Giáo sư- Viện sĩ Hàn lâm Khoa học CHLB Nga B.L.Riftin: Trách nhiệm và đam mê

Moskva những ngày cuối tháng 8 trời trong vắt, không khí thoảng  hương hoa hồng và táo chín. Nhận lời mời của Viện sĩ B.L.Riftin, tôi tới thăm ông ở nhà riêng trên con phố quen thuộc từ thủa sinh viên mang tên nhà bác học Nga Vavilov.

Cũng như tất cả các khu dân cư ở Moskva, chung cư nơi Riftin ở nằm trên một khu đất cao, được ngăn cách với đường giao thông suốt ngày đêm xe chạy bằng một công viên nhỏ rợp bóng cây xanh. Căn hộ của Riftin hai mặt cửa sổ đều trông ra vườn. Hai vợ chồng viện sĩ ra tận cửa đón tôi. Hai năm sau lần gặp cuối (năm 2010), B. L. Riftin đã thay đổi nhiều vì bệnh tật. Ông bước đi chậm chạp nhờ sự trợ giúp của cây gậy, trên gương mặt gầy guộc chỉ còn lại đôi mắt tinh anh luôn cười.

pic
Giáo sư-Viện sĩ B.L.Riftin

Ông tiếp tôi trong thư viện riêng, một căn phòng khoảng 20m2 sách chất cao tận trần nhà, bàn làm việc ngổn ngang giấy tờ, chiếc đi văng tiếp khách nay trở thành giường nghỉ của viện sĩ. Sau khi sắp xếp chỗ ngồi cho tôi, ông nhẹ nhàng đề nghị: “Nếu có thể, chị cho phép tôi nằm nói chuyện và khoảng mươi phút thì tôi phải nghỉ”. Lúc đầu tôi nghĩ mình chỉ nên “quấy quả” ông khoảng nửa tiếng là cùng. Không ngờ mải chuyện cuộc viếng thăm kéo dài tới hơn hai tiếng với ba lần nghỉ uống trà. Và không chỉ tôi hỏi chuyện, “phỏng vấn ông”. Mà ngược lại ông cũng “phỏng vấn” lại tôi về tình hình nghiên cứu khoa học ở Việt Nam và về công việc của cá nhân tôi.

Trong cuộc trò chuyện, khi nói về bất cứ vấn đề học thuật nào, B.L. Riftin luôn đưa ra những cứ liệu cụ thể và điều làm tôi vô cùng kinh ngạc đó là trí nhớ của ông. Do không đi lại được ông phải nhờ tôi lấy hộ những cuốn sách, tạp chí, thậm chí bản thảo của một bài báo nào đó từ rất lâu và tôi hầu như không mấy khó khăn tìm thấy chúng từ cái mê hồn trận sách của ông bởi những lời chỉ dẫn chính xác, kiểu “cuốn màu xanh lá cây, trên ngăn thứ ba, giá sách thứ hai cạnh cửa sổ…”, hay “tập 16 trong dãy tổng tập tranh dân gian Trung Quốc, vì sách to, nặng nên tôi xếp nó ở ngăn cuối cùng của cái giá to nhất”… Dường như toàn bộ sự nghiệp khoa học của mình ông đã xếp một cách ngăn nắp trong đầu.

Từ những gì ghi lại được trong cuộc trò chuyện, tôi viết ra đây dưới dạng “phỏng vấn” để tập trung vào những điều mình tâm đắc.

*

Đào Tuấn Ảnh: - Thưa giáo sư, điều gì khiến ông trở thành nhà Trung Quốc học? Ông có thuộc diện “con nhà nòi” trong lĩnh vực này?

Viện sĩ B.L.Riftin: - Không, bố mẹ tôi không liên quan tới ngành ngữ văn học, chỉ có chú tôi, Aleksandr Pavlovich - là giáo sư văn học Babilon cổ dạy ở Đại học Tổng hợp Leningrad thời kỳ cố Viện sĩ Alekseev. Ông là nhà khoa học nổi tiếng, nhưng mất sớm.

