HV102 - Thơ Bích Khê (phần 1)

Đến Quảng Nghĩa, chúng tôi đi tuột ngay về Thu Xà cho kịp thăm mộ Bích Khê trước khi trời tối. Trong đời tôi, tôi đã thăm Khê vẻn vẹn bốn lần. Một lần anh nằm ở bệnh viện lao Pasquier, một lần anh nằm tại Hoàng Hoa Trang (vẫn lao vẫn bệnh) và hai lần anh nằm dưới đất. Thăm mộ Khê lần này cách lần trước (1946) là 42 năm. Đủ thời gian cho hai cuộc chiến tranh, một “cuộc” hòa bình, cộng thêm cái không gian chia cắt về đất đai và tư tưởng nữa. Ấy thế nhưng chiều nay hình như các thứ đó chả có hiệu lực gì. Nhà cửa, ruộng đồng, phố xá quê anh đã đổi thay dữ dội, vì đạn bom, vì xây dựng, nhưng tôi vẫn thấy mình đi trong không khí, khí hậu của các câu thơ:

… Nơi đây làng cũ buồn thu quạnh

… Nơi đây thành phố đời ngưng mạch

Những nàng lai khách vẫn buồn mơ

Tôi hỏi người cháu Khê cùng đi “ở đây có phụ nữ Hoa kiều chứ?”. Vừa hỏi vừa nghĩ: “Khê là người đầu tiên đưa hai chữ lai khách vào thơ” và nghĩ “con gái lai khách chắc là rất đẹp”.

- Dạ ở đây có đông Hoa kiều đến từ đời Thanh. Nay còn vài ba hộ.

Những nàng lai khách vẫn buồn mơ

Đường lên hội quán sương khuya xuống

Đâu mấy chàng trai rõi nhớ hờ

Một người phụ nữ bà con cùng Khê chỉ cho tôi mái nhà hội quán sau các lùm cây. Nhà phê bình trong tôi nghĩ: “Khê là người đầu tiên dùng chữ hội quán. Hội quán mới gặp sương khuya cũ, ngộ lắm”. Còn “nhà” tò mò trong tôi tự hỏi: “Có Khê trong các chàng trai kia không? Cô buồn thì buồn mơ, chàng lại nhớ hờ, được lắm!”.

Tìm ngõ nhà em, anh sẽ thấy

Nhà Khê đây rồi, giữa phố, không có ngõ. Tôi bỗng dưng tiếc cái ngõ trong thơ ấy. Như ngày nào về thôn Vỹ Dạ “lá trúc che ngang mặt chữ điền”, tiếc không thấy trúc ở đâu.

Những cành nhãn muộn bóng dơi lay

Những gốc nhãn, cành nhãn Khê tả ấy không còn. Vườn đầy chuối. Đứng giữa vườn chuối, người cháu đưa tay chỉ xa xa chỗ Khê nằm.

Em đang nổi bệnh trong phòng vắng

Tình đậm theo trăng sáng sáng đầy

Bỗng dưng tôi thấy như Khê đang nằm trong phòng ấy, thiêm thiếp thiêm thiếp như tôi thấy anh nằm ở Pasquier ngoài Huế, ở Hoàng Hoa Trang quê chồng chị Ngọc Sương - chị ruột Bích Khê - trong Quảng. Nằm, và cười một nụ cười nhợt nhạt héo hon, he hé đôi mắt chào tôi.

Trên mồ con quạ đứng im hơi

Mộ Khê đây rồi. Không có con quạ vĩnh cửu thiên thu nào đe dọa mồ Khê cả. Có, thì chúng ta cũng xua đi cho Khê đỡ sợ. Khê nằm giữa mộ các người thân trong quyến tộc. Tôi, Yến Lan và anh Thu Hoài (người có công tổ chức chuyến đi này) thắp một tuần nhang trước mộ người đã khuất. Hai ngày trước đây, chúng tôi cũng đã thắp hương trên mộ Tử ở Quy Nhơn. Tôi báo cho Khê một tin mừng:

Những tờ thơ nát đầy hơi hám

Tay khách đa tình sẽ chuyển trao

Lời mơ ước ấy của Khê sắp được thực hiện. Quê hương Nghĩa Bình của Khê không muốn Khê nằm lâu trong quên lãng. Đã hai năm nay Sở Văn hóa Nghĩa Bình và anh Hồng Nhân giám đốc sở, thiết tha có một tập thơ Hàn Mặc Tử, một tập thơ Bích Khê. Thơ Tử đã có rồi. Thơ Khê cũng đã tuyển chọn xong, chỉ chờ có giấy, chỉ chờ có tựa. Tôi cũng báo cho Khê rõ, người tuyển chọn và đề tựa vẫn là người Khê đã giao phó 44 năm xưa, hồi 1943, 1944. Và tinh thần tuyển chọn cũng là tinh thần mà chúng ta đã đồng ý với nhau hồi ấy. Nghĩa là phần thơ trong Tinh hoa (chưa in) được đánh giá cao hơn Tinh huyết. Trong Tinh huyết, thì cái tinh nhất, tinh chất không phải là loại bài “đây sự thật trần truồng nằm giữa háng”, mà dù cho đổi ra “đây hư ảo phủ che nằm giữa háng” thì cũng chẳng phải là thơ. Thơ nằm chỗ khác. Đâu trong trái tim mình.

***

Một bài thơ của Khê lấy tên Duy tân. Có dính dáng gì không đến ông vua yêu nước trùng tên, Khê vốn hay làm thơ vịnh sử. Nhưng dịch cái đề ấy ra ngôn ngữ thời sự thì nó là “đổi mới tư duy” đấy. Đổi mới tư duy về thơ.

Rồng vẽ lối xưa toàn những sáo

Cua bò thơ mới chả nên thơ

Khê đã tự phê bình rồng xưa và cua mới của mình như vậy, như chính là Khê đã không vui lòng lắm với những cái sáo ngữ của thơ cũ, cũng như các cái chả nên thơ, chả phải thơ của thơ mới đương thời… Anh muốn duy tân, để có một thứ thơ khác:

Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới

Của lời thơ lóng đẹp. Hạt châu trong.

Thơ ấy sẽ là nhiếp ảnh:

Đường nhiếp ảnh sắc khua màu, tiếng thở

Cũng là hội họa:

Hỡi hội họa đến muôn đời nức nở

Là âm nhạc:

Ròng âm nhạc của lòng trai ấp mái

Là điêu khắc:

Đầy thẩm mỹ như một pho thần tượng

Là vũ đạo:

Múa song song khiêu vũ giữa đêm hồng

Như người xưa xem múa kiếm mà tìm ra cách viết chữ, thay đổi biến hóa thủ pháp, bút pháp của mình. Nhưng đây là các quan niệm về thơ “tổng hợp” của châu Âu lúc đó. Quả măng cụt của Khê, ta biết đấy là quả lựu của Valéry. Valéry hóa thân, con quạ trên mồ Khê là con quạ của Edgar Poe, của thơ Mallarmé bay đến, da thịt, rồi xác thịt, rồi xác chết trong anh, nguyên là của Baudelaire.

Những nhà thơ ít rạch ròi trong các vụ việc này, họ vay mượn nhau, giật tạm nhau là thường, vốn cùng gia đình, cùng bộ tộc. Vấn đề là vay mượn thế rồi có ăn nên làm ra không, có gây được vốn liếng riêng gì của mình cho mình không, có thêm lãi thêm lời không hay lại ăn cụt vốn! Phải nói ngay Khê không phải là kẻ ăn theo, anh đã từ đường băng của thầy, của bạn mà cất cánh mình lên nhanh, bay những đường bay đẹp. Thậm chí anh có những hơi thở riêng mà các thầy không có. Anh nhờ các thầy Tây phương đánh thức bản năng, trí tuệ mà anh vốn có, nhờ các thầy cho những phương thức tìm hiểu sự vật, và tương quan giữa các sự vật đã có sẵn đấy rồi, khi chưa có các thầy, Khê muốn tạo ra giữa thơ rồng hay cua đều khá yên tĩnh lúc bấy giờ.

