi,
Trăng ngà lặng lẽ như bông tuyết,
Trong suốt không gian tịch mịch đời
.

(“Buồn trăng” – Gửi hương cho gió)


Trong khung cảnh tịch mịch dưới biển trăng trong vắt, tiếng nhạc trỗi dậy gợi ta cảm giác rờn rợn, thấy mình quá bé nhỏ, lạc lõng, bơ vơ giữa đất trời bao la:

Bốn bề ánh nhạc biển pha lê,
Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề,
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở,
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.

(“Nguyệt cầm” – Gửi hương cho gió)

Người kỹ nữ sợ hãi ánh trăng mênh mông:

Em sợ lắm, ánh trăng tràn mọi nẻo
Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da
.

(“Lời kỹ nữ” - Gửi hương cho gió)

Nàng sợ mình phải đối bóng mình:

Chớ để riêng em phải gặp lòng em.

Và nàng khẩn cầu sự hiện diện của một người mong đem lại chút tình ấm áp, dù người ấy chỉ là một khách làng chơi:

Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa,
Vội vàng chi, trăng sáng quá khách ơi.
Đêm nay rằm: yến tiệc sáng trên trời,
Khách không ở, lòng em cô độc quá!

(“Lời kỹ nữ” - Gửi hương cho gió)

Lời khẩn cầu của nàng kỹ nữ nghe sao tha thiết, song nàng cũng ý thức được là vô vọng bởi:

Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt.

Phải đâu nàng kỹ nữ bị xã hội khinh rẻ mới thấy cô độc mà ngay cả dưới ánh trăng chói ngời, tình yêu thắm thiết của lứa đôi cũng không làm tiêu tan cảm giác “bơ vơ”, lẻ loi:

Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá!
Hai người, nhưng chẳng bớt bơ vơ.

(“Trăng” – Thơ thơ)

* Trăng của Hàn Mặc Tử

Cũng như Xuân Diệu, trăng của Hàn Mặc Tử có những lúc mơ mộng:

Cùng trăng sao bàng bạc xứ Say Mơ

(“Trường tương tư” – Đau thương)

Nhưng trăng của Xuân Diệu lại khác trăng của Hàn Mặc Tử bởi trăng của Hàn không gợi cảnh yêu đương, thương nhớ… mà thường gợi những hình ảnh của sự tan vỡ, chia ly:

Mộng uyên ương khi trăng sao bàng bạc,
Biến mất rồi, anh thấy khói hương tan.

(“Khói hương tan” – Đau thương)

và những tư tưởng chán chường:

Trăng! Trăng! Trăng! Là trăng! Trăng! Trăng!
Ai mua trăng, tôi bán trăng cho,
Không bán đoàn viên, ước hẹn hò.

(“Trăng vàng trăng ngọc” – Đau thương)

hoặc cay đắng:

Cách nhau ngàn vạn dặm,
Nhớ chi đến trăng thề.

(“Tình quê” – Gái quê)

Trăng của Hàn Mặc Tử có ba đặc điểm:

1. Bị tình dục ám ảnh, là nét nổi bật nhất:

Ngay từ 1931, trăng của Hàn đã mang những hình ảnh khêu gợi rõ rệt:

Bóng nguyệt leo song rờ rẫm gối,
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn.

(“Thức khuya”)

Tập “Gái quê” (1936) đầy rẫy những bức tranh phô bày lộ liễu:

Trăng nằm sõng soãi trên cành liễu,
Đợi gió đông về để lả lơi.
(…) Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm,
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe.

(“Bẽn lẽn”)

Trăng của Xuân Diệu cũng “tắm”, cũng “lả lơi”, cũng “điếm đàng” nhưng nó được Xuân Diệu diễn tả kín đáo, còn ngòi bút của Hàn Mặc Tử phóng túng:

Bóng Hằng trong chén ngả nghiêng,
Lả lơi tắm mát, làm duyên gợi tình
.

(“Uống trăng” – Gái quê)

Bị ám ảnh về tình dục nên nhìn đâu thi sĩ cũng thấy sự khêu gợi: hết trăng “rờ rẫm”, “trăng nằm sõng soãi”, rồi đến “trăng ôm”:

Tiếng vàng rơi xuống giếng,
Trăng vàng ôm bờ ao.

(“Ngủ với trăng” – Đau thương)

Hết “ngủ với trăng” lại đến nhìn “trăng ngủ”:

Ngả nghiêng đồi cao bọc trăng ngủ,
Đầy mình lốm đốm những hào quang.

(“Ngủ với trăng” – Đau thương)

Khi bị bệnh tật hành hạ, hình ảnh trăng trở nên méo mó, biến dạng, thậm chí dữ dội, tàn bạo:

Gió rít từng cao trăng ngã ngửa,
Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô.

(“Say trăng” – Đau thương)

Bản thân trăng không gây cảm giác rờn rợn (như Xuân Diệu), mà chính thi nhân điên cuồng, gào thét khiến cho người đọc có cảm giác “rởn ốc”:

Cùng ngả nghiêng lăn lộn giữa muôn hình,
Để gào thét một hơi cho rởn ốc,
Là Thiên đường, Trần gian và Địa ngục.

(“Hồn là ai?” – Đau thương)

2. Thời kỳ của “Thơ điên” (tức “Đau thương”):

Trong “Gái quê”, mảnh trăng lưỡi liềm chỉ khiến thi sĩ bực bội muốn “chặt khóm thùy dương nghiêng ngả trước gió chiều lơi lả” và “chặt hồn ta dứt nỗi niềm” nhưng khi bệnh tật dày vò, thi nhân thấy trăng lưỡi liềm là trăng đã… bị “cắn”:

Hôm nay có một nửa trăng thôi,
Một nửa kia, ai cắn vỡ rồi.

