HV156 - “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”: Chiến thắng của trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam

LTS: PGS-TS Đào Duy Quát, nguyên Phó ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương, là người đã chiến đấu (trung đoàn trưởng) trong binh chủng Phòng không - Không quân 20 năm. Bốn mươi năm đã trôi qua sau chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, đọc bài nghiên cứu này, lòng chúng ta đầy tự hào, xúc động về chiến công chói lọi, một kỳ tích vô song của thế kỷ 20.

Bộ đội tên lửa tham gia bảo vệ Hà Nội 12 ngày đêm cuối năm 1972

Để nhận thức sâu sắc những nhân tố chính trị tinh thần tạo nên chiến thắng lịch sử oanh liệt này, chúng ta hãy cùng nhau suy ngẫm về những sự kiện lịch sử trực tiếp thể hiện nổi bật sức mạnh của bản lĩnh, khí phách, trí tuệ Việt Nam, thể hiện sức mạnh của đức hy sinh cao thượng Việt Nam.

Trước hết hãy tiếp cận tương quan lực lượng trong cuộc tập kích chiến lược có một không hai trong lịch sử chiến tranh hiện đại của thế kỷ 20.

Đế quốc Mỹ quyết định tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B-52 nhằm những mục tiêu sau:

- Đánh phá hủy diệt tiềm lực kinh tế quốc phòng của miền Bắc, trước hết là tàn phá Hà Nội, thành phố cảng Hải Phòng, khu gang thép Thái Nguyên… hạn chế tối đa sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam, làm tê liệt ý chí chiến đấu, quyết chiến, quyết thắng của dân tộc ta, ép buộc ta phải chấp nhận ký Hiệp định Paris theo các điều khoản sửa đổi của chúng, đe dọa phong trào đấu tranh vì hòa bình độc lập dân tộc của nhân dân thế giới.

Để thực hiện mưu đồ rất thâm độc và tàn bạo này, theo lệnh của Tổng thống Nixon, từ tháng 11-1972 Lầu Năm Góc đã chính thức xây dựng kế hoạch cho cuộc tập kích đường không chiến lược mang tên “Cuộc hành binh Linebaker II”. Theo kế hoạch này Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đã huy động một lực lượng vũ khí kỹ thuật khổng lồ và hiện đại bậc nhất của không quân và hải quân Mỹ. Đây là cuộc huy động lực lượng tập kích đường không lớn nhất của đế quốc Mỹ kể từ sau thế chiến II đến năm 1972, trong đó gần 50% tổng số máy bay B-52 hiện có (193/404). Hơn 1/3 tổng số máy bay chiến thuật (cả tiêm kích và cường kích, 1.077/3.041 chiếc trong đó có một biên đội F-111 với 50 chiếc) chưa kể hàng trăm máy bay trinh sát, máy bay gây nhiễu, máy bay tiếp dầu, máy bay chỉ huy liên lạc dẫn đường; 1/4 tổng số tàu sân bay của toàn nước Mỹ (6/24 chiếc), 60 tàu chiến các loại của Hạm đội 7.

Các máy bay B-52 xuất phát từ hai sân bay Guyam và Utapao (Thái Lan). Các máy bay chiến thuật xuất phát từ 6 tàu sân bay đậu trên biển Đông và 6 sân bay trên đất Thái Lan. Với một loạt các căn cứ hậu cần kỹ thuật của Mỹ đóng ở Nhật, Philippines.


Bộ đội tên lửa những ngày đánh trận Điện Biên Phủ trên không

Đáng chú ý: Tất cả các máy bay chiến lược và chiến thuật được huy động vào trận tập kích đường không chiến lược này đều là các loại máy bay được cải tiến kỹ thuật mới nhất nên có tính năng kỹ thuật tối ưu phục vụ cho các ý đồ chiến lược, chiến thuật của cuộc tập kích đường không này. Thể hiện nổi bật trên những ý đồ sau đây: Hệ thống máy gây nhiễu điện tử từ xa lắp trên các máy bay đặc chủng để gây nhiễu như EA-6A, EB66 B-C-D-E, EC-121, và các máy gây nhiễu điện tử từ xa hiện đại, được lắp trên mỗi chiếc B-52 là 15 chiếc, lắp 2 chiếc trên một máy bay tiêm kích hộ tống các B-52, cho nên mỗi tốp B-52 (3 chiếc) đã có 45 máy gây nhiễu điện tử từ xa, và 45 máy bay F-4 hộ tống với 90 máy điện tử gây nhiễu.