Tốt nghiệp phổ thông năm 1950 với tấm huân chương, tôi có thể vào học bất cứ ngành nào của trường Đại học Tổng hợp Leningrad khi đó là một trong những trung tâm khoa học lớn của đất nước. Tôi đã chọn học ngữ văn Trung Quốc, lý do ban đầu cũng đơn giản thôi. Sau khi cách mạng Trung Quốc thành công, quan hệ Trung–Xô mở rộng rất cần người biết tiếng và văn hóa Trung Quốc. Cơ hội được sang Trung Quốc trong tầm tay, mà, như chị biết đấy, tuổi trẻ là tuổi bay nhảy và khám phá những chân trời mới. Trung Quốc, một nước phương Đông xa lạ khi đó đã cuốn hút tôi bởi những bí ẩn của nó. Nói như người phương Đông, duyên số đã gắn kết tôi với Trung Quốc kể từ ngày ấy. Đến nay đã 62 năm, cũng không ngắn mấy, chị nhỉ?

* Thì cả đời rồi còn gì! Nghe nói, ông bắt đầu sự nghiệp của mình bằng văn học dân gian Trung Quốc và nổi tiếng là nhà “điền dã học”, “văn bản học”?

- Khởi đầu từ năm thứ nhất đại học. Lúc ấy làm gì có “định hướng nghiên cứu”. Nghe thầy Aleseev giảng thấy văn học Trung Quốc hay quá, những muốn học thật nhanh, thật giỏi tiếng Trung Quốc để còn đọc nguyên bản. Khổ nỗi khi đó chưa có sách giáo khoa dạy tiếng Trung Quốc và từ điển, mà những từ thông dụng trong khóa học chủ yếu là những từ chính trị, cách mạng… Thế nên đến hè tôi xin đi thực tập ở vùng Kirgis và Kazakhstan nơi có các làng người Đungan, một tộc người thiểu số của Trung Quốc.

Tôi xin tiền bố mẹ, ba lô khăn gói lặn lội tới vùng dân cư xa xôi đó. Tôi xin vào làm ở đội xây dựng của nông trang. Nhìn cái mã lòng khòng “bạch diện thư sinh” của tôi các nông trang viên không mấy tin tưởng, họ nói chỉ vài ba ngày chắc chắn tôi sẽ “chuồn” thôi. Nhưng mà tôi “trụ” được. Đương nhiên năng suất lao động của tôi không bằng các bác lực điền, song người dân bắt đầu quý sự chăm chỉ, quyết tâm của mình. Chính vì thế khi tôi ngỏ lời muốn học tiếng Đungan họ nhiệt tình giúp đỡ. Sự nhiệt tình đôi lúc thái quá. Họ áp dụng phương pháp thuần túy dân gian để dạy tôi: chỉ đồ vật bắt tôi phát âm theo. Mỗi ngày tôi phải thuộc mấy chục từ, nếu không thuộc sẽ không được ăn. Tuổi trẻ, làm quần quật cả ngày lại không được ăn nữa thì chỉ có nước chết. Thế là tôi hùng hục làm, hùng hục học, kết quả cuối kỳ nghỉ hè tôi đã có thể giao tiếp bằng tiếng Đungan, được trả lương, mang toàn bộ số tiền bố mẹ cho trả lại cho họ.

* Chắc ông không dừng ở đấy?

- Vâng, tôi còn “lăn lộn” với bà con Đungan hai kỳ nghỉ hè nữa. Sống cùng họ, quan sát sinh hoạt và phong tục tập quán của họ, lần đầu tiên tôi đã ghi chép lại những bài dân ca, truyền thuyết và truyện cổ tích. Năm 1956, 1957 những bài báo nghiên cứu đầu tiên của tôi về dân ca và truyện lịch sử Đungan được đăng trên các tạp chí nghiên cứu ở Moskva.

