Hầu chuyện cụ Hữu Loan

L.T.S: Nhà thơ Hữu Loan (sinh ngày 12/4/1916) đã tạ thế ngày 18/3/2010 tại xã Nga Lĩnh (Nga Sơn, Thanh Hóa), thọ 95 tuổi, Hồn Việt xin chia buồn cùng gia quyến nhà thơ và đăng bài viết sau đây của nhà văn Hà Đình Cẩn như là một nén hương tưởng niệm người đã đi xa…

Khó có thể hình dung ký giả chiến tranh - nhà thơ Hữu Loan từng đeo gươm cưỡi ngựa như tráng sĩ đi dọc Đèo Cả viết những câu thơ vạm vỡ về vệ quốc quân đầu tiên của cuộc kháng chiến: Đèo Cả / Đèo Cả / Núi cao ngất / Mây trời Ai Lao / Sầu đại dương / Dặm về heo hút / Đá bia mù sương / Bên quán Hồng Quân / Người / Ngựa / Mỏi… lại là một ông già chỉ còn râu tóc, với một nhúm da thịt ngồi dựa tường, đầu gối so lên cằm, mái tóc bạc trắng rũ xuống, mắt nhìn đắm đuối vào chén rượu trên tay như thế kia. Mâm bát sơ sài, chỉ một quả chuối xanh, nhúm muối và đôi đũa lệch…


Nhà thơ Hữu Loan.

Cụ đang sáng tác, nghĩ về thơ, hay chỉ ngồi ngắm chén rượu như một thói quen của một thượng thọ ngoài tám mươi? Thi bá cho rằng thơ thuộc về Âm, nghĩa là thuộc về đêm, thuộc về trăng, con nước, thuộc về đàn bà. Người có sao Thái Âm đóng cung mệnh, người đó mới làm được thơ, mới trở thành nhà thơ. Thơ thuộc hành Thuỷ, mềm đấy mà cứng đấy, thấy trước mặt mà không nắm được trong tay, ngỡ là hữu hình mà hoá ra vô hình. Bởi vậy trong thơ thường có trăng, có sông, lại khăng khít với nhau, tạo những suối nước. Ngày trăng viên mãn thì nước ngập tràn. Ngày trăng hao mòn thì con nước ngẹn ngào. Bản chất của thơ là buồn, là cô đơn, là hiu quạnh. Khi vui người ta hát. Khi buồn người ta đọc thơ. Kiếp nhân sinh có vui có buồn. Khi buồn người ta cần có thơ để “vịn” mà đi. Thơ trường tồn là vậy.

Bao nhiêu rượu quê Nga Sơn, bao nhiêu chiều ngồi ngắm rượu trên tay của một đời thơ để cụ cảm về thơ, nghĩ về thơ tràn đầy và thâm hậu đến thế?

Nhà thơ ngồi đó, trước mặt tôi, như ngồi để chờ một phép lạ giúp cụ được tan vào thứ ánh sáng vườn chiều sâm sẫm bò loang trên cỏ rác. Giá thử không có chúng tôi đánh động thì cơ chừng cụ sắp tan vào chiều quê thật. Được thế thì sướng quá, nhưng trời lại chưa cho, nên xem cái dáng cụ ngồi ngắm chén rượu thấy cái vẻ thi nhân chưa được thư thái, mãn nguyện, buông xuôi sự đời của trưởng lão, mà vẫn như để tự giam mình cho đến cõi khổ tận cam lai của đời người bao vuông tròn.

- Thưa cụ, vừa rồi hỏi thăm ngõ vào nhà ta, có bà hàng xóm lại kêu cụ là cụ giáo Loan, nghe là lạ. Phải chăng cụ đã từng làm nghề dạy học?

Tay vẫn cầm chén rượu trắng, cụ Hữu Loan im lặng một lúc lâu, mới nói:

- Hai mươi tuổi tôi đậu tú tài, nên tận bây giờ bà con láng giềng vẫn cứ gọi cụ Tú Loan là vậy. Học trường Tây, nhưng tôi không đi làm cho Tây ở Sở Dây thép, mà mở trường dạy trẻ và hoạt động trong phong trào Bình dân rồi tham gia Việt Minh. Ngày cách mạng Tháng Tám tôi mới 29 tuổi, được cử làm Phó chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn…

- Không ít bạn đọc thế hệ con cháu lại biết rằng tác giả Màu tím hoa sim lại là cán bộ tiền cách mạng?