Trong 12 ngày đêm tháng 12-1972, trước mỗi đợt tập kích, không quân Mỹ thả sợi kim loại tạo thành một bức tường bằng sợi kim loại cao từ 3km - 4km, rộng 5km - 6km, dài 40km - 70km. Đây là bức tường khổng lồ nhiễu tiêu cực. Trong mỗi đợt tập kích, lúc nào trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng cũng đều có một tốp 2 máy bay gây nhiễu điện tử từ xa, mỗi chiếc mang theo 25 máy gây nhiễu liên tục, gây nhiễu tích cực đối với hệ thống ra đa của ta, cùng với thủ đoạn dùng B-52 tập kích vào ban đêm hầu như loại trừ mọi khả năng quan sát bằng các kính quang học nhìn xa của các đài quan sát dưới đất của các trận địa pháo cao xạ và khả năng nhìn trực tiếp của các phi công MiG21; cùng thủ đoạn gây nhiễu “giả B-52”. Nói một cách khái quát chúng ta đã đối mặt với một cuộc chiến tranh điện tử hiện đại nhất của Mỹ trong thế kỷ 20. Cuộc chiến tranh điện tử này là một hình thái tổng hợp giữa yếu tố kỹ thuật của các thiết bị điện tử tối tân nhất với các thủ đoạn chiến thuật cực kỳ tinh vi và lợi hại.


Đơn vị pháo cao xạ bảo vệ thủ đô đã bắn rơi nhiều máy bay B-52 trong trận 12 ngày đêm

Bộ Quốc phòng Mỹ đã coi nhiễu điện tử là niềm kiêu hãnh của nền công nghiệp hàng đầu của Mỹ, là sức mạnh siêu phàm, là lá bùa mầu nhiệm. Với cuộc chiến tranh điện tử này, chúng có thể đã làm mù toàn bộ hệ thống ra đa của đối phương. Từ hệ thống ra đa cảnh giới dẫn đường, ra đa của tên lửa, ra đa pháo phòng không đến gây nhiễu hệ thống thông tin liên lạc của ta. Bằng hệ thống gây nhiễu điện tử này theo tính toán của Bộ Chỉ huy không lực Hoa Kỳ, lực lượng pháo đài bay B-52 trở thành lực lượng tập kích đường không khổng lồ nhưng lại là lực lượng “tàng hình” nên sẽ loại hoàn toàn tên lửa và pháo phòng không ra khỏi đối tượng tác chiến, do đó ngay từ đêm đầu tiên của chiến dịch, sau khi chúng tiến hành đồng loạt các thủ đoạn gây nhiễu ngoài đội hình, trong đội hình bằng nhiều tích cực, tiêu cực, tạo nhiễu B-52 giả… Bộ chỉ huy không quân Mỹ cho lực lượng cường kích bay thấp F-111 và lực lượng cường kích F-4, F-105, A-6, A-7, A-4 đồng loạt tiến công tất cả các sân bay của không quân ở Hà Nội, Bắc Giang, Yên Bái, Hải Phòng, Thanh Hóa. Tiếp theo ngay sau đó là tung lực lượng pháo đài bay B-52 xông vào rải thảm bom để hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác. Trong 12 ngày đêm chúng đã rải hơn 100.000 tấn bom, phá hủy 5.400 ngôi nhà, hơn 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện; giết chết 2.388 dân thường, làm bị thương 1.355 người khác. Độ tàn bạo của cuộc rải thảm bom hủy diệt này như là một “Hiroshima không có bom nguyên tử”. Tại Hội nghị đàm phán bốn bên ở Paris, ngày 8-1-1972 ta đã đưa ra dự thảo Hiệp định “Về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Phía Mỹ đã chấp thuận bản dự thảo này. Những thỏa thuận đó là:

- Ngày 18-10, Mỹ chấm dứt ném bom trên toàn bộ và ngừng rải mìn phong tỏa các cảng ở miền Bắc.

