Hậu Mùi cỏ cháy

Tôi vốn  không phải là người  hay xem phim, nhất là phim nội, “cây nhà lá vườn”. Có thể là do “Kinh cung chi điểu” – “Chim phải tên, sợ làn cây cong” chăng? Âu cũng vì không ít lần trót “chạm trán” phải phim giả, phim dở, phim sống sượng, phim vô bổ, phim ngờ nghệch...

Thế rồi bỗng dưng tôi đi xem phim. Phim mới ra lò có cái tên khá gợi: Mùi cỏ cháy. Có đủ lý do để ngại ngần: nào là kinh phí eo hẹp, nào là đề tài cũ, lại chiến tranh, lại quá khứ anh hùng, lại dòng phim “cúng cụ” - phim chiếu dịp kỷ niệm ngày này ngày kia,  nào là những lùm xùm  tranh cãi quanh việc đánh giá, trao giải cho phim qua hai dịp liên hoan chỉ cách nhau vài tháng...

Thế rồi tôi bất ngờ... xúc động, bất ngờ mừng rỡ vì không phải ân hận tiếc nuối vì thiếu chút  nữa, theo “quán tính”, mình đã có thể vô tình bỏ qua nó... Mùi cỏ cháy đã đánh động được vào khối óc khá khô hạn của một người... “tiền alzheimer” như tôi, đã chạm vào con tim trơ lì không còn dễ rung động như thời xa xưa...

Với người ngoại đạo như tôi, Mùi cỏ cháy xứng đáng được xếp hạng “Số 1” mà không cần một chút ưu ái nào.

Là một phim-thơ với âm hưởng ngọt ngào dịu nhẹ, đầy lãng mạn của tình yêu cuộc sống, tình yêu người thân, tình yêu trai gái - mối tình “giếng nước, cây đa” tưởng thoảng qua mà còn vương vấn mãi người ở người đi. Phim-thơ với những gì day dứt bồi hồi đọng lại  từ quá khứ hào hùng mà bi thương, dù đã lùi xa cũng không dễ gì phai lạt trong lòng người còn sống hôm nay.

phim-sử thi với rùng rùng đoàn quân ra trận, với những đại cảnh chiến trận tơi bời khói lửa, ùng oàng tiếng nổ đinh tai, trên máy bay gầm rú, dưới cấp tập pháo bầy, máu chảy đầu rơi, mảnh bom oan nghiệt không trừ một ai, dòng sông loang màu đỏ máu... Chiến tranh quả là không mong đợi ở bất kỳ thời đại nào; nó là hiện tượng bất bình thường nhất trong những gì bất thường đeo đẳng loài người từ hàng ngàn năm nay!

pic

phim-tính cách với những con người không dừng lại  trên màn ảnh quá lâu mà vẫn kịp in hằn vào tâm trí người xem – cô gái  giặt áo bên bờ giếng làng gương mặt thánh thiện, nhìn đời với đôi mắt trong veo, tin cậy ở lời hẹn ước mơ hồ của chàng lính trẻ hào hoa. Anh chàng sinh viên khoa văn “xuất khẩu thành thơ”, thơ “thứ thiệt”, thanh khiết thơm thơm mùi cỏ non ban mai và cả khen khét “mùi cỏ cháy” nghiệt ngã của chiến trường.

Anh đại đội trưởng với vẻ mặt lạnh lùng, hành vi có vẻ cứng nhắc lại ẩn chứa trong lòng tình đồng đội sâu xa (Lê Chí Kiên đã vào vai này rất ngọt). Anh chàng ở nhà vốn nghịch ngợm, thường hay ăn đòn của mẹ, lúc vào nơi sinh tử chỉ thèm được trở về nhà... chìa mông ra cho mẹ quất cán chổi phất trần thật nhiều thật đau...

phim-tư tưởng, khi nhà biên kịch Hoàng Nhuận Cầm, đạo diễn Nguyễn Hữu Mười cùng tập thể đoàn làm phim đầy tài năng và rất ăn ý đã đánh một dấu bằng (=) ngoại cỡ, hằn sâu rõ mồn một để làm cân đối hai vế: Số phận Đất nước - Dân tộc và Số phận Con người, từng con người cụ thể, từng cô gái chàng trai, từng bà mẹ người cha khắc khoải cầu mong mũi tên hòn đạn tránh xa con mình ngoài chiến trận...

Sự tồn vong của Đất nước, của Dân tộc là lớn hơn, cao hơn hết thảy, nhưng xin đừng quên chính số phận của từng con người trên dải đất này đã và sẽ làm nên Số phận Dân tộc. Không một ai bị bỏ qua, không một số phận nào bị quên lãng, không một cuộc sống cá nhân nào bị coi rẻ, bị biến thành con tốt vô danh trên bàn cờ của lịch sử.

Có thể ai đó đánh giá Mùi cỏ cháy là cũ - đề tài cũ, cách thể hiện cũ? Tôi không cho là như vậy. Đề tài cũ như tình yêu Thúy Kiều - Kim Trọng qua ngàn năm vẫn mới. Cách thể hiện cũ ư? Cũ mà giản dị chân thực, mà gây được xúc động nơi người xem thì sao gọi được là cũ? Đó luôn là cái mới mà nghệ thuật nên và cần vươn tới.

Mùi cỏ cháy khiến ta xem xong rồi thấy mình khác đi một chút - vương vất buồn và ưu tư hơn.

*

Không có giá trị nào cao hơn sự sống! Qua 81 ngày đêm ác liệt vô cùng của cuộc chiến nơi Thành cổ Quảng Trị, rộng hơn là qua bao tháng năm chiến tranh dài dặc, hàng trăm ngàn chàng trai cô gái, hàng triệu người dân đã ngã xuống. Không cái chết nào không để lại tiếng vọng xa sâu từ nỗi đau của người ruột thịt, của bạn bè, đồng đội, kể cả cái chết của những người không đứng cùng chiến tuyến.

Điều trớ trêu của lịch sử là dường như trong rất nhiều trường hợp cái hạn lớn của dân tộc chỉ qua đi khi đã xảy ra vô vàn cái chết. Cái giá phải trả (vì lý do khách quan hay chủ quan?) thật là to lớn, bi thương  không  bút nào tả xiết. Vết thương lịch sử còn ứa máu, không dễ gì mau lành miệng.

pic
Một cảnh trong phim Mùi cỏ cháy

Những người ngã xuống được kỳ vọng là sẽ đem lại một diện mạo thoáng đãng  hơn cho non sông đất nước, một cuộc sống thanh thản bình yên hơn cho mỗi người con dân nước Việt. Chúng ta hãy thành thật hỏi nhau: Liệu đã được như thế chưa?

Hậu Mùi cỏ cháy trong cách nhìn, cách cảm của tôi - (có phần nào mơ mộng quá chăng?) - là: sau ngần ấy mất mát hy sinh đến tột cùng, sau sự ra đi của bao chàng trai cô gái “mãi mãi tuổi 20” ấy, trên non sông gấm vóc của chúng ta mong sao sẽ chỉ còn toàn những “người yêu người sống để yêu nhau”, sẽ không còn chỗ cho những kẻ ăn trên ngồi trốc chăm chăm bòn rút của dân, vô cảm trước nỗi thống khổ của người nghèo, đẩy những người nông dân - những người từng “nuôi con thành dũng sĩ” - vào cảnh không còn tấc đất cắm dùi, hết kế sinh nhai!

Mùi cỏ cháy không còn chỉ là cuốn phim về chiến tranh. Mùi cỏ cháy trước hết và trên hết là một cuốn phim về thời hòa bình.