* Như vậy văn học dân gian đã trở thành hướng đi xuyên suốt sự nghiệp của ông, vậy những cột mốc chủ yếu đánh dấu kết quả nghiên cứu của ông trong lĩnh vực này là gì?

- Sau 6 năm làm việc ở Viện Văn học thế giới mang tên M.Gorki thuộc RAN, năm 1961 tôi đã có được chuyên luận đầu tiên: Truyền thuyết về Vạn lý trường thành và vấn đề thể tài trong văn học dân gian Trung Quốc.

* Nghe nói ông bảo vệ xuất sắc luận án phó tiến sĩ bằng công trình này? Ông có thể nói về những phát hiện chính trong công trình?

- Một trong những nhiệm vụ chính của công trình là khám phá tính trường tồn của cốt truyện dân gian. Trả lời cho vấn đề này chỉ có thể dựa trên tư liệu Trung Quốc, bởi không ở bất cứ một nước nào trên thế giới có thể có một khối lượng chứng tích bằng văn bản từ thời thượng cổ cho tới ngày nay như ở Trung Quốc. Khảo sát một khối lượng lớn tài liệu theo lịch đại, trên cơ sở phân tích truyền thuyết về nàng Mạnh Khương phá trường thành bằng nước mắt khóc chồng, chuyên luận chứng minh khả năng của cốt truyện dân gian tồn tại hàng  nghìn năm không có những thay đổi cơ bản. Mục đích tiếp theo của công trình đó là đưa vào khoa nghiên cứu folklore tổng quan các thể loại đa dạng của văn học dân gian Trung Quốc, sau khi chỉ ra đặc điểm trong việc thể hiện một cốt truyện ở nhiểu thể loại khác nhau.

pic
Một tác phẩm về Trung Quốc của B.L.Riftin

* Vâng, nàng Mạnh Khương - hình tượng người vợ thủy chung -  không chỉ xuất hiện liên tục trong các thể loại văn học khác nhau ở Trung Quốc kéo dài từ thời cổ đại cho đến tận thế kỷ XIX, cốt truyện tương tự còn có ở một số nước khác, trong đó có Việt Nam. Ai tới thăm Thành nhà Hồ của chúng tôi cũng ghé vào một ngôi miếu nhỏ nơi thờ một người vợ, giống như Mạnh Khương, đi tìm chồng - một thư sinh bị bắt đi xây thành; tới nơi nghe tin chồng đã bị chết vì lao lực nàng cũng quyên sinh chết theo chồng.

- Vâng, đó chính là sức sống của cốt truyện dân gian. Về đề tài này suốt những năm 1970 cho tới đầu 1980 tôi đi điền dã ở Mông Cổ đã phát hiện nhiều điều thú vị, trình bày trong các chuyên luận, chẳng hạn như: Những tư liệu mới trong văn học dân gian Mông Cổ năm 1976; Từ những quan sát nghệ thuật kể chuyện của những người kể chuyện rong ở phía Đông Mông Cổ, và loạt bài về những mối quan hệ giữa văn học dân gian Trung Quốc và Mông Cổ, chẳng hạn như Sự hình thành các cốt truyện và hình tượng vay mượn: theo những ghi chép mới từ D. Send - người kể các tích truyện ở Ulan Bator (1984)…

* Như vậy, cũng như bất cứ lĩnh vực nghiên cứu văn học nào, nghiên cứu so sánh là phương pháp không thể thiếu trong ngành văn học dân gian?

- Đương nhiên. Trong trường hợp cụ thể không thể chỉ ra đặc trưng các thể loại văn học dân gian Trung Quốc nếu không so sánh với văn học dân gian các nước láng giềng.