- Ngày 20-10 sẽ diễn ra lễ ký tắt Hiệp định tại Hà Nội.

- Ngày 26-10, lễ ký kết Hiệp định chính thức giữa bốn bên tại Paris.

- Ngày 27-10, ngừng bắn trên toàn cõi Việt Nam, hòa bình ở Việt Nam được vãn hồi.

Nhưng sau đó, phía Mỹ đã bội ước, sau khi Tổng thống Nixon đã thỏa hiệp được với một số nước lớn. Phía Mỹ không những không thực hiện lộ trình của thỏa thuận này mà lại thực hiện những thủ đoạn xảo trá đánh lừa và trấn an dư luận Mỹ thông qua màn khói “Hòa bình đang ở trong tầm tay” để đầu tháng 11 sau khi có kết quả tái cử vào Nhà Trắng lập tức Tổng thống Nixon, cố vấn Kissinger, Bộ trưởng Quốc phòng Laird, Thứ trưởng Quốc phòng Haig và Chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân Moorer thông qua kế hoạch tuyệt mật: “Cuộc hành binh Linebaker II”.

Năm 1972, bộ đội Phòng không - Không quân của ta phải đảm đương 3 nhiệm vụ rất nặng nề: Tham gia chiến đấu trong đội hình quân binh chủng hợp thành ở chiến trường phía Nam, vừa phải bảo vệ vùng giải phóng Quảng Trị và giao thông vận tải chiến lược trên địa bàn Quân khu 4 và sẵn sàng đánh trả cuộc tập kích chiến lược đường không vào Hà Nội, Hải Phòng. Do đó lực lượng tên lửa bảo vệ thủ đô có 10 tiểu đoàn (3 trung đoàn) và sau bổ sung thêm dăm tiểu đoàn nữa. Bảo vệ Hải Phòng có 2 trung đoàn tên lửa. Pháo cao xạ của Hà Nội, Hải Phòng cùng với lực lượng phòng không của Quân khu 3, Quân khu Việt Bắc cũng chỉ có 15 trung đoàn.

Lực lượng dân quân tự vệ Hà Nội ngoài 4 trung đội pháo 100 ly còn có gần 200 trận địa trung liên, đại liên, súng máy 12,7 ly, 14,5 ly. Máy bay tiêm kích MiG-21, loại có tính năng vượt trên tầm cao của B-52 chỉ có vài trung đoàn nhưng số phi công lái MiG-21 có khả năng bay đêm lại không nhiều. Lực lượng ra đa cảnh giới dẫn đường cũng chỉ có gần 30 đại đội được bố trí khắp miền Bắc.

Căn cứ vào những số liệu về lực lượng địch ta nói trên ta thấy lực lượng của Mỹ chiếm ưu thế áp đảo cả về số lượng và kỹ thuật hiện đại tối tân - đúng như Nixon đã khẳng định trong một cuốn sách của mình: “Trong lịch sử nhân loại chưa hề có một quốc gia nào chiếm ưu thế hơn hẳn về vũ khí như Hoa Kỳ so với Bắc Việt Nam…”(*).

Ngày 12-6-1966, Mỹ cho B-52 ném bom đèo Mụ Giạ ở Quảng Bình rồi mở rộng ra đến Vĩnh Linh. Chính ủy Quân chủng Phòng không - Không quân được Bác Hồ mời lên gặp và giao nhiệm vụ: “Máy bay B-52 Mỹ đã ném bom miền Bắc. Phải tìm cách đánh cho được B-52. Nhiệm vụ này Bác giao cho các chú Phòng không - Không quân”. Từ năm 1966 - 1967, Quân chủng Phòng không - Không quân đã cử hai đoàn cán bộ tên lửa, một đoàn cán bộ ra đa, một đoàn cán bộ thông tin, một đoàn cán bộ không quân vào tuyến lửa Quảng Bình, Vĩnh Linh và biên giới Việt - Lào để nghiên cứu nhiễu, nghiên cứu B-52, đồng thời đưa hai trung đoàn tên lửa, và một số phi đội MiG-21 vào trực tiếp đánh B-52 trên vùng trời Quảng Bình, Vĩnh Linh để rút kinh nghiệm. Vì xác định đúng các đường bay B-52 vào đánh Hà Nội, Hải Phòng cho nên, số lượng đơn vị tên lửa, pháo phòng không, MiG-21 của ta rất có hạn nhưng đã bố trí đủ lực lượng cần thiết trên từng đường bay, nhất là tạo được lực lượng mạnh, lưới lửa nhiều tầng trên các hướng đường bay chủ yếu.