(“Em nhớ mình xa” – Xuân như ý – tặng Trần Thanh Địch)

Thi nhân đã ký thác vào trong thơ sự vật vã đau đớn qua những hình ảnh tạo ảo giác quái dị:

Cả miệng ta là trăng, là trăng, trăng,
Cả hồn ta vô số gái hồng nhan,
Ta nhả ra đây một nàng…

(“Một miệng trăng” – Đau thương)


Mộ Hàn Mặc Tử ở Quy Nhơn.

Thời kỳ bệnh hoạn, thần trí thác loạn, thi sĩ viết huyên thuyên, không mạch lạc, chỉ cốt diễn đạt những cảm xúc hay đây là một cuộc thí nghiệm đi tìm một vẻ đẹp lạ kỳ? Hàn Mặc Tử viết: “Tôi làm thơ? Nghĩa là tôi yếu đuối quá. Tôi bị cám dỗ. Tôi phản lại tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật. Và cũng có nghĩa là tôi mất trí, tôi phát điên…

Trong thời kỳ ấy, óc mở ra rất mau, các tế bào trong não đều sinh sản thêm, dắt linh cảm người đến một vườn tư tưởng cao siêu lạ, và vì thế những bài thơ tân kỳ có dịp ra đời, nó ở ngoài mức trình độ hiểu biết của người thường, vì thế, người ta đọc thơ là không hiểu”.

Chúng ta thấy “Thơ điên” không có mạch lạc, tựa như những hình ảnh trong chiêm bao liên tiếp hiện ra, biến đi rất nhanh, nó có cái “lô-gích” của riêng nó mà ta đã chấp nhận dễ dàng trong giấc mơ. Có cả những hình ảnh đẹp đẽ và cũng có những hình ảnh kỳ quái… Tuy vậy, những hình ảnh ấy ít nhiều, xa gần đều phản ánh sự thực:

Người trăng ăn vận toàn trăng cả,
Gò má riêng thôi lại đỏ hườm.

(“Say trăng” – Đau thương)

Theo gia đình và bè bạn thì cả những lúc bệnh nặng nhất, mặt mũi thi sĩ cũng không bị quá biến dạng, chỉ có gò má xuất hiện những nốt đỏ mà thôi.

3. Nhập vào vũ trụ:

Xuân Diệu cảm thấy giá buốt, cô đơn chỉ khi đứng dưới ánh trăng chói sáng, còn Hàn Mặc Tử ngay cả khi trăng không sáng, thi sĩ cũng thấm thía được cảm giác về sự đơn chiếc:

Trăng lạnh quá, ánh trăng không sáng mấy,
Cho nên chăn chiếu vẫn so le.

(“Thao thức” – Đau thương)

Tuy nhiên, ánh sáng lòe của trăng không làm cho Hàn Mặc Tử sợ hãi, thấy mình bé nhỏ trước vũ trụ bao la, trái lại, trăng tràn ngập, chói ngời khiến Hàn quên hẳn mình đi: “Say sưa và ngây ngất vì ánh sáng, hai chị em như đê mê, không còn biết là có mình và nhận mình là ai nữa” nên ranh giới giữa người và người cũng xóa sạch:

Không gian dày đặc toàn trăng cả,
Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng
.

(“Huyền ảo” – Đau thương)

Thi sĩ thoát xác, nhập vào vũ trụ:

Ta bay lên! Ta bay lên!
Gió tiễn đưa ta tới nguyệt thiềm,
Ta ở côi cao nhìn trở xuống,
Lâng lâng mây khói quyện trăng đêm.

Xuân Diệu đi từ ngoại cảnh vào nội tâm, nhận rõ sự nhỏ nhoi bất lực của con người trước vũ trụ, người và vũ trụ là hai cá thể riêng biệt, tách rời nhau, thậm chí đối nghịch nhau. Có những khi trăng được nhân cách hóa, tỏ ra thông cảm với con người, ấy là lúc Xuân Diệu “làm duyên”. Dẫu sao thì, trăng của Xuân Diệu vẫn chỉ là trăng phi nhân. Bởi vậy, đôi lứa yêu nhau tha thiết đến thế mà vẫn cảm thấy “chẳng bớt bơ vơ”, trăng không giúp họ gần nhau hơn:

Sau giờ lặng lẽ, nghe chung một,
Lại có riêng mình, lại có ta.

(“Tình cờ” – Gửi hương cho gió)

Nhưng dù trăng phi nhân thì ta vẫn thấy nó quen thuộc, gần chúng ta hơn.

Hàn Mặc Tử cũng đi từ ngoại cảnh vào tâm cảnh rồi lại đem tâm cảnh trải lên ngoại cảnh, nhập với vũ trụ. Nhưng trăng trong “Thơ điên” lại dẫn thi sĩ lạc vào một thế giời xa lạ, kỳ dị, bỏ ta lạc lõng, bỡ ngỡ. Những hình ảnh thác loạn đã được thi sĩ thăng hoa, tạo ra những thi phẩm tân kỳ, đưa ta tới những cảnh giới lạ lùng, khó hiểu, đòi hỏi người đọc phải quên cách thưởng thức thông thường của lý trí, đón nhận những vần thơ kỳ lạ trước khi tìm hiểu ý nghĩa của nó. Chế Lan Viên viết: “Ý thức tôi còn chưa hiểu được thì tiềm thức tôi đã cảm được, chấp nhận, thông qua”.