HV155 - NGUYỄN ĐÌNH THI - Hạt bụi vàng đơn độc…

Sinh vào những năm 20 của thế kỷ 20, Nguyễn Đình Thi đến với Cách mạng tháng Tám bằng tấm tình trong trắng của một thanh niên “Tây học”, yêu nước như yêu tình đầu: “Anh yêu em như anh yêu đất nước/ Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần”. Cuộc lột xác của ông theo kháng chiến cũng là một cuộc lột xác lãng mạn, dù cho “rớm máu”.

← Nguyễn Đình Thi

Với những lý do lịch sử-thẩm mỹ đặc trưng ấy, đường văn nghệ của ông không ngẫu nhiên, khởi đi từ thơ tự do, mối tình đầu, và càng không tình cờ, khép lại ở thể loại kịch, như mối tình cuối.

1. Tự do thơ từ ngọn nguồn triết học

Từ góc nhìn triết học - mỹ học, tôi nghĩ ông đã đi từ mùa thu nghĩa hẹp (của riêng Hà Nội, với “sáng mát trong” như lòng ông trong sáng. Ngày mùa thu ấy ông không thể nào quên. Vào mùa thu cách mạng, vào tự do thơ của Nguyễn Đình Thi đã được triết học của ông dâng lên thành mã thi ca của riêng ông. Quên sao được “sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội/ Những phố dài xao xác hơi may/ Người ra đi đầu không ngoảnh lại/ Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”. Và dù ông đã lưu luyến để lại cả sáng mùa thu Hà Nội ấy sau lưng, khoác ba lô lên rừng theo kháng chiến chống Pháp, rồi sau đó cùng đoàn quân trùng trùng như nước về giải phóng thủ đô, tràn ngập 5 cửa ô màu xanh quân phục bộ đội cụ Hồ, màu thắm tươi cờ đỏ sao vàng, ông đã mê say ăn ở cùng Hà Nội, “nơi lắng hồn núi sông” cho đến cuối thế kỷ 20 (ngoài đoạn chót, ông ở TP.Hồ Chí Minh). Lúc sắp về cõi, thấm thía buồn, ông chạnh thấy mình chỉ còn gặp Bóng mùa thu. Mùa thu đầu đời quá xa xôi, đã mờ phai, như cánh chim bay mỏi về cuối trời, đã nhuốm màu tục lụy, nhiễm buồn hơn, bởi: “Tôi đã thấy mái tóc bạc/ Người ấy ngồi một mình giữa rừng/ Lặng im hút thuốc/ Nhặt chiếc lá rụng cầm lâu trên tay/ Dưới trời chói lòa tôi đã gặp/ Em bé cười chạy vào ngàn sóng thơm vàng/ Hôm nay dọc đường phố ồn ào đầy quảng cáo/ Bóng mùa thu bay trong cây/ Gió hỡi thổi đi những bụi bặm hủy hoại/ Đôi mắt buồn cô gái kia nhìn” (viết năm 1994).

Hình ảnh “Người ấy” trong thi phẩm này đã hiển thị đậm đặc tâm trạng chủ thể trữ tình Nguyễn Đình Thi, cả đời thơ đã chỉ muốn lui vào nội tâm, một mình cô đơn ngẫm nghĩ. Cả đời thơ chỉ muốn tự vạch đường, đi theo tự do thơ “riêng ra một lối”. Không chút tình cờ, người thanh niên thi sĩ Nguyễn Đình Thi đã nghĩ, đã cảm bằng tự do thơ - thơ tự do, với tất cả lòng tin triết học trinh bạch, trong vắt về khả năng diễn đạt tối ưu của thể thức thơ mới mẻ ấy, cho cái nghĩ, cái cảm của mình về cuộc đời, mà ngay từ những ngày trai trẻ, và trong trẻo nhất, số phận Nguyễn Đình Thi đã gắn chặt như định mệnh vào cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc.

