Con trâu chết (*)

Một buổi trưa hè oi ả, đã đúng ngọ, cửa công đường hết người vào ra. Trong quán nước tuềnh toàng bên trái cửa huyện, một người đứng tuổi bận chiếc áo the bạc màu, chiếc quần trúc bâu cháo lòng đang ngồi nhấp bát chè xanh, chăm chú nghe mấy người dân quanh vùng than vãn về nạn cửa quyền, đút lót nơi cửa quan. Từ cai lệ, nha lại đến quan phụ mẫu đều phải có tiền mới lọt cửa.

Bỗng một chị tuổi đã xồn xồn, váy áo lếch thếch bước vào quán. Chị ta ngồi xệp xuống chân cột tre, cầm chiếc nón quạt lấy quạt để như muốn xua vội cái oi nồng ngoài trời với nỗi bực dọc trong lòng, quạt mếu máo năn nỉ:

- “Thưa cụ! Thưa các bác! Ở đây có ai có chữ nghĩa làm ơn viết giúp nhà cháu lá đơn lên huyện!”. Mọi người nhìn chị ta ái ngại. Ông áo the bạc màu quay lại hỏi:

- “Nhà chị làm sao phải viết đơn lên huyện? Lại kiện cáo gì phỏng?”.

Như chết đuối vớ được cọc, chị xồn xồn tấm tức kể lể:

- “Thưa cụ, nhà cháu có dám kiện cáo gì ai đâu! Chả là cày cấy thất bát. Đang làm ăn, con trâu còm bỏ cỏ mấy ngày, mồm lở móng long rồi lăn ra chết. Khốn khổ nhà nông chúng con, vì con trâu là đầu cơ nghiệp, nó chết thì chúng con sạt nghiệp. Bây giờ lại thêm cái tội ngả thịt bán không ai mua, mà chôn cũng không xong. Hai ngày nay rồi, ông Xã, ông Lý bắt làm đơn lên huyện chứng nhận mới được đem chôn. Vét trong nhà còn gì bán tống bán tháo lấy ít tiền chạy đơn và lên quan.

Chẳng may đi từ sáng đến giờ tới huyện, lần tới tờ đơn thì đã rơi mất dọc đường từ bao giờ rồi. Quay về thì phải hai ngày nữa mới lên được. Trời đất đổ lửa thế này, con trâu chết trương nằm đấy! Ruồi nhặng chuột bọ cắn xé, chung quanh chửi rủa chẳng biết làm thế nào. Con cắn rơm cắn cỏ lạy cụ, lạy các bác sinh phúc giúp cho nhà cháu qua đận khổ ải này”. Nói xong chị ta oà lên khóc, cảnh tượng thật thương tâm.

Ông áo lương bạc màu chừng thông cảm với người đàn bà nghèo rách rưới bèn sẽ sàng:

- “Nhà chị ra mua lấy tờ giấy về đây tôi giúp cho kẻo trưa rồi, lỡ giờ vào huyện buổi chiều nay”. Bà quán chừng như cũng thương cảm:

- “Thế là phúc cho nhà chị rồi, thôi đi đi cho kịp. Ngay chỗ hàng xén cổng chợ kia kìa!”

Người đàn bà lam lũ, nhếch nhác đứng dậy cảm ơn rồi đi luôn. Lát sau chị ta tong tả đem giấy đến đưa cho ân nhân. Ông cụ mở tay nải ra trên vai xuống lấy ra chiếc bút lông và thỏi mực tàu đen nhánh, mài mực vào chiếc đĩa con, trịnh trọng trải tờ giấy ra chõng tre, tay xoa xoa vầng trán cao, rồi gò lưng cặm cụi viết.

Mồ hôi rịn ra hai bên thái dương lốm đốm bạc. Chị nông dân đứng đằng sau nhẹ nhàng cầm chiếc nón rách phe phẩy quạt. Nắng hè gay gắt, mực viết cũng chóng khô, nét chữ đen nhánh ánh lên nền giấy dó mịn màng. Ông cụ lướt nhanh mắt qua những dòng chữ, sửa lại đôi chút rồi mỉm cười gật gù mái đầu bạc, cuộn tròn tờ đơn đưa cho chị dân cày và kỹ lưỡng dặn dò:

- “Chị giữ cho cẩn thận kẻo rơi lần nữa, từ đây vào huyện chớ có đưa cho ai. Vào công đường thì đưa ngay cho quan và không phải đưa tiền nong gì cả đấy nhé!”

Chị dân cày giơ cả hai tay đón lá đơn, chắp tay vái ân nhân, đôi mắt đỏ hoe.

 

Trống huyện gióng một hồi giòn giã, báo giờ mở cửa buổi chiều, lác đác đã có vài người vào. Bên phải cổng, người lính lệ đội nón chóp, chân quấn xà cạp như một quân tốt đen trong cỗ tam cúc đứng ậm oẹ một người dân.