- Có sao đâu. Tôi chỉ nhắc lại cho vui thôi. Ngày đầu cách mạng tôi thành viên Uỷ ban lâm thời tỉnh Thanh Hoá, phụ trách bốn Ty: Giáo dục, Thương chính và Công chính… Trong buổi sáng diễn thuyết vận động nhân dân ủng hộ cách mạng có cô học trò 16 tuổi đã cởi vòng xuyến vàng góp cho kháng chiến.

Kháng chiến bùng nổ, tôi làm công tác tuyên truyền, phụ trách tờ báo Chiến Sĩ ở Mặt trận miền Trung. Tôi thường sống với các đơn vị, nhiều khi thay vì viết những phóng sự, tôi làm thơ để diễn tả những tình cảm trào dâng trước thiên nhiên và người lính đầy nhiệt huyết buổi đầu cách mạng.

Chân đèo nam / máu giặc / bao lần / nắng khô / Sau mỗi lần thắng / Những người lính Đèo Cả / Về bên suối / đánh cờ / Người hái cam rừng / ăn nheo mắt / Người vá áo / thiếu kim / mài sắt / Người đập mảnh chai / vểnh cằm / cạo râu / Suối mang bóng người / soi / những / về / đâu?!

- Thưa cụ, Đèo Cả gập ghềnh, vạm vỡ, chữ quánh đặc, nhấp nhô như dốc đá, tư thế kiêu sang, tươi rói về hiện thực ngày đầu kháng chiến, thật giàu phong vị sử thi. Sau này nhìn lại lịch sử văn học cách mạng, Đèo Cả cùng với Nhớ máu của Trần Mai Ninh được xếp lên vị trí mở đầu thời đại thơ ca mới. Vì thế, cụ thì có thể khuất bóng ở làng chân núi Nga Sơn này, nhưng thơ cụ thì sáng chói… Cụ có thấy vì thế mà khỏe ra không?

- Tôi chỉ coi Đèo Cả như lời tâm sự yêu thương về cuộc kháng chiến sinh tử của dân tộc. Tôi viết để gửi cho một người đọc, cô Đỗ Thị Ninh, học trò cũ đã hào phóng cởi xuyến vàng góp cho kháng chiến. Chúng tôi nên vợ nên chồng vào đầu năm 1948. Bấy giờ tôi là cán bộ tuyên huấn của một đơn vị chủ lực. Chỉ bảy tháng sau ngày cưới, đang ở chiến trường, tôi nhận tin vợ mất. Tôi khóc vợ bằng Màu tím hoa sim

Tôi người Vệ quốc quân / xa gia đình / Yêu nàng / như tình yêu em gái / Ngày hợp hôn / nàng không đòi / may áo mới / Tôi mặc đồ quân nhân / đôi giày đinh / bết bùn đất hành quân / Nàng cười xinh xinh / bên anh chồng độc đáo / Tôi ở đơn vị về/ cưới nhau xong / là đi / Từ chiến khu xa… / nhớ về ái ngại / Lấy chồng đời chiến chinh / mấy người đi trở lại…

- Thưa cụ, bạn đọc nói chung và các nhà phê bình văn học nói riêng cho rằng, từ sau Màu tím hoa sim, nỗi đau riêng về hạnh phúc làm thay đổi tâm tính thi nhân. Chiến binh Hữu Loan hào hoa, phong trần, cưỡi ngựa, đeo gươm ra trận làm thơ hào sảng đổi chỗ cho một Hữu Loan thâm trầm, sâu nặng tình nghĩa con người. Hoa lúa, Yên Mô, Những làng đi qua… những bài thơ sau nỗi đau Màu tím hoa sim là những chấm phá tình quê, tình người kháng chiến. Và sau đó, cụ không sáng tác nữa, khép một đời thi sĩ chỉ với 10 bài thơ. Cụ có nhớ thơ không?

- Tôi đi qua chín năm kháng chiến với mười bài thơ. Hoà bình, sóng gió của những đổi thay đã đẩy tôi rẽ sang hướng khác. Bước thăng trầm của tôi bắt đầu từ cuối năm 1957. Một đêm Hà Hội nhiều sương muối, buốt giá, tôi và nhạc sĩ Văn Cao trắng đêm dạo quanh hồ Thiền Quang. Đến sáng thì Văn Cao tiễn tôi ra bến xe để tôi trở về quê Nga Sơn kiếm kế sinh nhai.