Không hề tình cờ, Nguyễn Đình Thi rất mê triết học phương Tây, và tư duy của ông mang rất đậm phẩm chất lý thuyết. Trước khi mặc khải cử chỉ tự do thơ, mê đắm điệu tâm hồn phóng túng ngang tàng, mang tình điệu thơ từ bên trong, không chịu gói mình trong câu thúc vần luật của các thể thơ cố điển: song thất lục bát, lục bát, ngũ ngôn, thất ngôn, Nguyễn Đình Thi đã khát khao gửi mình cho triết học.

Về căn bản, Nguyễn Đình Thi là số phận một thi nhân. Chính vì thế, số phận này đã khiến cuộc chiếm lĩnh chữ nghĩa đầu tiên của ông, được chỉ định là thể thức thơ tự do. Và cũng vì thế, triết học về thơ tự do đã dẫn dắt ông căn bản vượt qua cuộc tranh luận rất gay gắt về thơ tự do của ông, trong đó nhiều phần là ý kiến phê phán kịch liệt thơ của ông trong chiến khu Việt Bắc(2).

Nguyễn Đình Thi không quan trọng cái tên người ta gọi thơ ông là “thơ tự do”, hay “thơ không vần”. Theo ông, vần điệu của thơ nằm trong tình điệu nội tâm thi sĩ, thuộc về giọng thầm bên trong, mang nhạc cảm nội tâm, hắt sáng từ tâm hồn thi sĩ, tuyệt nhiên không phải thứ niêm luật bên ngoài, với nhiều ràng buộc lễ lạt của hình thức. Nghĩ và làm thơ như thế, dĩ nhiên chủ thể thơ Nguyễn Đình Thi đã nỗ lực tự thiết kế công cuộc sáng tạo thơ của chính mình trên nền tảng triết học phương Tây, với nội lực nằm rất sâu trong bản thể phương Đông.

Và Nguyễn Đình Thi trở nên đặc biệt sắc sảo, thuyết phục, khi bênh vực thơ tự do, trên một tinh thần triết học đổi mới. Ông khẳng định chắc thiệt: “Cái hình thức gọi là ‘thơ mới’nó sẽ cứ có, dù ngăn nó cũng không được. Vần hay không vần, câu dài hay câu ngắn, cái đó đã thường lắm rồi. Kháng chiến đã làm ra như thế. Những bài thơ hiện nay đã chứng tỏ điều này. Có vần là một lợi thế rất đắc lực cho sự truyền cảm. Nhưng không phải hết vần là hết thơ. Khi làm thơ, thái độ của người làm là ghi cho đúng cảm xúc. Nếu cảm xúc gặp được vần thì hay. Nhưng gặp khi nó gò bó, hãy vượt lên nó đã. Hình thức nghệ thuật (các luật bằng trắc) phải tự thân nó ra. Khi gạt luật bên ngoài đi, phải có luật bên trong rất mạnh” (người viết bài nhấn mạnh).

Cưỡng chống làm sao, những câu thơ trong vắt tình yêu Hà Nội, một tình yêu đầy nhung nhớ, khắc khoải. Từ chiến khu Việt Bắc, năm 1948, Nguyễn Đình Thi nhớ Hà Nội, nhớ một sáng mát trong như sáng năm xưa/ Gió thổi mùa thu hương cốm mới/ Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em/ Gió thổi mùa thu vào Hà Nội/ Phố dài xao xác heo may/ Nắng soi ngõ vắng/ Thềm cũ lối ra đi/ Lá rụng đầy… Dù tên bài thơ này có thay đổi, sửa sang, thay tên gọi mới, được biên tập mới do Nguyễn Đình Thi (có thể vì lý do “tiếp thụ phê bình”), nhưng với cái tên nào, sửa chữa thế nào, thì đó vẫn là những bài thơ và câu thơ lộng lẫy trong thể thức tự do, với vẻ đẹp đặc sắc chỉ có trong thi pháp Nguyễn Đình Thi(3). (Thực ra, bài Sáng mát trong như sáng năm xưa, ngoài tên đầu tiên này, còn có tên Sáng mát trong, rồi mới mang tên Đất nước, đang phổ biến hiện nay trong các sách giáo khoa và giáo trình).