Chị dân cày chắp tay lễ phép nói với mọi người trong quán:

- “Con xin phép cụ và các bác, con vào huyện cho kịp”. Nói đoạn chị ta cắp nón vội vã đi. Mấy người khách uống nước cũng lần lượt đứng dậy, còn cụ già ngồi nán lại quán đưa mắt nhìn theo người đàn bà lam lũ cầm lá đơn mon men đến cổng huyện. Người lính lệ đứng dạng chân hất hàm:

- “Chị kia đi đâu?”

- “Thưa thầy, tôi xin vào quan ạ!”. Chị ta nhanh nhảu đáp.

- “Chỉ nói thế thôi à?”, người lính lệ hoạnh tiếp.

Chị nông dân ngờ nghệch cũng đủ trí khôn hiểu ra rằng chẳng thể nào vào tay không được bèn nặn trong ruột tượng ra một quan tiền. Anh lệ nhìn ngang nhìn ngửa, quay đi nhặt vội đồng tiền nhét vào túi nhà binh rồi xì ra một tiếng:

- “Đi!”

Chị nông dân bước men theo cái sân gạch rộng nóng bỏng tiến về phía nhà hiên, hướng mắt vào khung cửa phòng nơi có vài người ra vào, bỗng chị sững lại. Một người vẻ nho nhã đã bất thần đứng chặn trước mặt. Chị ta lí nhí:

- “Bẩm quan!. Con lên xin quan chứng nhận cho con về chôn cất con trâu nhà con bị bệnh chết ạ!”

Người thơ lại không nói gì, chỉ khum khum bàn tay ngửa lên kín đáo đưa sát vào vạt áo mình, bốn ngón tay vẫy nhẹ và mỉm cười ý nhị.

Chị dân cày hiểu ý, cúi xuống cởi ruột tượng, moi ra một tiền đặt vào tay thầy thơ lại. Anh ta tay cầm tiền chỉ vào chỗ quan ngồi rồi nhanh như gió khuất vào sau cửa.

Chị dân cày rón rén bước vào. Chính giữa phòng, sau chiếc bàn to đã lên nước nhẵn bóng. Quan cha mẹ dân đường bệ ngồi trên ghế, đôi mắt húp cúi xuống một tờ trình gì đó. Thầy thơ lại chắp tay đứng cạnh bàn. Sau khi nghe quan dặn nhỏ mấy câu, anh ta cầm tờ trình đi ra. Quan đưa mắt về chị nông dân. Một giọng ề à khó khăn phát ra từ cái họng ẩn trong cái cổ phì nộ nhầy mỡ như thủ lợn luộc:

- “Chị kia! Có việc gì?”

Chị nông dân hai tay run run bưng chiếc đĩa, trên có lá đơn che khuất quan tiền lồm cồm ở dưới, chị ta đặt đĩa lên bàn và nói gì nghe chẳng rõ.

Quan lặng lẽ gạt quan tiền vào hộc bàn mở sẵn rồi ngẩng mặt lên. Chị nông dân thấy quan làm động tác gạt tiền thuần thục xong thì yên tâm trở lại, thút thít trình bày nguyên do chị ta phải lên huyện. Quan nghe xong nghiêm giọng hơi gắt:

- “Ô hay con mụ này, ai đã đánh đấm gì mày mà phải khóc với lóc!”. Nói đoạn, quan giơ lại ngón tay múp míp cặp lá đơn kéo ra mặt bàn, giương mục kính đọc lướt lá đơn. Bỗng quan trừng mắt ngạc nhiên vì thấy lá đơn không có hàng chữ thông lệ: “Đại Nam quốc, Canh Tỵ niên…” mà chỉ có mấy câu thơ Nôm thể lục bát với nét chữ rồng bay phượng múa như thư pháp. Quan trợn mắt quát:

- “Con mụ kia! Ai viết cho mày lá đơn này?”

- “Dạ thưa… Dạ thưa…”. Chị nông dân giật thót mình nói không ra lời, mặt cúi xuống chẳng dám nhìn lên, tay chân run bần bật khi nghe tiếng quát tiếp:

- “Lệ đâu!”

Mấy tiếng dạ ran như chờ sẵn từ ngoài cửa. Viên cai lệ vụt chạy vào công đường, so vai chắp tay đợi lệnh.

Quan đã xem xong lá đơn, mặt ngài đỏ phừng phừng giận dữ, đôi môi thâm xịt, dày như hai con đỉa trâu thây lẩy bám dưới mũi trên cằm run bần bật, dằn giọng chỉ người đưa đơn ra lệnh cho cai lệ:

- “Đưa mụ này ra, lôi cổ thằng viết lá đơn này vào đây!”

Viên cai lệ dạ một tiếng rõ to rồi răm rắp thi hành công vụ, nắm tay lôi xềnh xệch người đàn bà khốn khổ ra khỏi công đường.

