Gặp Trung tướng Lê Nam Phong - “Đại đội trưởng đầu trọc”

Tôi được gặp lại người Hiệu trưởng của mình tại căn nhà của ông ở quận Thủ Đức, TP.Hồ Chí Minh. Trung tướng Lê Nam Phong nay đã gần 90 tuổi, nhưng trông ông vẫn hồng hào, minh mẫn, sáng suốt. Đặc biệt, chất giọng và đôi mắt rực lửa của vị tướng vẫn uy nghiêm như xưa. Những ký ức về chiến tranh trong ông vẫn đầy ắp và luôn hiện về cùng với đồng đội của mình. Ông cắt nghĩa nhiều điều về chiến tranh, nhất là trận Điện Biên Phủ, rất tường tận và hấp dẫn.

Tôi biết Trung tướng Lê Nam Phong khi ông là Hiệu trưởng Trường sĩ quan Lục quân 2, nay là Trường Đại học Nguyễn Huệ. Lúc ấy, thỉnh thoảng ông lại xuống đơn vị cơ sở cấp tiểu đoàn của chúng tôi trò chuyện với học viên đào tạo sĩ quan. Đặc biệt, những khi đơn vị tổ chức kể chuyện chiến đấu, bao giờ ông cũng dự và phát biểu cuối cùng. Chúng tôi thật sự thích thú được nghe ông kể chuyện chiến đấu về các trận đánh cụ thể. Ông diễn đạt nôm na, cắt nghĩa về chiến thuật, kỹ thuật khá hay. Có thể nói rằng nhân chứng lịch sử Điện Biên Phủ càng ngày càng ít, những người còn lại thì sức khỏe cũng yếu dần do tuổi tác, độ minh mẫn kém đi. Tuy nhiên, Trung tướng Lê Nam Phong là người trực tiếp chỉ huy các trận đánh với cương vị là “Đại đội trưởng đầu trọc”, do độ lùi của thời gian cách nhìn của ông lại khách quan và trải nghiệm hơn. Tôi nhớ rõ trong buổi tối hôm đó, tại bãi sân rất rộng, cả tiểu đoàn chúng tôi đang nghe kể chuyện chiến đấu. Kể chuyện chiến đấu là một nội dung quan trọng trong quá trình truyền thụ tri thức, kinh nghiệm cho học viên đào tạo sĩ quan. Có một điều đã xảy ra tại buổi kể chuyện ngày đó, một cán bộ cao cấp có học hàm, học vị đã trình bày diễn biến của quân ta tại mặt trận Điện Biên Phủ. Ông này đã nói thao thao bất tuyệt trong đó có một chi tiết là quân ta tổ chức diễn văn công cho bộ đội xem ngay trên chiến trường. Nghe đến đấy tôi thấy mặt Trung tướng Lê Nam Phong đỏ lên, mắt giật giật. Khi kết luận buổi nói chuyện, ông khẳng định: “Ở Điện Biên Phủ, chiến trường dữ dội làm gì có diễn văn công!”.

Chiến trường đó, mưa, bụi, tiếng nổ đạn pháo, người chết… ác liệt dữ dội… làm sao mà diễn văn công được. Diễn văn công chỉ ở sau khu vực tập kết. Điều đó tôi ngẫm lại mới thấy đúng. Thực tiễn quan trọng lắm, chỉ có qua chiến đấu như ông thì mới hiểu thực tế sâu sắc về sự ác liệt của chiến tranh đến mức nào. Đại đội 225 do ông phụ trách thuộc tiểu đoàn 322, trung đoàn 88, đại đoàn 308, còn mang tên “Đại đội đầu trọc”. Ông kể, đơn vị ông khi đó liên tục được bổ sung quân số, súng đạn, trang bị mà vẫn thiếu, nhiều chiến sĩ mới ông chưa kịp nhớ tên đã vĩnh viễn nằm xuống trên mảnh đất này. Điện Biên Phủ rất hiếm nước. Mưa mới có nước; vì thiếu nước, sinh hoạt của bộ đội càng trở nên vô cùng khó khăn. Cực khổ, thiếu thốn thì không sao tả xiết. Suốt ngày dầm mưa để đào hào, đánh lấn. Nhìn anh em bùn đất từ đầu đến chân, ông nảy ra sáng kiến cạo trọc đầu, vừa thể hiện quyết tâm chiến đấu vừa cho mát, cho tiện và lúc đánh giáp lá cà không bị bọn lính Pháp cao hơn túm tóc. Sáng kiến này được cả đại đội đồng tình. Thế là người nọ cắt tóc, cạo đầu cho người kia, chả mấy chốc cả đơn vị đầu trọc lốc. Từ đó, đại đội 225 có cái tên “Đại đội đầu trọc” và ông mang biệt danh “Đại đội trưởng đầu trọc”. Về sau này khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp gặp lại ông, vẫn gọi ông là “Đại đội trưởng đầu trọc”.