Không phải ngẫu nhiên, những bài thơ hay nhất của Nguyễn Đình Thi là thơ tình, viết về tình yêu trong kháng chiến chống Pháp, và sau này, chống Mỹ. Nhân vật trữ tình Em láy đi láy lại trong thơ ông. Một người tình không chân dung, không tên, hoặc chỉ nằm trong một chữ cái viết tắt đề tặng lặng lẽ, kín đáo đầu bài thơ, nhưng đã theo ông, ám ảnh ông suốt một đời thi sĩ, dù có thể không thực sự có mặt trong đời thường. Đó là một “mã thi ca” sáng chói nhất, ám ảnh nhất trong thế giới thơ buồn lắng sâu, thăm thẳm suy tư, lộng lẫy hình ảnh lạ về “một thời để yêu, một thời để chết” của riêng ông, trong thời thi sĩ trẻ trai, đã một lòng theo kháng chiến chống Pháp ngay từ những ngày đầu gian khổ.

Không nói là bài thơ gần như đầu tay của Nguyễn Đình Thi, đúng nghĩa thơ tình, thể thức tự do, viết năm 1948, chứa đầy những khoảng im đa nghĩa trong ý thức kiệm chữ rất nhất quán với quan niệm riêng của Nguyễn Đình Thi về thơ tự do. Kể cả tên, bài thơ gồm 37 chữ, với ba khổ thơ, với cố ý rất Nguyễn Đình Thi trong ngắt câu dài ngắn, nhịp điệu buông bỏ tự do, tiết tấu dùng dằng ngẹn ngào được nén thật chặt dưới đáy chữ thơ, biểu đạt một lần gặp thoáng chốc trên nẻo đường chiến tranh, rồi đôi người yêu vội vã chia ly. Và phía dưới cuộc chia ly, chữ thơ của Nguyễn Đình Thi đã ngậm một nghĩa chìm sâu: không bao giờ còn gặp lại. Ai biết trước điều gì sẽ xảy ra trong chiến tranh? Khi một lần gặp nhau, vội đến mức không nói được một lời: Dừng chân trong mưa bay/ Ướt đầm mái tóc/ Em em nhìn đi đâu/ Môi em đôi mắt/ Còn ôm đây/ Nhìn em nữa/ Phút giây/ Chiều mờ gió hút/ Em/ Bóng nhỏ/ Đường lầy. Trong tứ thơ “không nói”, cả bài thơ ngập trong chuyển động của những cử chỉ lặng im và lặng im. Người trai, chủ thể trữ tình, đã chỉ có thể nhìn, thấy mái tóc ướt đầm, thấy môi, thấy đôi mắt, thấy mình còn ôm đây. Em em nhìn đi đâu. Trong bài thơ, cặp tình nhân thời chiến tranh không nhìn vào mắt nhau, có lẽ để đỡ đau đớn trong cuộc gặp đấy, mà cũng là chia ly ngay đấy. Nguyễn Đình Thi bảo con chữ độc nhất, nặng tình nhất, ngời sáng nhất, ngay cả với ông trong bài thơ ngắn này là chữ còn. Còn ôm đây, đang ôm em trong vòng tay mà biết sẽ phải buông tay biệt ly. Chỉ trong phút giây ngắn ngủi, cái đang còn, đồng hành với cái sắp mất. Ý nghĩa triết lý thật mạnh, về cái tình mong manh đến hư vô trong chiến tranh, khi cả hai “không nói”, vì chỉ gặp nhau trong một lát ngắn ngủi, chỉ nhìn, mà không cùng một hướng. Em em nhìn đi đâu. Còn anh chỉ nhìn em: môi, mắt… Nhìn lần nữa, một cái nhìn hoang hoải vô thường, để biết em phải đi, đi thật, xa hút, phút chốc chỉ còn thấp thoáng bóng nhỏ khuất dần trong chiều mờ, xiêu xiêu mưa, đường lầy, gió hút… Và mưa cứ bay từ đầu đến cuối bài thơ trong nỗi chia ly đau đớn đến không nói xuyên suốt bài thơ. 