 

Mấy khắc sau, đã thấy hai tên lính lệ áp giải chị nông dân và ông già viết đơn vào phòng, viên cai lệ phớn phở bởi sự mẫn cán của mình, nhanh chóng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quan giao, hổn hển thưa:

- “Bẩm quan! Con túm được tên này đang bắt chân chữ ngũ ngồi nhấm nháp ở quán nước, y chưa kịp tẩu thoát!”

Quan liếc nhanh tên “tội phạm” tày đình dám vuốt râu hùm. Đó là một người đàn ông đứng tuổi, nho nhã, không có vẻ gì tỏ ra sợ hãi trước vẻ mặt hầm hầm của quan, nên ngài vẫn chưa xổ ra những lời quát nạt thô tục như thường lệ, quan kìm nén tức giận dằn giọng:

- “Thằng kia! Tên là gì? Quê quán ở đâu? Tại sao dám đến đây viết lếu láo? Khai ra!”

- “Tên xằng bậy kia! Khai mau!”. Viên cai lệ tiếp lời quan, hắn đập đập đầu hèo lên vai ông già ương ngạnh.

Như sợ bẩn áo mình, ông cụ giơ tay gạt mạnh cây gậy của viên cai lệ rơi xuống đất cạch một tiếng khô khốc, rồi từ tốn cất giọng nhỏ nhẹ:

- “Bẩm quan! Tôi vốn sinh nhà nghèo… ”

- “Nghèo à?”. Quan ngắt lời, cười khẩy: “Trông mặt mũi ra dáng có chút chữ nghĩa thế kia mà dám đến trước cửa công làm điều xằng bậy à! Khai tiếp đi!”

Ông già vẫn ung dung nhắc lại:

- “Bẩm quan, tôi vốn sinh nhà nghèo, không được học hành chi cả…”. Quan bước những bước gấp đi đi lại lại, nén trận lôi đình lắng nghe, nhác thấy mấy thầy thơ lại lấp ló ngoài cửa, quan quát lớn:

- “Cấm không được vào!... Thằng kia khai tiếp đi!”

Ông già chậm rãi:

- “Tôi vốn không được học hành gì, may ăn mày sân Trình cửa Khổng được mấy chữ lỏng. Đi thi thì không đỗ, chỉ đậu có… tiến sĩ! Không được ra làm quan”… (quan phụ mẫu há hốc mồm, giật thót mình)

Ông già nói tiếp:

- “May nhờ đức Kim thượng thương, sắc phong Thanh tra quan lại Bắc Thành, tên tự là Nghè Tân hay Nghè Thượng Cốc”.

Nghe đến đây, quan liếc nhanh ông già, ngài co rúm người lại, thở hổn hển, cổ áo the không chịu nổi sức đập như trống trận của quả tim ngài nên đã bật tung cả cúc, mặt quan đang đỏ như gấc vụt biến thành màu xam xám như đổ chì, phờ phạc như người trúng gió.

Một cảnh tượng diễn ra chưa từng có trước công đường, quan hấp tấp vén áo quỳ thụp xuống chân ông già vái như tế sao trước con mắt kinh ngạc của chị nông dân nghèo khó, trước anh cai lệ mẫn cán, và cả các thầy thơ lại thập thò ngoài cửa công đường.

Ông già vẫn nhỏ nhẹ nhưng nghiêm khắc:

- “Nhà thầy làm ăn như vậy mà đòi làm cha mẹ dân ư? Muốn sống hãy trả ngay quan tiền cho chị kia và cả những khoản tiền đã đoạt của dân. Lập tức ngăn nạn dịch lại. Sức ngay cho Hương chức các làng từ nay không được hống hách, thu tiền bất chính của dân. Còn những người như thầy hãy chờ đấy, sẽ có phép nước!”. Nói xong, ông cụ thủng thẳng bước ra cửa, trước con mắt nể sợ của viên chức và dân hàng huyện.

Đúng vậy! Đó là cụ Nghè Nguyễn Quý Tân, một vị Khâm sai Thanh tra Đại thần nổi tiếng liêm khiết và là khắc tinh của không ít quan lại mọt dân thời đó. Còn lá đơn nổi tiếng bằng thơ vui ứng khẩu kia đã làm hởi lòng hởi dạ bao người và còn lưu truyền mãi cho tới ngày nay:

“Tôi là phận gái nữ nhi
Có con trâu chết tôi đi trình làng.
Vội vàng váy tụt đơn rơi
Tôi đi mượn người mần cái đơn ni.
Quan tri ơi hỡi quan tri
Xin quan chấp lấy đơn ni làm bằng.
Nếu quan có hỏi mần răng
Thì quan cắn cỏ lạy thằng mần đơn”.


(*)

Giai thoại chống tham nhũng thời xưa.