HV116 - Một kiếp tài hoa ai biết đâu!

Đó là câu cuối trong một bài thơ tứ tuyệt của một bạn thơ khóc Khổng Dương - một nhà thơ, nhà báo đã hy sinh (1921-1947).

“Một giọt mưa thu một giọt sầu

Một cánh hoa rụng rơi về đâu!

Một con chim lạc muôn người khóc,

Một kiếp tài hoa ai biết đâu!”

Khổng Dương tên thật là Trương Văn Hai, sinh quán ở huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Thuở niên thiếu, ông sống với người cha nuôi là ông Tám Dâu. Ông học bậc sơ học ở trường tư của địa phương, rồi lên Cần Thơ học cấp trung học ở trường Bassac (cũng trường tư).

Năm 14 tuổi, ông xuất bản tập thơ đầu tay Ly tao với lời tựa của Thương Tân Thị (Phan Quốc Quang, lúc bấy giờ là giáo viên dạy Việt văn trường Bassac và là tác giả bài thơ thập thủ liên hoàn Khuê phụ thán nổi tiếng khắp cả nước); tập thơ báo hiệu sự xuất hiện của một nhà thơ đầy hứa hẹn. Kế tiếp, ông viết bài cho báo Bạn trẻ mà chủ bút là Thành Kỉnh (sau lấy bút hiệu là Thẩm Thệ Hà, một nhà văn lớn trong phong trào văn chương tranh đấu những năm 1946-1950 ở Sài Gòn).

Cuối năm ấy, Khổng Dương rời Sài Gòn ra Huế; ông học ở tư thục Phú Xuân, là học trò môn Việt văn của nhà thơ Thanh Tịnh. Ở đây, ông sáng tác nhiều bài thơ gửi đăng trên các báo Hà Nội.

Hai năm sau, ông ra Hà Nội, học ở trường tư thục Thăng Long một năm rồi bỏ học. Ông quen thân với Vũ Ngọc Phan và nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng của các báo Tiểu thuyết Thứ bảy, Hà Nội báo, Trung Bắc Chủ nhật - những tờ báo ông cộng tác. Bấy giờ, đây là một hiện tượng vì chỉ có ba tác giả trẻ sinh quán ở Nam Bộ có bài đăng trên báo ở Hà Nội là nhà văn Lý Văn Sâm và hai nhà thơ Khổng Dương và Thành Kỉnh. Cùng lúc, ông cũng gửi bài đăng trên báo chí Sài Gòn, trong đó có tờ Thanh niên (giai đoạn ông Huỳnh Tấn Phát chưa làm chủ nhiệm tờ này). Thơ của ông nhẹ nhàng, theo phong cách lãng mạn, dễ gây xúc động, dịu ngọt về tình yêu và tha thiết với quê hương, được bạn đọc tiếp nhận với nhiều cảm tình.

Vài năm sau, ông trở về Sài Gòn, tiếp tục làm thơ đăng báo. Rồi ông ra tờ Tổng xã báo. Và ông lập nhà xuất bản Đồng Nai, in được hai tác phẩm của mình: Giai phẩm xuân Cứu lấy quê hương. Trong cuốn tiểu luận sau, bìa vẽ hình Atlas đội quả đất, ông chỉ trích lối sống buông thả của một số thanh niên và xây dựng mẫu thanh niên hùng tráng có lý tưởng.

Là nhà thơ, nhà văn, nhưng ông không uống rượu, không hút thuốc lá, ông chỉ thích uống trà; nhiều đêm, ông lang thang cùng các bạn trên các phố Chợ Lớn rồi tạt vào quán nước gọi ấm trà nhâm nhi.

Không thành công về mặt tài chính trong việc làm báo và xuất bản, ông trở về Trà Vinh, lập xưởng giấy thủ công.

Vài tháng sau, Cách mạng tháng Tám 1945 nổ ra, ông tham gia hoạt động ở tỉnh nhà. Kém sức khỏe, người nghệ sĩ cao gầy này trở lên Sài Gòn vào năm 1946, viết bài gởi đăng các báo Việt bút, Đại chúng thuộc nhóm báo chí thống nhất. Bấy giờ, nội dung thơ của ông có sự chuyển biến rõ rệt, với những lời thơ chính khí, những hồi chuông cảnh tỉnh những ai còn lạc lõng trong lúc non sông bừng khói lửa. Chẳng hạn như trong bài Tâm sự:

“Đây một linh hồn không bến đỗ

Lạc loài trong gió bụi muôn phương

Chợ đời chán ngắt phường vong bổn

Tâm sự dồn thêm nặng bước đường.