Một hỗn độn đẹp xô bồ say dậy

Bằng cảm tình, bằng hình ảnh yêu thương

Và mới mẻ…

Nhưng cái mới ấy có nền, có gốc nữa chứ. Nó mới mẻ ở đâu, ở giữa trời à? Không phải…

Và mới mẻ, trên viện cổ Đông phương

Ai có nghe sức tiềm tàng bí mật

Và chính nhờ cái sức tiềm tàng của Đông phương chưa ai hiểu hết, kể cả các thầy Tây, nhờ Khê quá nửa đời người, quá nửa tâm hồn thân thể đắm mình trong Đông phương, trong dân tộc ấy, mà Khê đã tìm ra cái mới. Khê viết:

Trập trùng màu xiêm áo

Lớt đớt trận mưa bông

Phật Như Lai thoạt hiện

Trên bảy sắc cầu vồng

Quái thay hòn Non Nước

Nghe giảng đủ mười tông

Đừng cười anh duy tâm, lạc hậu. Anh là người tự cho mình “Ta trên đài Vọng hải, chỉ nhượng Phật Như Lai” như Hàn Mặc Tử tự cho mình không phải “là cát bụi trở về cát bụi” mà là “thánh thể kết tinh”. Các anh đâu có dễ dàng mê tín.

Những danh nhân lớn của Đức từ triết gia Schopenhauer, Nietzsche đến nhạc sĩ Wagner không giấu diếm quan hệ mình với Đông phương, với vài ba tông của Phật. Khi Khê viết:

Kim, Mộc, Thủy, Hỏa lạy

Trên, dưới, đất, trời chầu

đừng thấy chữ lạy, chữ chầu mà bảo anh là thầy phù thủy, anh đang nói về hòn Kim, hòn Mộc, hòn Thủy, hòn Hỏa của Ngũ Hành Sơn đương phủ phục trước quyền hành của thi ca. Một trong những vị thầy của nền phê bình Pháp hiện nay, người ta gọi ông là Copernic trong phê bình (như Copernic trong khoa học), Bachelard khi nói đến hai lực, bốn yếu tố, khi xếp các nhà thơ theo dòng Thủy, dòng Hỏa, dòng Thổ, dòng Không khí, phải chăng đã dựa vào của phương Đông thuyết Âm dương và thuyết ngũ hành? Ta ở phương Đông nhàm chán nó, xem nó là viện cổ, nhưng nhiều viện sĩ Tây phương lại liếc mắt về nó mà tìm mới mẻ mà kiếm đề tài.

Đầu tiên ta thấy Khê muốn duy tân, đổi mới tư duy trong chữ:

Chữ biến hình ảnh mới, lúc trong ngâm

Chữ trong vắt sánh nghệ thuật sầu câm

Ta viết cây cao cây thấp, cây gần cây xa, cây xanh cây héo. Ta thấy, Khê viết:

Cây du dương lâu đài song sóng

Mắt Khê thấy và nghe, thấy cây giống lâu đài và nghe cây du dương như nhạc, so với ta, Khê có con mắt “kép” giàu hơn.

Ta viết tia trăng ánh trăng. Khê lại viết: “Da trăng trắng tợ hàu”. Trăng thành cô gái, Khê sờ được làn da trắng ấy. Cảm giác của Khê nhiều hiệu quả hơn. Khê duy tân Câu. Câu với anh không chỉ là đường thẳng, đường cong mà còn là chữ chi, cửu khúc hay đường gãy gập. Câu thơ không chỉ liền một hơi mà tấm tức, ray rứt, nối đứt, đứt nối nhiều lần:

Buồn, và xanh trời (tôi trôi với bờ

Êm biếc - khóc với thu: lời úa ngô

Vàng… khi cách biệt

Có phải học Khê, tôi đã tập qua hàng:

Chỉ một ngày nữa thôi. Em sẽ

Trở về. Nắng sáng cũng mong. Cây

Cũng nhớ. Ngõ cũng chờ. Và bướm

Cũng thêm màu trên cánh đang bay

Khê duy tân cách qua hàng, khá độc đáo:

Thoảng tiếng gáy của cu

Cườm. Hiu hiu vàng đượm

Chữ cườm tách riêng ra, đứng đầu câu, long lanh như một hạt cườm. Hoặc:

Như mặt trời lọc qua khóm liễu, một

Hoàng hôn. Đàn môi, chim báu tới

Chữ một ăn với hoàng hôn câu dưới. Nhưng Khê tách đặt nó ở câu trên sát kề khóm liễu, nhờ thế ta có khóm liễu cô đơn, một khóm liễu lọc mặt trời. Chữ hoàng hôn, tách riêng ra, càng rực rỡ hơn, và đứng đầu câu sau chói rọi khắp mình câu, chim báu môi đều có ánh rọi của nó. Ta thấy ở đây kỹ thuật về trang, về page của Mallarmé. Ta thấy Khê làm kỹ thuật Khê làm. Làm, bố trí, chế tạo rất có ý thức. Anh làm thơ chứ không bị làm thơ như Hàn Mặc Tử, đó là chỗ yếu và chỗ mạnh của Khê.

Khê duy tân đoạn, mảng, bài, những bộ phận trên câu. Trong bản thảo chị Ngọc Sương giao cho Sở Văn hóa Nghĩa Bình, rồi sở chuyển cho tôi, tôi thấy thiếu đôi đoạn, đôi câu xưa kia tôi biết. Câu:

Nụ cười ai trắng như hoa lê

Trắng xóa bên kia vùng Phan Thiết

nụ cười không mang sắc hồng của môi mà lại mang sắc trắng của tình yêu trong trắng, tình yêu không với được nơi xa kia trắng xóa một vùng. Về đoạn thiếu đi đoạn này, tôi vừa phục hồi lại được:

Hoàng hôn ô bên cồn

Bên cồn ô cô thôn

Cô thôn ô trúc vàng

Trúc vàng điểm riêng thu

Thoảng tiếng gáy của cu

Cườm. Hiu hiu vàng đượm

Vì sao tôi nhớ được? Không phải nhờ bộ óc của tôi mà chính nhờ bộ óc của Khê đã dựa vào, đã nắm được các quy luật của sự nhớ mà làm ra đoạn, mảng bài thơ dễ nhớ này. Đọc lại xem, những chữ ngỡ mất đi với câu trên, lại hồi sinh ở câu dưới, cô thôn rồi cô thôn, trúc vàng rồi trúc vàng, những ô, những , những hôn, những cồn, những thôn ngoặc vào nhau chặt chẽ mà đi qua sóng gió giông bão của thời gian. Bìu díu với nhau thành một khối bền chặt về âm thanh, về ý nghĩa như thế, thời gian nào làm tan rã chúng được. Nhờ thế, sau gần nửa thế kỷ, bộ óc già nua của tôi vẫn nhớ.

Khê duy tân trong Nhạc. Xưa nay ta hay dùng bằng trắc. Nay cùng Xuân Diệu ở Nhị hồ, cùng Xuân Sanh trong bài thơ Tay sương lam mờ đường giăng tơ đăng ở báo Tiếng Địch (Bình Định)(*). Bích Khê dùng vần bằng làm chủ lực. Nhưng Xuân Sanh, Xuân Diệu chỉ làm một bài. Bích Khê không phải chỉ thể nghiệm mà sản xuất đại trà, chủ trương tạo hẳn một thể loại.

Khê duy tân trong lối tạo hình. Hình ảnh cũ vốn tĩnh. Khê làm cho nó động, hoạt động. Thơ cũ nói trăng như sữa. Khê làm cho trăng ấy thành sữa, sữa kia nhỏ giọt, nhỏ từ vú hẳn hoi là các núm đồi:

Nâng lên vú núm đồi

Sữa trăng nhi nhỉ giọt

Hình ảnh động theo bề dọc thời gian và bề ngang không gian. Theo bề dọc thời gian, nó tiến triển, nó dây chuyền, con tinh đứng, con tinh nằm, con tinh đưa võng, con tinh ru con hát, rồi thì tiếng hát ru con ấy lại thay nó, tiếp nó mà tác động lên vành trăng, vành trăng ứa nước ra và luồn qua cửa động v.v…

Bề ngang không gian, mỗi hình ảnh trong đoạn thơ này cùng hoạt động với một quần thể các hình ảnh khác đồng thời với nó, bao vây quanh nó, tác động lên nó.

