Dọc đường văn học

Vũ Cao và giai thoại thơ

Nhà thơ Vũ Cao (1922 – 2007) tên thật là Vũ Hữu Chỉnh, quê ở xóm Tâm – xã Liên Minh – huyện Vụ Bản – tỉnh Nam Định. Năm 1946, ông làm báo Vệ Quốc Quân rồi báo Quân Đội Nhân Dân. Từ năm 1954, làm Phó tổng biên tập, Tổng biên tập tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, rồi làm Giám đốc Nhà xuất bản Hà Nội, nguyên Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam. Các tác phẩm chính: Sớm nay (thơ – NXB Văn học, 1962), Đèo trúc (thơ – NXB Quân Đội Nhân Dân, 1973), Núi Đôi (thơ – NXB Hà Nội, 1970, tái bản nhiều lần), Ngang dốc núi (thơ – Giải thưởng Nhà nước năm 2001); truyện thơ Chúng ta giải phóng hòa bình; tiểu thuyết Những người cùng làng, Em bé bên bờ sông Lai Vu, Anh em chàng Lược và một số truyện ngắn.

Với Bá tước Lev Nikolayevich Tolstoy

Hồi ký của họa sĩ Ilya Efimovich Repin (*)

Tháng 8 năm 1891, tại trang trại Yasnaya Polyana, tôi chỉ thấy một Tolstoy cực kỳ giản dị. Điều đó thể hiện ở cách ăn mặc của ông: chiếc áo choàng đen may lấy, chiếc quần đen chả có kiểu cách gì, chiếc mũ lưỡi trai cũ kỹ, cặp chân trần xỏ trong đôi giày mõm nhái đã mòn vẹt. Tuy trang phục xuềnh xoàng như vậy, nhưng con người ông toát lên một vẻ oai vệ lạ lùng. Và thoạt nhìn ông thì chẳng một ai nhớ tới lời nhận xét của một thầy giáo làng từng dạy học ở Yasnaya Polyana vào những năm 60: “Thế nào? Đích thị Tolstoy ấy à? Đúng thế, nhưng ông bạn của tôi ơi, đó là vị bá tước trong toàn tỉnh đấy”.

Về nguồn

Hồn Việt xin trích đăng hai bài thơ của nhà thơ Nguyễn Viết Lãm - người con của đất Quảng.

Truyện “mini” của Y Ban

LTS. Nhà văn Y Ban vào nghề với truyện ngắn Bức thư gửi Mẹ Âu Cơ đầy ấn tượng, và gần đây thì đình đám với tập I am đàn bà (Tôi là đàn bà). Chị sống hồn nhiên, khi cần cũng mạnh mẽ khiến giới mày râu vừa yêu mến vừa ngại ngần. Như là để ghi chép lại những câu chuyện vui hay kể khi gặp bạn văn, Y Ban viết một loạt truyện “mini”, mỗi truyện một vẻ, hấp dẫn trí tuệ và sự thân gần, đặc biệt có giá trị xả “stress”… Hồn Việt xin trích giới thiệu một vài truyện “mini” của chị.

Trường hợp Võ Phiến (Trích đăng)

L.T.S: Võ Phiến là một nhà văn chống Cộng nổi danh ở Sài Gòn trước 1975. Qua Mỹ, ông cũng là nhà văn “đàn anh” trong các nhà văn hải ngoại. Nghe nói, lúc mới qua, ông buồn lắm: “Thôi con còn nói chi con/ Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người”. Nhưng rồi trào lưu chống đối ở bên đó lại giục ông cầm bút viết tiếp. Nay thì đã gần chín mươi rồi, bắt đầu lẩn thẩn khi nhớ khi quên theo quy luật tuổi tác.

Con trai ông, nhà văn Thu Tứ Đoàn Thế Phúc, một kỹ sư hàng không, viết bài này, giới chống Cộng phản ứng quyết liệt, cho là “con đấu tố cha”. Như Lê Tất Điều (dưới bút danh Kiều Phong) dọa nếu ông bà Võ Phiến không từ Thu Tứ thì ông ta sẽ tuyệt giao! Cũng chẳng có chi lạ. Chúng ta bình tâm đọc bài này, thì lại thấy một thái độ rất văn hóa, rất trí thức, một nhận thức rất sâu sắc và trách nhiệm về văn chương và tình hình đất nước. Ông Thu Tứ không nói vu vơ, ông nghiên cứu tình hình đất nước, về nước mấy lần để khảo sát, rồi mới viết. Cũng không có “Việt Cộng” nào tuyên truyền, thúc đẩy ông. Tự lương tâm ông thấy như thế nào thì viết ra như thế ấy!

Chủ đề “Cha và con” đã có trong nhiều tiểu thuyết thế giới, như Cha và con của Ivan Turgenev (Nga). Ở đây là vấn đề nhận thức lớn và sâu, liên quan tới cả một thời đại, một thế kỷ. Ông Võ Phiến, theo Thu Tứ, là một người đàng hoàng, tuy quan điểm chính trị là chống đối chế độ, nhưng là một trí thức, ông hẳn cũng không phiền lòng gì con trai. Bởi lẽ, quan điểm khác nhau là một sự thường. Xưa có câu “đương nhân bất nhượng ư sư” (“đứng trước điều nhân thì không nhường thầy”, mà xếp theo thứ tự “quân sư phụ” thì thầy còn đứng trước cả cha!). Trung hiếu nhiều khi không thể lưỡng toàn! Trung với Tổ quốc là hiếu vậy. Huống chi, như Thu Tứ kể, có lần Võ Phiến cũng đã nhắc và khâm phục Hồ Chí Minh, khâm phục dân tộc ta hai lần đánh thắng Pháp và Mỹ. Đó là một sự thật hiển nhiên, dù chống đối bậc nào, có lương tâm lương tri khắc thấy.