Để cắt sân bay Mường Thanh, phải diệt đồn 311A (tức điểm cao 311A) ở phía tây, điểm cao này có hào sâu và dây thép gai chằng chịt bao quanh. Trong cuộc họp bàn với cán bộ chỉ huy đại đoàn 308, trung đoàn 88 và đại đội 225 mà ông được dự để chuẩn bị cho cuộc tiến công điểm cao 311A, chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã góp ý phải đào hầm ngầm dưới đất (còn gọi là hầm dũi) để tiến sát đồn địch. Đại tướng nhấn mạnh: nếu bộ đội chạy trên bãi trống thì thương vong sẽ rất lớn. Ông đã thấy đó là một sáng kiến lớn và tự nguyện chấp hành. Bộ đội khẩn trương đào hào đến gần điểm cao 311A. Ngay sau khi tới sát 311A ông cho bộ đội đưa bộc phá lên đánh. Bộc phá vừa nổ, toàn thể đơn vị xung phong từ hầm không chạy trên mặt đất. Sau chiến thắng Him Lam đêm 14 rạng sáng ngày 15-3-1954, trung đoàn 88 vinh dự nhận nhiệm vụ đánh trận đầu tiên của đại đoàn 308 nhằm tiêu diệt cụm cứ điểm Độc Lập, với sự phối hợp của trung đoàn 165 - đại đoàn 312 dưới sự chi viện hỏa lực của hai đại đội pháo 105 ly thuộc đại đoàn 351. Đồi Độc Lập dài 700m, rộng 150m ở phía bắc cách trung tâm Mường Thanh 4km, có hệ thống lô cốt và chiến hào vững chắc, hàng rào dây thép gai bao bọc trên 100m, do tiểu đoàn 5, trung đoàn 7 bộ binh ở Mường Thanh - Hồng Cúm chi viện mạnh. Có thể xem đây là cánh cửa thép phía bắc của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

15 giờ ngày 14-3-1954, ta đã hoàn tất việc đào hào để tiến quân, điểm gần nhất đã tới cách địch 150m. Tiểu đoàn 29 được giao nhiệm vụ làm mũi đột kích chủ yếu của trung đoàn 88, có tiểu đoàn 322 làm đội dự bị. Trung tướng Lê Nam Phong hồi tưởng:
- Đại đội Tô Văn là mũi nhọn của tiểu đoàn 29. Đại đội 225, do tôi chỉ huy, là đội xung kích - bộc phá của tiểu đoàn 322 đánh hướng thứ yếu. 17 giờ, lựu pháo 105 của ta bắn vào khu đồi Độc Lập, lập tức địch ở Mường Thanh bắn trả lại. Sự việc này tiếp diễn đến nửa đêm và lựu pháo của ta phải bắn kéo dài để chờ sơn pháo 75 ly và cối 120 ly đến. Do vậy, bộ đội ta phải chịu đựng nhiều đợt pháo 105 ly và 155 ly của địch dội xuống trận địa trong nhiều giờ liền. Trời mưa như trút nước, hào giao thông ngập nước, bùn quánh lại, di chuyển rất khó khăn. Sau khi sơn pháo 75 ly và cối 120 ly chiếm lĩnh xong trận địa, 3 giờ 15 phút sáng ngày 15 tháng 3, lệnh của Chỉ huy trưởng truyền xuống: Chuẩn bị! Lựu pháo sẽ bắn dồn dập thêm một loạt nữa. Hỏa lực các đơn vị phải phối hợp. Sau 15 phút, xung kích tranh thủ “mở cửa”. Đúng 3 giờ 30 phút, nổ súng!

Và đúng 3 giờ 30 phút, từ phía đông pháo 105 ly đã gầm lên, trút bão lửa xuống đồi Độc Lập. Ở tuyến hỏa lực bắn trực tiếp, cách đồn địch 100m, 10 khẩu đội Bazoka đồng loạt phóng đạn lõm vào các hỏa điểm, 9 khẩu ĐKZ cùng 6 khẩu đại liên Mắcxim cùng bắn thẳng vào cứ điểm…

Đến nay đã 60 năm trôi qua, đại đội 225 - tiểu đoàn 322 của trung đoàn 88 anh hùng chỉ còn lại 4 người: Lê Nam Phong, đại đội trưởng; Phạm Đức, liên lạc; Trần Tường, chiến sĩ; Trần Nam, chiến sĩ.