Lên Kim tinh xác bằng thanh khí

Đất lưu ly không khí xạ hương

Cây du dương lâu đài song sóng

Trên biển châu - trời lộn kim cương

Để làm các duy tân trên, Khê đã húc đầu vào nhiều cánh cửa, vái đủ tứ phương, áp dụng các thuyết của Valéry, Rimbaud, Mallarmé, Poe, Baudelaire và của vị “thiền sư Công giáo” là Henri Brémond nữa. Ông có thuyết thơ thuần túy sực nức vị thiền là món Khê khá sở trường:

Hỡi lời ca man dại

Điệu nhạc thở hơi rừng

Đêm nay xuân đã lại

Thuần túy và tượng trưng

Khê mê một thứ thơ thuần túy, một thứ vàng ròng, chỉ là thơ thôi, không có tạp chất nào khác. Đồng thời nó lại đại diện, tượng trưng, nói giùm cho những cái không phải nó, oái oăm chưa? Nó được làm ra, chế tạo ra, nhưng lại phải hồn nhiên như của trời cho, như của tự nhiên, thở hơi rừng, man dại. Thế lại càng oái oăm hơn nữa! Tóm lại là từ gần nửa thế kỷ trước, Khê đã động đến các vấn đề sự vật (chose) và ký hiệu (signe), vấn đề đa nghĩa, vấn đề lao động và cảm hứng, ý thức hay tiềm thức v.v… Ban nãy tôi có nói Khê làm thơ và Tử bị làm thơ. Cả hai phương pháp đều có cái mạnh cái yếu của nó. Tháp Eiffel người làm cũng đẹp như mây trời mà trời tự làm ra trên tháp. Đúng ra phải nói Hàn Mặc Tử bị thơ làm (bị bệnh tật, bị tình yêu làm) và anh đã làm thơ. Còn Bích Khê thì đã làm trên chữ, trên câu, trên trang giấy, trên các yếu tố, năng lực của tâm hồn mình, rồi thì các cái ấy làm anh trở lại. Chữ Pháp có chữ travail de soi sur soi, mình làm, tác động lên chính bản thân mình, động tay, động chân, động lòng, động não của mình, và một khía cạnh của cái động ấy biểu hiện ra ngoài là động chữ, động câu, động nhạc, động hình trên trang giấy. Khê đánh động bộ gõ của trí tuệ, nó đẻ ra những danh từ khô khốc, ồ, gồ, và sắt cũng rất cần trong việc kiến trúc lâu đài thơ chứ sao?

Đường kinh tuyến hút nhiễm chất vô hình

hoặc

Lời truyền sóng đánh điện khắp muôn trời

Chữ bí mật chứa ngầm bao chất nổ

Nhưng Khê cũng đánh lên, động vào bộ giây, bộ hơi của cảm xúc, cảm tình, bản năng, kể cả bản năng vật dục nữa… Tôi đã nói, ngoài thì anh vái tứ phương, trong thì anh húc vào mọi cửa mà. Thời gian ở trái đất của anh có còn dài đâu. Anh định trong sáu tháng thôi phải giải quyết cho xong khối lượng hay đúng hơn chất lượng Thơ một đời. Một câu thôi cũng được, nhưng nó là thứ vàng ròng thuần túy, tượng trưng mà anh mơ ước đó. Thơ có thứ đơn chất và loại đa chất, có thứ là nguyên chất, có thứ lại là hợp chất, hóa chất kia. Khê thích biến hóa, tổng hợp. Anh nhặt các chất, cái thì bên Tây, cái thì bên Tàu, cái trên tòa sen, cái ở hang âm phủ, cái ở hồn anh, cái ở ngoài đời, đầu cua tai nheo trên trời dưới bể rồi bỏ vào cái lò bát-quái thơ của anh mà nung lên vạn độ, bỏ vào cái hồ-lô-thơ anh mà lắc đến triệu lần. Từ đấy sẽ chảy ra chất thơ anh tâm niệm. Việc làm trên có thể nghiêm túc, có thể lố bịch, hóa trò cười.