Sau này, trong cuộc chiến chống Mỹ, Nguyễn Đình Thi lại có một cuộc gặp và chia tay thoáng chốc trong một bài thơ khác: Lá đỏ.

Có điều, chủ thể thơ không một mình, nhân vật trữ tình em của ông cũng không một mình. Người đi trong đoàn quân xanh màu lá, gặp em gái tiền phương trong rừng Trường Sơn, trên cao lộng gió, áo ào rụng đầy lá đỏ. Em đứng bên đường, thân mật như quê hương, vai áo bạc, quàng súng trường. Đoàn quân vẫn đi vội vã, chào vội vã em gái tiền phương, hẹn gặp nhé, trong thắm đỏ ngày giải phóng Sài Gòn. Màu lá thắm đỏ bài thơ, thắm đỏ cuộc hẹn gặp ngày chiến thắng, khác với nỗi buồn lặng, màu không xác định của mưa bay, trong Không nói của giữa thế kỷ trước.

2. Tự do kịch từ… thơ tự do

Theo một chỉ định triết học về tự do thơ, Nguyễn Đình Thi đã dõi theo ánh sáng xanh của ngôi sao thơ tự do, từng đã lấp lánh suốt thời trai trẻ, “soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây” mà dò tìm tới kịch. Ông lại nhọc nhằn một mình phát quang con đường chông gai, có lúc đổ cả máu, theo nghĩa bóng, mới gắn được mấy cột mốc chói lọi trên đường kịch nghệ của ông, của thờ đại, mà đằng sau cái chói lọi ấy, không gì khác hơn, chính là bi kịch riêng của sự đơn độc “một mình tôi trên đường”. Con nai đen của ông, do bị đình diễn sau vài buổi diễn hiếm hoi. Nguyễn Trãi ở Đông Quan rực sáng chói lọi trên sàn diễn Nhà hát Kịch Việt Nam, vở diễn lộng lẫy, hoành tráng nhất của Hội diễn Kịch Việt Nam toàn quốc năm 1980. Và nữa, kịch bản đỉnh cao của ông: Rừng trúc, viết xong từ 1978, mà năm 2000 mới được biểu diễn thành công vang dội trong Hội diễn Kịch Việt Nam toàn quốc.

Ba vở diễn này trong số kịch bản đã và chưa được dàn dựng của Nguyễn Đình Thi, mang dấu ấn đặc hiệu cho cá tính sáng tạo Nguyễn Đình Thi. Câu hỏi triết học đặt ra trước Nguyễn Đình Thi: kịch là một thể loại có đông đúc công chúng. Kịch bản văn học hoàn thành trên văn bản mới xong đoạn đầu, sau đó, nó phải được một cộng đồng sáng tạo tiếp biến, chuyển ngữ sang ngôn ngữ dàn dựng của đạo diễn, ngôn ngữ biểu diễn vai kịch của diễn viên trên sàn diễn, với một số cộng đồng sáng tạo nữa, mới tạo thành vở diễn. Song, với vai trò người viết, với một lối độc đáo, đong đầy suy tư thế sự, Nguyễn Đình Thi vẫn cứ là một kẻ lữ hành đơn chiếc trên con đường của một nghệ thuật đông vui: nghệ thuật sân khấu.