Phương chi, ngày nay Tổ quốc đang rộng mở cánh cửa, gác lại quá khứ, hướng đến tương lai.

Chuyện ngày hôm qua đã qua, nay phải bỏ qua để xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Chỉ có những kẻ chống đối hiện hành, chống đối nguy hiểm thì mới phải có thái độ, chứ còn ông Võ Phiến vốn là một nhà văn có tài, do hoàn cảnh lịch sử đẩy đưa mà chống kháng chiến, chống Cộng. Ngay đến như những người chống cộng cực đoan như NCK, PD, mà Tổ quốc còn bỏ qua, tuổi già về lại cố hương là điều vui cuối đời. Mong rằng ông Võ Phiến hiểu cho như thế, để đừng nghe người ngoài mà phiền lòng con cái…

Trong đám đông có một ánh mắt

L.T.S: Chừng mươi năm gần đây, bạn đọc quen Đỗ Bích Thúy với Sau những mùa trăng (tập truyện ngắn - 2001); Những buổi chiều ngang qua cuộc đời (tập truyện ngắn - 2003); Kí ức đôi guốc đỏ (tập truyện ngắn - 2004); Bóng của cây sồi (tiểu thuyết - 2004); Tiếng đàn môi sau bờ rào đá (tập truyện ngắn - 2005); Người đàn bà miền núi (truyện vừa - 2008)… Qua trang văn, ta hình dung Đỗ Bích Thúy khiêm kiêm, tự tin, mạch lạc trong tư duy và mãnh liệt. Hầu hết tác phẩm của chị viết về vùng quê Hà Giang nơi chị sinh ra và lớn lên. Văn như những dòng chảy nhiều ưu tư của ký ức.

Trọn cuộc đời dành cho nhân dân, cho Đảng và cho thơ

LTS: Kỷ niệm 90 năm ngày sinh nhà thơ Tố Hữu (4/10/1920- 4/10/2010) và 1 năm ngày khánh thành nhà tưởng niệm Tố Hữu (4/10/2009- 4/10/2010), gia đình nhà thơ Tố Hữu đã gửi cho Hồn Việt bút tích lưu niệm của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước cùng đông đảo nhân dân đã đến tham quan nhà lưu niệm. Qua những dòng lưu bút này, chúng ta càng thấy giá trị và sức lan tỏa của thơ Tố Hữu cùng đất nước - dân tộc. Hồn Việt cũng trích đăng cảm nhận của nhiều cán bộ cao cấp của Đảng ta viết về Tố Hữu - một người đã dành trọn cuộc đời cho nhân dân, cho Đảng và cho thơ.

Trầu têm cánh phượng

LTS: Vào chừng 20 năm trước, Bão Vũ, một kiến trúc sư gắn nhiều với những công trình có quy mô đồ sộ, hiện đại của thành phố Hải Phòng bỗng rẽ sang viết văn và ngay sau đó, công bố hàng loạt, hàng loạt truyện ngắn tài hoa trên Báo Văn Nghệ và Tạp chí Nhà Văn gây sự chú ý đặc biệt của bạn đọc. Với Mối tình cỏ non; Thung lũng ngàn sương; Người đi chuyến xe taxi cuối ngày; Trương Chi của tôi; Hoa cải đắng… Rồi những năm sau là Hỗn hương; Liễu chương đài; Vua của dải đất hoang; Ván bài tỉ điểm tử... thì anh trở thành gương mặt mới của văn chương với tài hoa về bút pháp, sâu sắc về số phận những trí thức trẻ, thị dân và các vấn đề của đời sống hiện đại.

Tôi viết Chiếc lược ngà

NGUYỄN QUANG SÁNG [1]

Trong môn Văn ở bậc Trung học cơ sở có truyện ngắn Chiếc lược ngà. Ngay từ khi còn là học sinh cấp II ở Hà Nội những năm 1971-1972, cô đã được đọc tập truyện ngắn Chiếc lược ngà. Cô kể rằng, cho đến nay, khi đã hơn ba mươi năm trôi qua, cảm giác thích thú, say mê tập truyện vẫn còn nguyên trong cô. Đặc biệt do nghề nghiệp của bản thân là dạy văn, nên cô lại luôn được sống với tâm trạng năm nào qua sự say mê thích thú của các em học sinh khi học tác phẩm Chiếc lược ngà trong chương trình học của mình. Mỗi năm, mỗi lớp học khác nhau, nhưng các em đều giống nhau ở chỗ muốn biết bối cảnh ra đời của Chiếc lược ngà. Điều này thầy cô khó có thể thoả mãn được sự tò mò chính đáng của các em. Do đó, cô đã tìm đến tôi, và tôi đã kể…