Nếu ra được một chút gì đấy từ các hồ lô kia, lò bát quái kia, nếu thành công thì người ta gọi đấy là tập đại thành, như khi người ta đánh giá Đỗ Phủ, là somme (tổng hòa, tổng hợp), khi người ta đánh giá Saint-John Perse, hoặc lai được giống mới khi đánh giá con bò sữa Hà Lan (xin nói rằng nhà thơ lớn Guillen của Cuba và cũng của thế giới nói rằng bản sắc dân tộc Cuba là mutala (mulâtre) là lai, hỗn hợp tinh hoa của người da trắng, da đen và da đỏ. Xuân Diệu đã thuật lại quan niệm này trong tựa thơ Guillen).

Còn khi lai không thành công, lắc không thành công, đun lò bát quái không thành công, làm cái việc đem trăm thứ đầu Ngô mình Sở bỏ vào một cái bị kia không thành công, đến nỗi Ngô đi đằng Ngô, Sở đi đằng Sở, đầu đi đằng đầu, mình đi đằng mình, thì người ta sẽ bảo đấy không phải là lai lai căng, mất gốc, là hổ lốn, là tả pí lù, là chợ giời, là xúp bát nháo, là loạn Âu… có một trăm thứ danh từ dành cho.

Thế mà để làm VIỆC THƠ, Khê chả còn bao nhiêu sinh mệnh, bao nhiêu thì giờ! Trong sáu tháng quyết thành thiên tài, quyết có văn chương quán thế không ai biết, gọi Xuân Hương trong mộng mình về thưởng với tôi… thế có liều không? Hàn Mặc Tử cũng góp phần vào ảo tưởng ấy, gọi anh là thi sĩ thần linh. Thần thì ai chẳng thích!
May thay Khê không phải chỉ có thất bại. Cùng với thất bại, Khê có những thành công. Thế mới là Khê chứ. Nhưng đấy là nhờ con người Khê, chớ chả nhờ thần linh nào cả, dù đó là thần Khê, hay các vị thần từ phương Tây phương ta nói trên kia.

Ngay từ thời xửa xừa xưa khi còn làm các bài thơ cũ, Khê cũng đã có những câu thơ rất hay, rất lạ rồi. Dạng chữ Hán:

Hoán khởi mê tân thuyền thượng khách

Tỉnh hồi trường dạ mộng trung nhân

bỗng tòi ra một câu hiện đại, tổng hợp lạ kỳ:

Bóng yêu hoa, màu khiêu vũ, mây phú quý, bả phù vân

Tiếng linh động trong ngần thiên vạn cổ

hoặc những câu khác:

Người bán trời không chứng mới là phiền

Còn tôi bán hàng sầu, tiền chẳng lấy

Tôi muốn bán hàng sầu không vốn lãi

Ngỡ như các câu này là các tìm tòi năm 87 mà nhiều thi sĩ trẻ đem khoe một cách huênh hoang! Hoài Thanh tuy rất dè dặt, ngại ngần nữa, khi đánh giá Bích Khê và Hàn Mặc Tử, cũng đã mở đầu bài viết về Khê: “Tôi đã gặp trong Tinh huyết những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam”.

Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông

Thế giới thơ rất dân chủ hay nói đúng hơn có lối công bằng kỳ quặc. Người có một câu hay được nhắc đến như người có vạn bài, miễn rằng câu ấy đã đến được xứ thơ, và câu kia quả thực hái từ xứ ấy hái về. Khê không chỉ có một câu, không chỉ có hai câu. Anh có nhiều câu và nhiều bài mà… mà các thầy có khi không có, Hàn Mặc Tử không có, thơ Việt Nam trước đây không có.