Là kẻ hậu sinh, không được tận mắt chứng kiến “bi kịch” bị gãy đổ vở diễn Con nai đen, vở đầu đời sân khấu của ông, nhưng là một “ký giả kịch trường” của tạp chí Sân khấu từ 1977, tôi tận mắt chứng kiến, ít nhiều tham dự vào hai vở đặc hiệu chất Nguyễn Đình Thi, đó là Nguyễn Trãi ở Đông QuanRừng trúc, với số phận ba đào gềnh thác của cả hai trên sân khấu và trong giới sân khấu, từ 1978 đến năm 2000, vắt cả sang đầu thế kỷ 21.

So với văn chương, chỉ là của cái viết, kịch là loại hình “lưỡng nghi”, tổng hòa cả cái viết, và cái dàn dựng, để dẫn đến cái diễn. Cặp đôi tác giả quan trọng nhất của “lưỡng nghi” này là tác giả và đạo diễn. Và hai kịch bản này của Nguyễn Đình Thi đều do một tay Nguyễn Đình Nghi dàn dựng. Vì thế, đây là cuộc hạnh ngộ sang trọng, sáng giá nhất của giới sân khấu Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ vận động “hiện đại hóa” của mình.

Từ góc nhìn sân khấu, có thể thấy Nguyễn Đình Thi đã chạm vào một vấn đề cơ bản nhất về cái viết-sân-khấu: viết về các nhân vật lịch sử trong thì hiện tại của hôm nay. Và cái viết độc đáo này đã dựng lên những nhân vật lịch sử sừng sững trên sân khấu Việt hiện đại. Không một chút ngẫu nhiên, nhân vật chính của Nguyễn Trãi ở Đông Quan là Nguyễn Trãi, và nhân vật chính của Rừng trúc là bộ ba: Trần Thủ Độ, Trần Cảnh, Lý Chiêu Hoàng.

Trong hồi ức về kịch(4), Nguyễn Đình Thi kể rằng ông có ba vở kịch viết trong những ngày Tết (Hoa và Ngần - Tết Giáp Dần 1974, Rừng trúc - Tết Mậu Ngọ 1978 và Nguyễn Trãi ở Đông Quan - Tết Kỷ Mùi 1979) “đều lấy việc xảy ra ở Thăng Long Hà Nội và kết thúc ở cảnh Tết, (…) viết xong mỗi vở, đọc lại, thấy trong kịch còn nhiều uẩn khúc đau đớn, nguy hiểm trắc trở, song cuối cùng đều tự nhiên có hậu, như vậy có ai đi xem bói kịch ngày Tết, cũng sẽ không thấy là bị xúi. Tiếc rằng cả ba vở kịch Tết của tôi đều không được may mắn. Vở Hoa và Ngần được Đoàn Kịch Hà Nội dựng, anh Dương Ngọc Đức đạo diễn (…), tổng duyệt rồi không được ra mắt đầu năm 1975 (…). Vở Nguyễn Trãi ở Đông Quan, vào đầu năm 1980, trong dịp lễ kỷ niệm 500 năm ngày sinh Nguyễn Trãi, được Đoàn kịch Trung ương dựng, anh Nguyễn Đình Nghi đạo diễn. Cũng có những eo sèo chê bai, cả những đe nẹt trong quá trình dựng vở, nhưng nhà đạo diễn và các anh chị diễn viên đều làm việc quên mình (...). Cuối cùng vở kịch được ra mắt trên sân khấu Nhà hát Lớn, gây ra sóng gió dư luận. Vở kịch được diễn thêm ít buổi rồi phải thôi, không được phép tiếp tục.

Rừng trúc, năm sau được Đoàn kịch điện ảnh để ý. (…) Anh Trịnh Huệ, trưởng đoàn, quyết tâm cho dựng vở kịch mời anh Nguyễn Đình Nghi đạo diễn, Tuệ Minh vào vai Lý Chiêu Hoàng rạng rỡ (…). Anh Trịnh Huệ một hôm cho tôi biết vở kịch không được phép dựng, công việc đành phải xếp lại (...). Anh Nguyễn Đình Nghi có lòng yêu vở này, nhiều năm nghiền ngẫm, mỗi lần gặp tôi, anh lại trao đổi về cách dàn dựng. Cho đến 21 năm sau khi viết, vở Rừng trúc được Nhà hát Tuổi Trẻ dựng 1999, do anh Nguyễn Đình Nghi đạo diễn, có chị Phạm Thị Thành cùng giúp, Lê Khanh tạo được một vai Lý Chiêu Hoàng đầy ấn tượng. Thời gian tập mất non ba tháng, anh Nguyễn Đình Nghi đã rất yếu, vẫn ngày ngày đến làm việc (…). Vở tập xong không may đúng lúc tôi bị đau nặng…, buổi diễn ra mắt ở Nhà hát thành phố tôi không đến được… Nhưng về sau, ra viện tôi có được xem. Như vậy, dù sao tôi cũng được nhìn thấy các nhân vật kịch của tôi sống trong ánh điện sân khấu. Tôi nghĩ đến anh Nguyễn Huy Tưởng, khi vở Vũ Như Tô của anh được diễn thì anh đã mất trên 30 năm”.

Khi viết hai kịch bản này, ông được hưởng thú cô đơn một mình trên nhà sáng tác của Hội Nhà văn trên Quảng Bá: “Gần Tết, không ai lên viết, tôi một mình tha hồ hưởng cả một khu vườn rộng có trồng nhãn, vải thiều, đều đã cao xum xuê. Hai cái Tết ấy, tôi được có một người bạn im lặng: một gốc mai nhỏ, cao chừng nửa mét ở giữa vườn, những cành nhỏ chắc, chia ra những nhánh hết sức thanh nhã, đến tháng Tết, lấm tấm đầy những đốm hoa trắng muốt rung rung trong gió bấc. Có những buổi tôi ngồi xổm ngắm nhìn những cành mai ấy, lòng nôn nao thấy cuộc sống kỳ diệu vượt hết mọi tưởng tượng”.

Và ông đã viết trong tâm thế thăng hoa bát ngát từ một tình yêu Hà Nội thắm đượm màu lịch sử. Lung linh hiển hiện Nguyễn Trãi, Ức Trai vằng vặc sao Khuê, long lanh đỏ tươi giọt máu cuối cùng của hơn 200 năm vương triều nhà Lý hiển hách, đã kết thúc sứ mệnh lịch sử của mình trong bi kịch Lý Chiêu Hoàng:

Nguyễn Đình Thi thấy sự vận hành lịch sử Việt trong những nhân vật lịch sử và trong những mạch sống của dân tộc, nhất là vào những nhịp sống tưởng chừng đứt gãy. Những lúc ấy, vai trò của những nhân vật lịch sử đích đáng thường là những trí thức lớn, có tầm cỡ khác thường. Không có cái ngẫu nhiên, khi Nguyễn Đình Thi cắt một lớp lang thời gian trong văn bản kịch thường trùng với một biến thiên vĩ đại của kịch sử, và thông qua một cá nhân và trong hình thức thể loại kịch. Thơ, kể cả thơ tự do, khởi nguồn từ triết học, cũng không chứa nổi những suy tư lớn của ông về nhân tình thế thái trong thời đại ông đang sống và đang liên hồi đặt ra những vấn đề lớn cho người trí thức Việt nữa.

Rốt cuộc, vở kịch của Nguyễn Đình Thi đã phải chờ đợi hơn hai mươi năm, mới được dàn dựng theo đúng ý tưởng nghệ thuật-lịch sử mà ông nhấn mạnh trong kịch bản của mình, nhờ vào sự chuyển hóa thành ngôn ngữ dàn dựng sân khấu cực kỳ chuyên nghiệp của đạo diễn Nguyễn Đình Nghi, ngôn ngữ biểu diễn nhân vật Lý Chiêu Hoàng rất tinh tế, sang trọng, chân thực của nghệ sĩ Lê Khanh và dàn diễn viên sáng giá của Nhà hát Tuổi trẻ. Sau thành công rất đích đáng này, Rừng trúc đã thành một trong vài vở được coi là “kinh điển” của Nhà hát Tuổi trẻ và không chỉ Nhà hát Tuổi trẻ.