* Theo đánh giá chung, những công trình trên với những tư liệu, thông tin mới và những kết luận quan trọng là những đóng góp không nhỏ vào sự phát triển những luận điểm lý thuyết về các quy luật chung xác định sự hình thành và những con đường phát triển của văn học dân gian và văn học viết trên toàn thế giới. Những công trình này còn cho thấy ông đã không dừng lại ở văn học dân gian. Xin ông cho biết cột mốc đánh dấu hướng nghiên cứu mới, cũng như những phát hiện khoa học của ông trong lĩnh vực nghiên cứu văn học viết Trung Quốc?

- Cột mốc quan trọng nhất đó là chuyên đề Diễn nghĩa lịch sử và truyền thống dân gian Trung Quốc – Tam quốc trong truyền miệng và trên trang sách. Tôi đã bảo vệ luận án tiến sĩ khoa học bằng công trình này vào năm 1970. Đây đồng thời cũng là việc thực hiện ý nguyện của thân phụ tôi. Còn nhớ khi tôi bảo vệ luận án phó tiến sĩ, ông cụ vì bận công việc nên không tới dự được đã gửi cho tôi một bức điện: “Chúc mừng con trai bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ. Con hãy nghỉ ngơi lấy vài ba hôm rồi bắt tay vào viết luận án tiến sĩ”. Tôi đã làm đúng như lời ông cụ dặn (cười).

Trước khi chuyên luận này ra đời (1970) trong ngành Trung Quốc học chưa có ai áp dụng phương pháp tương tự nghiên cứu văn bản sử thi lịch sử và sự tồn tại truyền khẩu các cốt truyện của nó. Việc nghiên cứu tiểu thuyết Tam quốc chí nổi tiếng của La Quán Trung (thế kỷ XIV) chứng minh rằng, đối với loại văn xuôi này trong văn học Trung Quốc thì lịch sử diễn trình cốt truyện dài lâu trước đó trở thành tác nhân tổ chức kết cấu và hình thành nội dung. Khác với sử thi của nhiều dân tộc khác, đặc trưng truyền thống sử thi Trung Quốc đó là quan niệm hợp lý về quá khứ, vì vậy một trong hai cội nguồn của thể loại tiểu thuyết trung đại Trung Quốc, đó là văn bản sử liệu học được thực hiện bởi các sử gia của các triều đại và văn học bình giải. Nguồn gốc thứ hai đó là truyền thống kể chuyện văn xuôi truyền khẩu. Trong công trình, lịch sử cốt truyện của cuốn tiểu thuyết về các nhân vật Tam quốc (thế kỷ III) được chia thành năm giai đoạn và các văn bản thành văn cũng như những tác phẩm dân gian được phân tích kỹ ứng với từng giai đoạn.

* Theo như tôi được biết, trong giới Trung Quốc học, tồn tại một quan niệm khá vững chắc cho rằng, trong văn học Trung Quốc, thậm chí văn học thời cổ đại, không có sử thi. Với phương pháp nghiên cứu nêu trên, phải chăng giáo sư đã đưa ra quan điểm ngược lại?

- Công trình của tôi chứng minh văn xuôi tự sự Trung Quốc là một dạng của sáng tác sử thi thế giới nói chung. Tiền thân của sử thi thành văn Trung Quốc (diễn nghĩa) tôi nhận thấy ở các sáng tác thể “bình thoại” được lưu giữ dưới dạng sách truyện dân gian ở thế kỷ XIII-XIV. Khái niệm “mô típ” được sử dụng trong phân tích văn bản cho phép lần đầu tiên phát hiện trong văn học Trung Quốc những mô típ sử thi điển hình.

* Công trình lớn này, theo như tôi biết, được in ở Trung Quốc năm 1997, còn ở Việt Nam năm 2002. Khi nghiên cứu tính chất phức tạp của mối quan hệ giữa văn học thành văn và văn học dân gian, ông không chỉ dừng lại ở việc phân tích ảnh hưởng của sáng tác dân gian đối với những tác phẩm văn học viết bất hủ như nhiều người đã làm, mà còn đưa ra một hiện tượng còn ít được nghiên cứu trong quá trình nghệ thuật, đó là bước chuyển tiếp từ văn bản tiểu thuyết sang kể chuyện miệng ở những thời kỳ sau. Đây rõ ràng là phương pháp mới, một đóng góp đáng kể cho nghiên cứu văn học so sánh. Để làm được việc này ông đã có bước chuẩn bị như thế nào? Và phương pháp nghiên cứu này còn được áp dụng cho tác phẩm văn học Trung Quốc nào, ngoài Tam quốc chí?