Ông nhớ lại:
- Đúng lúc tôi đang kiểm tra lại vị trí xuất phát xung phong và động viên chiến sĩ chuẩn bị tinh thần cho một trận đánh mang tính quyết định mở màn chiến dịch, thì trung đoàn trưởng điện xuống hỏi: “Đại đội đã sẵn sàng chưa?”. Tôi trả lời: “Tất cả đã sẵn sàng xuất kích”. Tôi vừa nói xong thì pháo binh ta dội lửa xuống đồn giặc. Trời đất rung chuyển. Cứ điểm địch trên đồi Độc Lập mù mịt khói lửa. Tôi dẫn đầu đại đội xông lên, sau khi đại đội 211 bộc phá dọn đường qua bãi mìn và kẽm gai, đánh cùng với đơn vị đồng chí Nguyễn Ngọc Doãn, trung đoàn 165 - đại đoàn 312. Quân địch dựa vào lô cốt chống trả quyết liệt. Đại đội chủ công của trung đoàn 165 đang quần nhau quyết liệt với chúng. Chúng tôi đã phối hợp chặt chẽ với trung đoàn 165 đánh tiêu diệt sở chỉ huy và tiểu đoàn Âu - Phi. Đến 6 giờ 30 phút ngày 15-3-1954, đại đoàn 308 và đại đoàn 312 đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm Độc Lập. Đại đội trưởng đại đội 213 Nguyễn Phạm dùng súng ngắn tiêu diệt giặc. Sau khi diệt được 3 tên địch, anh bị thương nặng và đã trút hơi thở cuối cùng ngay tại chiến trường khói lửa.

Trung tướng Lê Nam Phong là người rất thương cấp dưới, đặc biệt lúc ông làm Hiệu trưởng Trường sĩ quan Lục quân 2. Thời kỳ ấy đời sống cán bộ còn nhiều khó khăn, nhiều anh em cán bộ giảng viên có vợ con từ miền Bắc, miền Trung vào Nam theo chồng không có việc làm, ông chủ trương cấp đất, nhận các chị vào làm việc tại đơn vị.
Từ lúc đó ông đã trăn trở việc quân đội tương lai cần phải tiến lên chính quy hiện đại, ông đã chủ động cử đội ngũ cán bộ giảng viên đi đào tạo tại các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội. Vì thế đội ngũ cán bộ nhà trường sau này đều có trình độ sau đại học và càng ngày càng phát triển. Trong cuộc đời của ông có những quyết đoán quan trọng để giành thắng lợi, cũng có những quyết đoán rất hay theo lương tâm, tình cảm của mình nếu điều đó là đúng với nghĩa của một người lính trận ông có thể làm được.

Trung tướng Lê Nam Phong là người chỉ huy từng trải nhưng cũng giàu cảm xúc, luôn yêu quý các văn nghệ sĩ, nhất là các đoàn văn công trong quân đội. Ông thường hay tổ chức các giải phong trào văn hóa văn nghệ tại đơn vị, tổ chức các cuộc thi đấu giành cho tuổi trẻ nhất là học viên đào tạo sĩ quan mà ông quan tâm.
Từ lâu cán bộ chiến sĩ sư đoàn 9 và sư đoàn 7 cũng đã tặng ông mấy biệt danh mà nhiều người còn nhắc tới ngày nay: “Năm bình toong”, theo ông giải thích là vì “đi đánh trận hồi đó tôi thường mang theo bên mình bi đông rượu đế, chiến sĩ cần vụ cũng hăng hái mang theo rượu cho tôi”; “Năm Hỏa Lực”, là vì “đi đánh trận, khi công đồn diệt giặc trên chiến trường, tôi luôn quyết đoán, khẩn trương và táo bạo, buộc quân sĩ phải nhất mực tuân thủ để hành động”.

Có thể nói cuộc đời trận mạc của Trung tướng Lê Nam Phong luôn là một bài học sâu sắc cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau. Người “Đại đội trưởng đầu trọc” nay đã gần 90 tuổi thế mà ông vẫn minh mẫn, trí tuệ, hóm hỉnh và rất vui khi chuẩn bị cho kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ.