GS TRẦN THANH ĐẠM*: "Súc tích nội lực dân tộc để đối mặt với những thử thách mới…"

- P.V: Chúng tôi đang viết “Lời nói đầu” cho bộ sách 100 năm văn học Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh (1900-2000). Theo GS, nên nêu những vấn đề cốt lõi gì về hoàn cảnh lịch sử, về nội dung và hình thức văn học giai đoạn đó? Chúng tôi chia 100 năm ấy làm 3 giai đoạn: 1900-1945; 1945-1975; 1975-2000; tương ứng với 3 giai đoạn văn học – lịch sử ấy, cần nêu những đặc trưng gì của mỗi một giai đoạn? Cũng như cái gì làm nên tính thống nhất của 3 giai đoạn ấy, cống hiến của nó cho văn học toàn quốc?

- G.S Trần Thanh Đạm: Bác Hồ nói “Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, thịt của Việt Nam, sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi”.

Theo tinh thần đó, lịch sử văn học cũng như lịch sử của TPHCM nằm trong bối cảnh chung của lịch sử Nam Bộ thế kỷ XX. Đó là thế kỷ mở đầu của thời kỳ hiện đại trong lịch sử cũng như trong văn học Việt Nam. Thế kỷ XIX khép lại thời kỳ Trung đại của lịch sử và thời kỳ Cổ điển của văn học. Sang thế kỷ XX, lịch sử cũng như văn học Việt Nam bước vào thời kỳ mới hẳn so với các thế kỷ trước đó, dù vẫn kế thừa những truyền thống của quá khứ. Đó là thời kỳ Việt Nam chuyển sang hình thái kinh tế xã hội mới thuộc phạm trù tư bản chủ nghĩa, ly khai với hình thái kinh tế xã hội phong kiến của thế kỷ XIX trở về trước. Dĩ nhiên hình thái này là của chủ nghĩa thực dân, là hình thái kinh tế thực dân nửa phong kiến, cũng là một dạng bản của hình thái kinh tế xã hội tư bản. Do đó vào thế kỷ XX, Việt Nam bắt đầu sự chuyển biến từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng, tức từ kinh tế cho đến chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng. Chế độ thuộc địa đó kéo dài gần nửa thế kỷ cho đến 1945, và còn tiếp diễn cho đến hết thế kỷ, với những tàn dư của nó.

Đó là sự chuyển biến thứ nhất. Cùng với sự thay đổi này là việc Việt Nam gia nhập vào bối cảnh giao lưu quốc tế. Thông qua chế độ thuộc địa của Pháp mà Việt Nam có mối quan hệ với toàn thế giới, hay nói như ngôn ngữ bây giờ là hội nhập toàn cầu, quan hệ Đông Tây. Đó là điều mà thế kỷ XIX trở về trước chưa có.

Thứ ba là cuộc đấu tranh cứu nước của dân tộc Việt Nam từ thế kỷ XIX sang thế kỷ XX cũng có chuyển biến mới rất quan trọng: đó là tính cách mạng và tính duy tân. Nói cách khác, từ cuộc kháng chiến chống ngoại xâm cuối thế kỷ XIX, sang thế kỷ XX, Việt Nam mới tiến hành cuộc cách mạng mang tính dân tộc và dân chủ, điều này cũng chứng tỏ mối quan hệ quốc tế của Việt Nam. Từ những cuộc vận động dân tộc và dân chủ theo đường lối cách mạng tư sản đến theo đường lối cách mạng vô sản, đến các cuộc kháng chiến và đổi mới, đều chứng minh Việt Nam có những mối quan hệ quốc tế của mình, điều mà trước kia chưa có.

Ba nhân tố trên làm thế kỷ XX của Việt Nam là thế kỷ hiện đại, và văn học Việt Nam thế kỷ XX là văn học hiện đại.

Lịch sử văn học Nam Bộ và TPHCM đi đầu trong sự chuyển biến đó. Các chuyển biến trong lịch sử và văn học đều bắt đầu từ phía nam để lan tỏa ra khắp toàn quốc. Sau cuộc kháng chiến và Phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX khởi đầu từ Nam Bộ, thì các cuộc vận động đấu tranh cứu nước trong thế kỷ XX hầu hết đều xuất phát từ mảnh đất phương nam, từ Nam Bộ, từ Sài Gòn. Đặc điểm lịch sử đó của thế kỷ XX được phản ánh vào trong sự phát triển của văn học. Nghĩa là văn học Việt Nam thế kỷ XX chuyển sang thời hiện đại với vai trò đi trước của văn học Nam Bộ, văn học Sài Gòn.

Như vậy, nhìn vào cả thế kỷ có thể thấy ba đặc điểm trên đều xuyên suốt từ đầu đến cuối. Lịch sử thế kỷ XX của Việt Nam vẫn tiếp tục là thế kỷ dựng nước và giữ nước, dưới hình thái cứu nước trước, dựng nước sau, theo tinh thần tư tưởng Hồ Chí Minh: Không có gì quý hơn độc lập tự do. Theo tôi đó là đặc trưng cơ bản nhất, cốt lõi nhất của bối cảnh lịch sử làm nền cho sự phát triển của văn học thế kỷ XX, trong đó có văn học của Nam Bộ và Sài Gòn.

Bối cảnh lịch sử đó tạo ra một chuyển biến mới của văn học: mới về chất so với các thế kỷ trước, chuyển biến cả về nội dung lẫn hình thức. Theo tôi, xuyên suốt thế kỷ XX, về nội dung thì đó là một nền văn học dân tộc và hiện đại, tính chất dân tộc của văn học thế kỷ XX càng ngày càng có tính chất của nền văn học yêu nước và cách mạng. Về phương diện hình thức, đó là nền văn học ngày càng có tính chất hiện đại về mặt ngôn ngữ, tức sử dụng chữ Quốc ngữ và vận dụng các loại hình, các thể tài của văn học hiện đại, có xu hướng hòa nhập với thế giới.

Những người soạn sách dự định chia 100 năm lịch sử văn học thế kỷ XX thành 3 giai đoạn (1900-1945, 1945-1975 và 1975-2000). Sự phân chia đó là đúng đắn, vì có sự tương hợp, tương ứng giữa phát triển lịch sử và phát triển văn học. Tuy nhiên theo tôi, có thể chia thành 2 thời kỳ và 4 giai đoạn: thời kỳ thứ nhất là lịch sử và văn học Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám gồm 2 giai đoạn 1900-1930 và 1930-1945; thời kỳ sau là lịch sử văn học Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám (1945-1975, 1975-2000). Sự khác nhau giữa các giai đoạn đó cũng dễ thấy, từ sự khác nhau và tiến lên của lịch sử đến sự khác nhau và tiến lên của văn học. Tính thống nhất của 2 thời kỳ và 4 giai đoạn đó là sự nhất quán của sự nghiệp cứu nước đi đến dựng nước của dân tộc. Trong thời kỳ thứ nhất thì có 2 giai đoạn là trước và sau sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong thời kỳ thứ hai có hai giai đoạn trước và sau cuộc chiến tranh cứu nước chống Pháp và chống Mỹ.

Đặc trưng của văn học Sài Gòn và Nam Bộ là tính chất tiên phong, tính chất “đi trước về sau” đối với toàn quốc. Chúng gắn liền như máu thịt với lịch sử và văn học toàn quốc. Xuân Diệu có câu thơ: “Tổ quốc ta như một con tàu/ Mũi thuyền ta đó Mũi Cà Mau”. Một số nhà thơ khác so sánh Việt Nam với hình tia chớp, hình mũi giáo. Nói chung về mặt địa lý, về mặt lịch sử, về mặt tinh thần thì miền Nam, Nam Bộ, Sài Gòn luôn ở phía trước. Nếu tìm một tính chất chung cho văn học Sài Gòn -TPHCM thì có lẽ đó chính là tính chất tiên phong.

- P.V: Nói về “sứ mệnh hai mặt” của chủ nghĩa thực dân, nói về thực dân khai thác thực dân khai hóa, ứng dựng nó vào văn học thời kỳ đầu; ta thấy có sự đổi mới so với văn học truyền thống Việt Nam, ta nên đánh giá cống hiến và giới hạn của nó như thế nào?

- G.S Trần Thanh Đạm: Câu hỏi này đề cập vấn đề “sứ mệnh hai mặt” của chủ nghĩa thực dân. Tư tưởng này là do K. Marx đề ra trong bài báo nổi tiếng Những hậu quả của nền thống trị Anh ở Ấn Độ. Đại khái, Marx cho rằng nền thống trị của chủ nghĩa thực dân Anh trên đất nước Ấn Độ có sứ mệnh hai mặt (une double mission). Một sứ mệnh là phá hoại – phá bỏ kinh tế truyền thống của Ấn Độ trong quá trình khai thác trục lợi đối với thuộc địa rộng lớn đó. Mặt đó là mặt chính. Nhưng bên cạnh mặt chính đó có mặt phụ: nền thực dân Anh cũng đồng thời xây dựng những cơ sở của xã hội và kinh tế kiểu phương Tây ở Ấn Độ. Marx cho rằng chỉ khi nào “các giai cấp thống trị ở bản thân nước Anh bị giai cấp vô sản công nghiệp lật đổ, hoặc bản thân người Ấn Độ đủ mạnh để vứt bỏ vĩnh viễn cái ách của người Anh”, thì những thay đổi của Ấn Độ mới đem lại lợi ích cho nhân dân Ấn Độ. Tư tưởng đó của Marx về Ấn Độ là một quan điểm đối với chủ nghĩa thực dân nói chung, và hoàn toàn có thể thích hợp đối với trường hợp chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam, mặc dù hai chủ nghĩa thực dân này có rất nhiều điểm khác nhau, cũng như hai xứ thuộc địa này cũng rất khác nhau.

Ách của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam trước hết là có tính chất phá hoại, mưu cầu những lợi ích tham tàn của thực dân Pháp. Sau khi chiếm Việt Nam cũng như toàn Đông Dương, Pháp đã tiến hành hai cuộc khai thác thuộc địa. Khai thác thuộc địa là mục tiêu của chủ nghĩa thực dân. Hai cuộc khai thác đó đem lại những thay đổi cho xã hội Việt Nam, như chúng ta đã biết, từ một xã hội thuần phong kiến, thuần nông nghiệp, chuyển sang xã hội thuộc địa nửa phong kiến, vẫn duy trì những quan hệ kinh tế xã hội phong kiến, nhưng đã có thêm những yếu tố của sức sản xuất và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dưới dạng của chủ nghĩa thực dân. Và chính sự khai thác này làm cho xã hội Việt Nam, đất nước Việt Nam, dù một cách rất chậm chạp, nhưng cũng đã chuyển sang hình thái mới hiện đại, tức là hiện đại hóa đất nước Việt Nam, bắt đầu từ hạ tầng cơ sở rồi đến thượng tầng kiến trúc, trong đó có thượng tầng ý thức và văn hóa, văn học. Nói như trong câu hỏi, là chủ nghĩa thực dân khai thác chủ nghĩa thực dân khai hóa, thì điều đó là có thực. Tất nhiên khai hóa là để khai thác, những gì có tính chất hiện đại và tiến bộ mà thực dân Pháp làm được ở Việt Nam là để khai thác, nhưng cũng có những phản tác dụng ngoại ý là góp phần thúc đẩy sự phát triển tương đối của công nghiệp, làm nảy sinh giai cấp tư sản bản xứ và giai cấp công nhân, làm xuất hiện các trung tâm công nghiệp tức các thành phố, làm cho nông nghiệp ít nhiều có tính chất hàng hóa, v.v… Đó là sứ mệnh hai mặt của thực dân theo quan điểm của Marx. Riêng đối với Việt Nam, điều này còn có thêm tác dụng lớn nữa: đó là bản sắc bản lĩnh của Việt Nam. Trong lịch sử, Việt Nam đã từng bị Trung Hoa đô hộ hơn một ngàn năm. Nhưng trong một ngàn năm đó Trung Hoa không tiêu diệt, không đồng hóa được Việt Nam, mà trái lại Việt Nam lại đồng hóa được nhiều giá trị tích cực của văn minh và văn hóa Trung Hoa để cuối cùng lật đổ được ách thống trị của Trung Hoa, trở thành một quốc gia tự chủ. Trong thế kỷ XX, Việt Nam cũng lặp lại chiến lược đó, tương kế tựu kế, lấy “gậy ông đập lưng ông”, khai thác những mặt tích cực của văn minh, văn hóa nước Pháp tư bản, kể cả văn chương, biến những giá trị thực dân thành những giá trị dân tộc để súc tích nội lực của dân tộc mình, lúc có thời cơ thì lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, thực hiện giải phóng dân tộc. Điều này không những các nhà cách mạng và nhà yêu nước Việt Nam dần dần giác ngộ và vận dụng thành công, mà ngay cả những kẻ thực dân trong quá trình thống trị ở Việt Nam cũng ít nhiều nhận ra. Các nhà cai trị của Pháp như Paul Doumer hay Albert Sarraut hay Pierre Pasquier... và nhiều trí thức học giả Pháp đều nhận thấy và dự cảm có ngày người Việt Nam sẽ lật đổ ách thống trị của người Pháp. Điều này họ cảm thấy khi tiếp xúc với nền văn hóa của Việt Nam. Tất nhiên chúng ta ngày nay, nếu là người Marxist thì càng phải nhận thức và vận dụng quan niệm này của Marx. Thực tế lịch sử Việt Nam và văn học Việt Nam thế kỷ XX đã chứng tỏ điều đó. Đó cũng là cơ sở lý luận và phương pháp để phân tích, đánh giá sự phát triển của văn hóa, văn học Việt Nam trong thế kỷ XX dưới thời kỳ thực dân, cũng như sau đó, trong thời kỳ chiến tranh chống xâm lược và xây dựng hòa bình. Cho nên nghiên cứu và tiếp thu di sản văn học Việt Nam trong thế kỷ XX, chúng ta nên quán triệt quan điểm “sứ mệnh hai mặt” này của Marx thì sẽ thấy được nền văn học ta, mà trước hết là văn học Nam Bộ, văn học Sài Gòn dưới ánh sáng đó, và tránh được những cực đoan quá khích như khi cho rằng mọi giá trị văn hóa văn học dưới chế độ thực dân thuộc địa đều là của thực dân đáng vứt bỏ, mà cần thấy rằng đại bộ phận giá trị văn hóa, văn học thời đó chính là thể hiện lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, sức phản kháng cũng như sự tự khẳng định của Việt Nam đối với ngoại xâm. Điều này đến cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI, khi nhìn lại toàn bộ thế kỷ đã qua, thì chúng ta càng thấy rõ.

Cho nên quan niệm này không những đúng khi phân tích văn học trước Cách mạng Tháng Tám, mà cả văn học sau Cách mạng Tháng Tám, nhất là văn học miền Nam, văn học Sài Gòn trong thời kỳ chia cắt, và ngay cả văn học Việt Nam thời kháng chiến, thời hậu chiến cũng như thời đổi mới.

Đó là một trường hợp vận dụng triết học Marx vào nhận thức về lịch sử dân tộc và văn học trong thế kỷ XX.

- P.V: Sự lãnh đạo của Đảng cần phát huy như thế nào trong giai đoạn hiện nay, để TPHCM xứng đáng là một trung tâm văn học – văn hóa lớn? 100 năm văn học này là một di sản lớn, với những tên tuổi lớn chưa được tôn vinh, phát huy đúng mức để xây dựng một nền văn hóa cách mạng, theo lý tưởng của chúng ta, theo Nghị quyết 9 vừa ra. Công tác lý luận – phê bình, kế thừa và phê phán, cả trong lẫn ngoài… là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong tình hình các giá trị đang bị đảo lộn trước sự xâm nhập, phân hóa của nhiều tác nhân kinh tế thị trường, sự chỉ đạo, người xem, người sáng tạo…

- GS Trần Thanh Đạm: Câu trả lời thứ hai có thể vận dụng cho câu hỏi này. Thế kỷ XX đi qua rồi, chúng ta có thể nhìn lại cả thế kỷ từ đầu đến cuối một cách hoàn chỉnh. Từ cái nhìn của thế kỷ XXI, thì rõ ràng đối với toàn quốc cũng như đối với Nam Bộ, đối với TPHCM, văn học thế kỷ XX là một di sản vĩ đại và phức tạp, nhưng không phải là không rõ ràng. Cần có điều kiện thuận lợi để phân biệt những giá trị thật và những giá trị giả, phân biệt vàng thau, và hiện chúng ta đang có điều kiện đó hơn bao giờ hết. Với quan điểm ngày nay, giữ nước, cứu nước và dựng nước là truyền thống lớn của dân tộc, là nghĩa vụ vinh dự và tâm nguyện của mọi người Việt Nam, dù ở đâu và trong bất cứ hoàn cảnh nào. Bài học lớn của thế kỷ XX từ đầu cho đến cuối thế kỷ là bài học về đại đoàn kết dân tộc, huy động và phát huy mọi thực lực cũng như mọi tiềm năng của người Việt Nam trong và ngoài nước, sĩ nông công thương, nam phụ lão ấu đều có thể góp vào việc bảo vệ và xây dựng tổ quốc. Trong quá khứ, để cho dân tộc được sống còn, được tồn tại, được phát triển, có sự đóng góp của mọi lực lượng dân tộc, của mọi người Việt Nam, kẻ ít người nhiều, kẻ trực tiếp người gián tiếp. Tập hợp lại tất cả hay đa số những tác phẩm văn học của thế kỷ XX, kế thừa và chọn lọc từ những giá trị đó những gì là tốt đẹp nhất sẽ cho chúng ta thấy một bức tranh hoành tráng của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng và chủ nghĩa nhân văn Việt Nam. Trong bức tranh hoành tráng đó, văn hóa văn học Sài Gòn – Nam Bộ có vị trí vinh dự có thể làm phấn khởi những người kế thừa nó hôm nay, động viên sự đóng góp của họ cho sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước dưới sự lãnh đạo rộng rãi và đúng đắn của Đảng trong khối đại đoàn kết toàn dân để vượt qua mọi thử thách mới trong thế kỷ mới, súc tích và tăng cường mọi nội lực của dân tộc để tiếp tục sự nghiệp phục hưng dân tộc, trong đó có sự phục hưng văn hóa và văn học Việt Nam.

Tôi vừa nói đến hai chữ “phục hưng”. Trong lịch sử dân tộc ta, có lẽ khác với châu Âu, chúng ta có nhiều thời kỳ phục hưng. Thường mỗi một cuộc phục hưng ở nước ta là tiếp theo một lần giải phóng dân tộc. Thế kỷ X-XI là một ví dụ: từ chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất năm 938 và cuộc định đô Thăng Long năm 1010, dân tộc chúng ta đã tiến hành một cuộc phục hưng tạo nên sức mạnh để ba lần phá tan quân xâm lược Nguyên-Mông và xây dựng nền móng của một quốc gia tự chủ với một nền văn hóa rực rỡ thời đại Lý – Trần. Cuộc phục hưng thứ hai là sau Khởi nghĩa Lam Sơn thu hồi nền độc lập dân tộc sau hai mươi năm bị quân Minh xâm lược và đô hộ. Cuộc phục hưng đó triển khai trong các thế kỷ tiếp theo, cơ sở của nó là sự mở rộng đất nước về phía nam, tạo nên dáng vóc tổ quốc như ngày nay, trong đó có sự phát triển đáng kể từ quốc sự, quốc học đến quốc văn và các lĩnh vực tinh thần khác, đặc biệt là trong hai thế kỷ XVIII và XIX với đỉnh cao nghệ thuật là Nguyễn Du và dòng văn học Quốc âm. Thế kỷ XIX là một thế kỷ vĩ đại về phương diện văn hóa, văn học, tuy cuối cùng chế độ phong kiến tự chủ sụp đổ kéo theo sự thất bại, mất nước của dân tộc Việt Nam. Tuy vậy, thế kỷ XIX vẫn tạo điều kiện và kinh nghiệm để thế kỷ XX vượt qua hiểm họa, tiến đến thành công. Thế kỷ XX sau khi hoàn thành sứ mệnh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, dân tộc ta đã tiến hành một cuộc đổi mới mà thực chất là một công cuộc đại phục hưng mới trong thời đại mới. Bao giờ cũng vậy, để tiến nhanh và mạnh về phía trước cần phải súc tích nội lực, trong đó có sức mạnh truyền thống quá khứ, mà cốt lõi là truyền thống văn hóa, với trung tâm là truyền thống văn học. Việc sưu tầm, tập hợp, nghiên cứu và đánh giá di sản 100 năm của Sài Gòn – TPHCM trong bối cảnh văn học và văn hóa của cả nước có thể góp phần vào sự súc tích nội lực dân tộc trong thế kỷ XXI để đối mặt với những thử thách mới và đạt được những thành tựu mới của thời đại phục hưng mới.

- Xin cảm ơn Giáo sư!

 

-------------------------------------------------------------------------------------------------------

* Ủy viên Hội đồng biên soạn công trình “Một thế kỷ văn học Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh”.