- Để có thể nói về những nguyên tắc của nghệ thuật kể chuyện truyền miệng, về các thủ pháp diễn tả cảm xúc, cách thức trình bày câu chuyện, vai trò những quãng nghỉ, quan hệ tương tác giữa người kể chuyện và thính giả… tôi không chỉ tìm thông tin ở sách vở, tài liệu, mà còn dành một lượng thời gian đáng kể tìm tới những người kể chuyện rong ở Mông Cổ, Trung Á, và nhiều vùng của Trung Quốc, Đài Loan. Quan sát, chuyện trò, ghi âm, ghi chép, chụp ảnh… là công việc thường xuyên trong nhiều năm của tôi trong các cuộc gặp gỡ và xem các nghệ nhân kể chuyện dân gian “trình diễn”. Tiếp tục phương pháp nghiên cứu của công trình này, trên cơ sở những tài liệu, ghi chép trong suốt những năm1970-1980 tôi đã công bố một số bài viết, chẳng hạn như Nhân vật Quan Công trong Tam quốc chí trong quan niệm của người Trung Quốc và các dân tộc khác vùng Tây Nam Trung Quốc (1997, 2000), một bài viết được thừa nhận có đóng góp đáng kể cho nghiên cứu so sánh văn học dân gian.  

Phương pháp pháp so sánh văn bản viết và kể chuyện truyền miệng còn được áp dụng trong tiểu thuyết lớn Kim Bình Mai. Công trình này, khi phân tích những nét mới của tiểu thuyết Trung Quốc thế kỷ XVI, đã chỉ ra sự ảnh hưởng của phong cách tự sự của cuốn tiểu thuyết đối với nghệ thuật kể chuyện truyền miệng (kết cấu các chương, những đoạn thơ lồng ghép vào văn bản văn xuôi, các hình thức kể đặc trưng…).

* Tiếp tục phương pháp nghiên cứu chủ đạo nêu trên, ông là người đầu tiên trong giới Trung Quốc học nghiên cứu một vấn đề khá lý thú, đó là đặc tính miêu tả chân dung trong văn học Trung Quốc. Ông có thể nói đôi nét về vấn đề này?

- Trên cơ sở thu thập một khối lượng tư liệu lớn từ những ghi chép trong sách cổ sử, triết học, sử dụng những sáng tác được coi là “ngoại thư” trong đó có thể tìm thấy khá nhiều những chi tiết mô tả ngoại hình của các nhân vật thần thoại, tôi nhận thấy nguyên tắc chủ đạo trong văn học dân gian Trung Quốc đó là thủ pháp tái hiện chân dung bên ngoài của nhân vật một cách chi tiết và hợp lý. Tính tạo hình này bổ sung cho việc phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn học viết. Ở đây tôi còn nghiên cứu vấn đề về quan niệm của từng triết thuyết - Khổng giáo, Đạo giáo, Phật giáo đối với mối liên hệ giữa phẩm chất bên trong với sự tạo hình bên ngoài của nhân vật, mối quan hệ giữa chân dung nhân vật với khoa tướng pháp truyền thống. Tôi nhận ra rằng các quy luật của thể loại quy định tính chất miêu tả hình dáng bên ngoài không chỉ của các nhân vật của văn học viết, mà còn của các nhân vật thần thoại.

pic
GS B.L.Riftin trò chuyện với PGS-TS Đào Tuấn Ảnh

* Có lẽ bắt đầu từ đây ông mở rộng hướng nghiên cứu của mình, trở thành nhà thần thoại học với những công trình cơ bản được cả thế giới biết đến và nhà sưu tập tranh dân gian Trung Quốc nổi tiếng?