Bấy giờ Nga Sơn, Thanh Hoá quê tôi nghèo lắm. Tôi lại tay trắng dắt vợ con về, biết sống sao đây. Buổi chiều đầu tiên về làng Vân Hoàn, thay vì đi thăm hỏi láng giềng tôi cắp be rượu lên núi đá đầu thôn. Ở Nga Sơn này, tôi chỉ còn biết đổ rượu lên đá mà thề càm cắp vợ con qua cơn giáp hạt. Một chiếc xe cút kít. Một đôi quang sắt. Một xà beng. Một cuốc chim. Một chiếc đòn gánh bằng cả khúc tre ngâm. Tôi nạy từng khối đá đưa lên chiếc xe cút kít thô sơ đem đi bán ở các lò thợ làm cối, làm thớt, làm kê chân cột và làm vật liệu xây dựng. Bán cả chục xe đá mới kiếm đủ ngày hai bữa cơm dưa muối cho đàn con. Đã thế, nhiều khi ế ẩm, đá chất đầy vườn, cả tháng không ai hỏi mua. Một năm, hai năm, ba năm,… tôi trở thành người thợ đá thực thụ. Cặm cụi vật lộn với núi đá tôi nuôi cả mười đứa con khôn lớn. Đến giờ cả mười đứa con đã có chín nên vợ nên chồng, sinh cho tôi đàn cháu 37 đứa. Chỉ còn cậu út là chưa lập gia đình.

- Cụ thôi làm nghề đục đá kiếm cơm từ khi nào?

- Tôi mới gác búa hơn mười năm nay, lui về nhà, trải chiếu trên thềm, ngày ngày ngồi uống rượu, ngắm rượu và ngóng đợi con cháu về thăm nhà, ngóng đợi những chuyển động đổi thay của làng xóm, của gia đình mình, của phận mình. Dằng dặc ngóng đợi, vận may cũng đã đôi lần gõ cửa. Tòa soạn báo Văn Nghệ, cơ quan tôi công tác gần bốn mươi năm trước đưa đến tận nhà cho cái sổ hưu, với mức lương gần hai trăm ngàn đồng/tháng. Rồi chờ thêm vài năm nữa tôi được Nhà xuất bản Thanh Hóa in cho tập thơ đầu tiên trong đời, tập Màu tím hoa sim với mười bài thơ viết từ thời kháng chiến. Đợi mãi, tôi được trời ban phúc, thằng con trai út, ra đời trên lèn đá đã tốt nghiệp Đại học Kiến trúc Hà Nội. Nó đang tham gia quy hoạch Dự án bảo tồn khu di tích Bác Hồ ở Kim Liên, Nghệ An. Giá còn sức như ngày nào, tôi sẽ chở một xe cút kít đá ở cái núi đá từng nuôi sống gia đình về tận Kim Liên mà góp cho dự án bảo tồn một vài viên đá lát đường…

Không biết có còn vận may nào đến với Hữu Loan nữa không? Cái chỗ bao nhiêu năm ngồi uống rượu, ngắm rượu và chờ đợi, mồ hôi thấm lên tường hình một bờ vai. Hình bờ vai lún dần, lún dần xuống thấp, có dễ không lâu nữa ngả hẳn xuống gần mặt chiếu.

- Cụ có làm thơ nữa không?

Hữu Loan vẫn nhìn chén rượu:

- Có. Nhưng toàn thơ đểu.

Bỗng nhiên ông cất tiếng cười, cười khà khà, mãn nguyện.

- Cụ thử đọc vài câu thơ “đểu” cho con nghe với nào.

Hữu Loan ngồi im. Lát sau ông nói:

- Đọc Đèo Cả thì đọc, chứ đọc thơ đểu phí rượu.

Rồi ông như người bất ngờ vùng tỉnh dậy sau giấc ngủ dài, tinh nhanh, hoạt bát hẳn ra, giọng vang và còn sáng. Ông đọc hết Đèo Cả không hề vấp váp. Đọc xong, ông vơ lấy chén rượu, nhưng không uống, chỉ nhìn mà nước mắt rơi.