… Trên hành trình cô đơn của cuộc đời mình, có lẽ Nguyễn Đình Thi chỉ neo buộc mình vào một thứ là “sự sống”, một thứ không bao giờ với ông là chán nản. Trước khi lui vào cõi vĩnh hằng, ông còn kịp nghĩ: Sự sống của loài người vẫn đang tự mở đường đi lên, không gì ngăn cản được. Tôi tìm một chỗ tựa cho niềm hy vọng ấy trong sự sáng tạo nghệ thuật. Và ông đã khởi hành từ thơ tự do, kết thúc cuộc hành hương nghệ thuật ở kịch.

Ai có thể có một thứ hạnh phúc trong đơn độc, được hóa thành hạt bụi vàng như ông từng viết trong bài thơ Tia nắng:

Em đấy ư, em, tia nắng đến khẽ trong căn nhà nghèo nàn của anh

Anh nhìn… mỗi hạt bụi bay thành hạt vàng.


(1) Nguyễn Đình Thi là tác giả của những sách: Siêu hình học, Triết học Kant, Triết học Nietzsche, Triết học Descartes… đều do Tủ sách triết học Tân Việt, NXB Tân Việt, Hà Nội, xuất bản năm 1941, 1943.

(2) Sách Nguyễn Đình Thi - về tác giả và tác phẩm (Hà Minh Đức và Trần Khánh Thành giới thiệu và tuyển chọn). NXB Giáo dục, tr.215 - 229. Bài Cuộc tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi. XD ghi theo biên bản Hội nghị, chiều 28. Tạp chí Văn nghệ số 17, 18, tháng 11,12-1949.

Theo chú thích, bài tường thuật này do Xuân Diệu ghi. Những người tham gia cuộc tranh luận này: Xuân Diệu, Tâm Trung, Thanh Tịnh, Văn Cao, Ngô Tất Tố, Tố Hữu, Phan Thị Nga, Thế Lữ, Nguyên Hồng, Xuân Trường, Nguyễn Huy Tưởng, Hữu Tâm, Nguyễn Đình Phúc, Nguyễn Xuân Khoát, Phạm Văn Khoa, Xuân Thủy… với lời kết của chủ tịch đoàn: Tố Hữu. Hồi đó, Nguyễn Đình Thi 24 tuổi, mới in 5 bài thơ ngắn. Nguyễn Đình Thi coi chùm thơ: Đường núi, Không nói, Sáng mát trong như sáng năm xưa in trên Văn nghệ hồi Việt Bắc là những bài đầu tay. Không nói in đầu tiên trên tạp chí Văn nghệ số 6, 11-1948.

(3) Sđd, Nguyễn Đình Thi - về tác giả và tác phẩm. Nguyễn Văn Nam, tác giả bài Thơ Nguyễn Đình Thi, tr.245, đã chú thích như sau: Các bài thơ trong bài này đều lấy ở tập Người chiến sĩ in lần thứ 2, NXB Văn học, 1960 và Bài thơ Hắc Hải, NXB Văn học, 1959. So với các bản in trước, có những thay đổi. Ví dụ: bài Đêm sao nguyên là bài Đêm mít tinh trong Tập văn cách mạng và kháng chiến. Bài Đất nước nguyên là bài Sáng mát trong như sáng năm xưa nói trong Hội nghị tranh luận văn nghệ ở Việt Bắc. Cũng cần nói thêm, Nguyễn Đình Thi còn một số thơ nữa chưa đưa được vào hai tập thơ này.

(4) Nguyễn Đình Thi, Tác phẩm chọn lọc, Thay lời bạt, NXB Sân khấu, Hà Nội, 2005, tr.814 - 822.