B.52 Mỹ phơi xác trên đường phố Hà Nội

Từ kết quả điều tra nghiên cứu cách đánh B-52 ở vùng trời Quảng Bình, Vĩnh Linh, Nghệ An và biên giới Việt - Lào, cùng những kinh nghiệm xương máu trong phương pháp “vạch nhiễu” tìm B-52 của tên lửa và MiG-21 trên vùng trời khu vực này, Bộ tham mưu quân chủng cùng các binh chủng của quân chủng đã tổng kết biên soạn được các cuốn sách:

- Quy trình bắt B-52 trong nhiễu của binh chủng ra đa.

- Cách chống nhiễu thông tin của bộ đội thông tin.

- Cách đánh B-52 của tên lửa SAM-2, của máy bay MiG-21, của pháo cao xạ 100 ly.

- Cách đánh máy bay chiến thuật của không quân và hải quân Mỹ.

- Cách đánh máy bay cường kích F-111.

- Cách đánh máy bay trinh sát thấp.

- Cách đánh máy bay ném bom điều khiển bằng tia laser.

- Cách chống tên lửa không đối đất Sơrai.

Các tài liệu này thực sự là cẩm nang quý để truyền thụ và tổ chức luyện tập thành thạo từng cách đánh cụ thể cho từng đối tượng cụ thể. Riêng cuốn cẩm nang đánh B-52, tập thể những chuyên gia biên soạn cuốn sách này đã được đưa đến các tiểu đoàn tên lửa ở Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An để trực tiếp huấn luyện cho các kíp trắc thủ.

Đầu xuân năm 1968, Bác Hồ đã mời Tổng tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam Phùng Thế Tài, nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, lên và Bác đã đưa ra một dự báo và nhận định thiên tài: “Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Chú nên nhớ trước khi đến Bàn Môn Điếm ký Hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở miền Nam, Mỹ nhất định thua nhưng nó chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội”.

Sau chỉ thị của Bác, một kế hoạch đặc biệt quan trọng mang tên “Phương án đánh trả cuộc tập kích chiến lược đường không bằng B-52 của Mỹ, bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng” của Quân chủng Phòng không - Không quân được ra đời ngày 27-2-1968. Bản kế hoạch này đã gợi mở được một số vấn đề rất cơ bản, một số nội dung rất quan trọng. Từ những vấn đề được gợi mở của bản kế hoạch đầu tiên này, tiếp thụ những thông tin quý giá, những kinh nghiệm xương máu của các lực lượng quân báo, các đơn vị ra đa, tên lửa, cao xạ, không quân, thông tin, hậu cần, kỹ thuật. Đến năm 1972, phương án ban đầu được liên tục bổ sung, phát triển thành “Phương án tháng 5-1972”, “Phương án tháng 9”, “Phương án tháng 11” - đây là bản kế hoạch đánh B-52 hoàn chỉnh nhất đã được Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng ký duyệt ngày 24-11-1972. Phương án lịch sử này là sự kết tinh bản lĩnh, khí phách, trí tuệ của Đảng vĩ đại, Bác Hồ kính yêu, quân đội anh hùng, Quân chủng Phòng không - Không quân anh hùng!

Từ cuối tháng 11 đến nửa đầu tháng 12, từ phương án chung này của quân chủng đã được cụ thể hóa thành những kế hoạch chiến đấu của từng binh chủng như ra đa, tên lửa, cao xạ, không quân… Và được tổ chức luyện tập nghiêm túc, chu đáo, được cán bộ chỉ huy các cấp và các đơn vị xử lý thành thạo những tình huống đặt ra.

10g30 ngày 17-12-1972, theo lệnh của Bộ Tổng tham mưu, toàn bộ lực lượng của Quân chủng Phòng không - Không quân, cùng lực lượng dân quân tự vệ của Hà Nội, Hải Phòng… đã vào tư thế sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Quân dân Hà Nội, Hải Phòng… đã thực sự chủ động đi vào chiến dịch lịch sử 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972.