- Về việc sưu tập tranh dân gian Trung Quốc có thể nói thầy tôi, Viện sĩ Aleseev, đã truyền đam mê cho tôi và những gì tôi làm được là sự thực hiện di nguyện của ông, kế tục công việc dở dang của ông.

Trong ba năm, từ 1906 tới 1909, Viện sĩ Aleseev ở Bắc Kinh đã thu thập được hơn 3.000 tranh dân gian. Ông dự định làm một album lớn với những bài nghiên cứu kèm theo và sẽ phát triển thành luận án phó tiến sĩ. Dự định không thành, không nhà xuất bản nào nhận in cho ông và thế là Aleseev bẻ ngoặt tay lái từ văn học dân gian sang văn học cổ điển. Nhưng tình yêu đầu tiên ông vẫn giữ.

* Với tư cách một nhà văn bản học, một người biên tập đầy trách nhiệm và nhiệt tình, giáo sư có những đóng góp to lớn trong việc khôi phục, truyền bá di sản của Viện sĩ Aleseev. Những công trình trong suốt cuộc đời nghiên cứu của ông cho thấy tính kế thừa giữa các thế hệ nghiên cứu khoa học ở Nga. Vậy tính kế thừa đó hiện vẫn đang được duy trì trong ngành Trung Quốc học ở Nga?

- Không nói thì chị cũng biết, cuộc khủng hoảng chính trị xã hội ở nước chúng tôi kéo theo khủng hoảng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Hiện có rất ít người theo đuổi các ngành khoa học xã hội, trong đó có nghiên cứu văn học Trung Quốc. Tính kế thừa mà chị nói tới chắc là bị ngắt quãng, chúng ta hy vọng nó sẽ được phục hồi trong tương lai.

* Xin phép giáo sư được hỏi ông câu cuối cùng và xin ông đừng cười vì nó có vẻ hơi bị “ấu trĩ”. Với hơn 200 công trình, trong đó có nhiều công trình viết bằng tiếng Trung Quốc, có thể nói việc làm của ông bằng của cả một viện nghiên cứu trong nhiều năm, vậy bí quyết gì khiến ông có thể thực hiện được một khối lượng công việc lớn như vậy?

- Biết nói thế nào nhỉ, có lẽ do trách nhiệm và đam mê thôi.

* Xin cám ơn giáo sư đã dành thời gian đàm đạo, xin cầu chúc cho ông mọi sự tốt lành.

*

Tạm biệt giáo sư Riftin, tôi nắm chặt bàn tay gầy guộc của ông hứa rằng mùa thu sang năm sẽ sang thăm ông. Đôi mắt to, sáng cùng màu với bầu trời bên ngoài cửa sổ nhìn tôi cười cười, ông nhỏ nhẹ: được thế tôi sẽ rất mừng. 

                                                   Moskva, cuối tháng 8/2012

Chia buồn

Ngày 3/10/2012, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học CHLB Nga (RAN) B.L.Riftin đã từ trần sau một thời gian ốm nặng, thọ 80 tuổi.

Viện sĩ Riftin là một nhà Đông phương học xuất sắc. Với hơn 200 công trình khoa học, ông đã có đóng góp lớn lao cho ngành Đông phương học Nga và thế giới. Ông là hiện thân của tài năng, trí tuệ, lòng nhân hậu, tính chân thật, tình yêu lao động, niềm đam mê và tình yêu khoa học không vụ lợi. Ông là người bạn lớn của Việt Nam và nền văn học Việt Nam.

Ông vĩnh viễn ra đi để lại cho chúng ta niềm thương tiếc vô hạn.

Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, tạp chí Hồn Việt xin gửi tới Viện Hàn lâm Khoa học CHLB Nga, Viện Văn học thế giới Gorki cùng gia đình Viện sĩ B.L.Riftin lời chia buồn sâu sắc.