Bốn vách đã cười cho số phận,

Râu mày chẳng thẹn với quê hương.

Hồn nung lửa giận căng tim nhỏ,

Âm ỉ màu tro khó cháy bừng.

Ngàn vạn hồn tôi bán khách xa,

Hỡi ơi! Nhìn lại nước non nhà.

Máu tươi thắm lệ, hồn chưa xóa,

Bước lặng thầm gieo “hận quốc ca”.

Ôi! Những linh hồn rời Tổ quốc

Thương thay! Mình cũng lạc bơ vơ

Hồn trai ai nỡ cầm buông giá,

Đem bán mày râu kiếp sống thừa!”

Tháng 11-1946, Dương Tử Giang ra tuần báo Văn hóa, mời ông vào bộ biên tập. Ngoài một ít bài do những nhà báo, nhà văn quen biết gởi đến, hai ông thường “bao sân” trọn các trang của tờ báo này.

Về lối sống cũng như về cách ăn mặc, Khổng Dương không chú ý đến những người xung quanh, thường mặc áo sơ mi ngắn tay, quần soọc xanh, gần như độc nhất một bộ, thật lâu mới giặt, có ai phê phán thì trả lời với câu thơ “Mặc kệ trần gian ai sạch dơ”. Trong túi áo ông, lúc nào cũng có một bình mực tím đậy bằng giấy cuộn chặt và một cây viết cán trúc có gắn ngòi, lúc cần thì lấy ra viết. Cũng như Dương Tử Giang, ông viết rất dễ và rất nhanh.

Chẳng những bày tỏ quan điểm mình trên báo, ông còn nói thẳng với lính viễn chinh Pháp. Nhà văn Khổng Trang kể lại rằng, tại một quán nước, Khổng Dương đã đàm luận với một người lính Bắc Phi bằng tiếng Pháp; dùng giọng thân mật, ông chỉ trích nặng sự hiện diện của người này tại Việt Nam, đả phá chế độ thực dân của Pháp và khẳng định rằng người Pháp không thể khuất phục được dân tộc Việt Nam.

Không lâu sau, một lần nữa, tiếng gọi của Tổ quốc lại giục giã ông. Tháng 3-1947, ông về quê nhà để theo kháng chiến, có một người bạn cùng đi. Hai tháng sau, người bạn trở lại Sài Gòn một mình, báo tin rằng ông không còn nữa.

Hôm ấy, một đoàn người có Khổng Dương ngồi trên một chiếc thuyền lướt trên con rạch Xẻo Rô, tỉnh Long Xuyên (sau là An Giang). Bỗng máy bay Pháp xuất hiện. Tất cả nhảy xuống sông, bơi vào bờ, có cây che khuất - trừ Khổng Dương. Vì bơi không giỏi nên ông không nhảy xuống sông mà núp trong khoang thuyền, ông bị máy bay bắn trọng thương ở chân, sau đó trút hơi thở cuối cùng. Đoàn người chôn ông bên bờ rạch ấy, có đánh dấu, định ngày hòa bình sẽ trở lại tìm mộ ông.

Người bạn đó cũng đã từ trần. Mộ Khổng Dương ở chốn nào, bạn bè thân quen không ai biết. Có người bảo rằng chính ông đã trối lại qua bài thơ ông giã biệt bạn bè:

“Một thuở ra đi là vĩnh biệt,

Ngàn năm mộ cổ gió trăng qua”.

_____

Nguồn:

- Thẩm Thệ Hà, Khổng Dương với “Ly tao” và “Dạ túy”.

- Lý Văn Sâm.

- Nguyễn Hoàng Tấn (em của Dương Tử Giang).

- Khổng Trang, Những gì tôi biết về Khổng Dương.

- Nguyễn Duy Hinh.

DƯƠNG PHƯỚC