Đêm 18-12, binh chủng ra đa cảnh giới dẫn đường đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ canh trời Tổ quốc. 19g, đại đội 16 ra đa phát hiện có nhiễu B-52, kíp trắc thủ trực ban của đại đội đã kịp thời thông báo những tọa độ đầu tiên của B-52 khi nó đang bay lên phía thượng Lào. 19g45, đài trưởng ra đa của đại đội 45 Nghiêm Đình Tích báo cáo: “B-52 đang bay vào Hà Nội”. Khi tốp B-52 đầu tiên còn cách Hà Nội 300km, toàn bộ lực lượng của Quân chủng Phòng không - Không quân vào tư thế sẵn sàng chiến đấu cấp I. 20g20, thực hiện lệnh của tiểu đoàn trưởng D59.E261, sĩ quan điều khiển Dương Văn Thuận đã ấn nút phóng đưa quả đạn tên lửa mang số hiệu C202A vạch trời đêm bay trúng đích hạ tại chỗ chiếc B-52G xuất phát từ Guam, rơi xuống địa phận Phù Lỗ, Đông Anh, Hà Nội. Đây là chiếc B-52 đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ của chiến dịch, cũng là chiến công đầu, ngay trong ngày đầu của quân dân thủ đô anh hùng. 

Đêm đầu tiên của chiến dịch, quân dân ta lập công vang dội: bắn rơi 3 pháo đài bay B-52, bắt sống 7 giặc lái.

Trong 12 ngày đêm của chiến dịch lịch sử, binh chủng tên lửa lập chiến công cao nhất: bắn rơi 36 trên tổng số 81 máy bay các loại, trong đó bắn rơi 29 máy bay B-52 trên tổng số 34 máy bay B-52 bị bắn rơi. Tất cả 16 máy bay B-52 bị bắn rơi tại chỗ đều là chiến công của bộ đội tên lửa anh hùng. Trong 12 ngày đêm của chiến dịch, các cán bộ chiến sĩ tên lửa đã sáng tạo những cách đánh đầy bản lĩnh và khí phách tiến công, thông minh sáng tạo để xử lý mọi thủ đoạn gây nhiễu, gạt được các tên lửa không đối đất Sơrai, tách được nhiều B-52 giả, tiết kiệm tên lửa, nâng cao hiệu quả tiêu diệt B-52. Các chiến sĩ lái xe chở tên lửa đã vượt qua bom đạn cung cấp đạn kịp thời cho các trận địa tên lửa. Các chiến sĩ của các tiểu đoàn 5 - tiểu đoàn lắp ráp, nạp nhiên liệu cho tên lửa đã sáng tạo nên những sáng kiến khôi phục hàng nghìn quả tên lửa quá đát, có những chiến sĩ chấp nhận nhiễm độc của nhiên liệu tên lửa nhằm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này.

Trong hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ đối với miền Bắc, chưa bao giờ đế quốc Mỹ chịu tổn thất nặng nề như trong chiến dịch 12 ngày đêm đánh vào Hà Nội, Hải Phòng… Trong chiến dịch lịch sử này, 81 máy bay Mỹ bị bắn rơi trong đó: 34 máy bay B-52, 5 máy bay F-111, 21 máy bay F-4, 4 máy bay A-6A, 12 máy bay A-7, 1 máy bay F-105, 2 máy bay RA-5C, 1 trực thăng HH-53, 1 máy bay trinh sát 147SC. Đúng như Phó chỉ huy không quân chiến lược Mỹ, Tướng George Etter phải cay đắng thú nhận: “Tổn thất về máy bay chiến lược B-52 cùng phi hành đoàn là hết sức nặng nề, là đòn choáng váng đánh thẳng vào những nhà vạch kế hoạch của Lầu Năm Góc”.

Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” là đài vinh quang chói lọi, là niềm kiêu hãnh tự hào về Đảng vĩ đại, Bác Hồ kính yêu, về dân tộc Việt Nam anh hùng và Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, về Quân chủng Phòng không - Không quân anh hùng.♦


(*) No more Vietnams, Richard Nixon, Arbor House, New York, 1985.