HV160 - Sinh thái học thế kỷ 21

Sergei Bereznyuk lần đầu tiên nhìn thấy một con hổ được thả tự do khi anh đang tuần tra khu vực anh làm việc - một khu vực rộng lớn ở Viễn Đông Nga, nơi sinh sống của 95% số hổ Amur còn lại trên thế giới.

Trọng lượng trung bình của con vật này là 200kg, đây là một trong những đại diện lớn nhất của bộ mèo. Người ta ước tính rằng khoảng 500 loài động vật tuyệt đẹp như vậy vẫn còn ở khu vực biên giới nằm giữa Nga, Trung Quốc và biển Nhật Bản.

Giống như tất cả các đại diện khác của loài này, hổ Amur đã phải chịu sự tiêu diệt của những kẻ săn mồi trong nhiều thập kỷ. Kết quả là số lượng hổ tự do đã giảm từ 100.000 con vào đầu thế kỷ 20 xuống còn khoảng 4.000 con ngày nay. Và sự dã man này vẫn tiếp diễn, mặc dù việc bảo vệ những loài động vật như thế được ghi trong nhiều tài liệu quốc tế khác nhau.

Bereznyuk đã dành gần như cả cuộc đời mình để chiến đấu với những kẻ săn trộm ấy ở vùng này của Nga. Ông bắt đầu tuần tra rừng như một phần của đội quân chống săn trộm vào năm 1995. Nhưng nhận thấy điều đó chưa đủ, ông đã thành lập một tổ chức phi chính phủ có tên “Fenike Foundation” để cải thiện mô hình tuần tra đồng thời giáo dục thế hệ trẻ - “Chúng tôi cố gắng thực hiện các dự án giáo dục. Nếu hổ còn sống, nghĩa là chúng ta còn có nguồn nước tốt, có rừng, có nghĩa là nhiều loài động vật khác sống bình thường...”.

Sáu người cùng làm việc với Bereznyuk, và phạm vi trách nhiệm của họ rất lớn - 166.000km2 . Mặc dù đã đạt được những thành công nhỏ, hổ Amur hiện không còn “trong tình trạng nguy cấp” nữa nhưng vẫn tiếp tục được báo giá cao trên thị trường chợ đen ở các nước châu Á và vẫn còn là nạn nhân của những kẻ săn trộm.

Một dự án khác nhằm nghiên cứu các loài săn mồi lớn ở biển - cá ngừ và cá mập. Nhà khoa học nổi tiếng người Mỹ Barbara Block đang đứng đầu dự án này. 54 tuổi, là giáo sư sinh vật biển tại Đại học Stanford, bà đã dành cả cuộc đời cho việc bảo tồn môi trường sống ở đại dương. Bà phát triển công nghệ mới theo dõi đường di chuyển của cá bằng các thiết bị điện tử để cùng với các nhà nghiên cứu khác tham gia vào cuộc điều tra dân số sinh vật biển (một dự án quốc tế nhằm nghiên cứu sự đa dạng và mật độ của sự sống trong các đại dương trên thế giới) và dẫn đầu dự án “Hãy tạo thẻ hành lý cho cá ngừ”, theo dõi sự di chuyển của cá ngừ vây đỏ ở Đại Tây Dương bằng cách sử dụng các thẻ điện tử. Mục đích là thu hút sự chú ý đến việc làm giảm đáng kể quy mô đánh bắt lớn loài cá này, bởi vì cá mập và cá ngừ đóng vai trò quan trọng trong việc cân bằng môi trường sinh thái biển cả: “Biển Địa Trung Hải, nơi đánh bắt cá lớn vì mục đích thương mại có hệ thống đã dẫn đến sự gia tăng số lượng của các loài cá nhiệt đới thấp hơn. Về cơ bản, đấy là sứa và cá ăn các cá khác. Điều này nên được ghi nhớ và nên tránh”.


Việc đánh bắt cá lớn một cách vô kiểm soát gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái biển


Các em học sinh Trường PTTH Vũ Văn Hiệu (TP.Hạ Long) với Vườn cây sinh thái trong trường

Một phần giải thưởng nhận được, 100.000 franc Thụy Sĩ (khoảng 83.000 euro), bà sẽ dành chi cho việc phát triển kỹ thuật mới giúp theo dõi những gì đang xảy ra trong môi trường biển. Ước mơ ấp ủ của nhà khoa học có thể trở thành hiện thực: mỗi con cá lớn sẽ có một bộ cảm biến điện tử riêng, nhờ đó sẽ không thể đánh bắt một cách vô kiểm soát được. Nhà khoa học tin rằng một cuộc cách mạng mang tính quốc tế về biển xanh là hoàn toàn có thể xảy ra, vì nhận thức về môi trường đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây.

Ý thức này cũng được phát triển bởi một người khác được trao giải: Erika Cuéllar, 41 tuổi, người Bolivia. Trong lĩnh vực nghiên cứu sinh học, bà đạt được thành công đáng kể khi đã bảo vệ hai luận án tại Vương quốc Anh: tại Viện Sinh thái và bảo tồn động vật Darrell và tại Đại học Oxford.

Trong nhiều năm, bà làm việc tại công viên quốc gia lớn nhất Bolivia: Kaa-Iya del Gran Chaco. Đây là một khu vực độc đáo với rừng nhiệt đới khô hạn, nơi sinh sống của 70 loài động vật có vú, bao gồm báo sư tử, báo đốm khổng lồ… Trước khi trở thành công viên quốc gia, khu vực này trong một thời gian dài đã bị khai thác một cách mạnh mẽ, dẫn đến việc giảm thiểu đáng kể số lượng lạc đà không bướu. “Chính người dân địa phương (người da đỏ Guaraní, Ayoreode và Chiquitano) vào năm 1995 đã yêu cầu biến phần này của Gran Chaco thành khu bảo tồn. Với sự giúp đỡ của Quỹ Động vật hoang dã thế giới (WWF), chính phủ đã tạo ra khu bảo tồn thiên nhiên khổng lồ này, có quy mô tương đương với nước Bỉ. Chính phủ cũng trao quyền cho người da đỏ tham gia quản lý công viên. Chúng tôi có thể nói rằng đó là một trải nghiệm độc nhất vô nhị ở Mỹ La tinh” - nhà khoa học nói.

Kể từ năm 1999, Cuellar đã thực hiện các sáng kiến bảo tồn khác nhau trong khu vực. Công việc của bà là lập ra các nhóm đặc biệt gồm những người dân địa phương đam mê sinh học, đào tạo cho họ có kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực hiện các dự án môi trường.

Cuellar hiện là một chuyên gia trong lĩnh vực này, mặc dù như bà nhớ lại, thật không dễ dàng để bà có được uy tín với cộng đồng người da đỏ khi mới bắt đầu công việc: “Thứ nhất, bởi vì tôi là phụ nữ, mà phụ nữ da đỏ thì không biết đi săn, không làm ruộng và không leo núi vào ban đêm. Có những trường hợp tôi đã lưu lại 20 ngày với 30 người đàn ông trong một trại hẻo lánh - nhà khoa học kể - Sau tất cả những điều ấy, tôi vẫn không biết liệu những người ở đây có hiểu tôi hay không, nhưng tôi nghĩ rằng đàn ông tôn trọng tôi và phụ nữ tin tưởng tôi”.

Cuellar sẽ sử dụng giải thưởng tiền mặt của mình để phát triển hợp tác giữa Bolivia, Argentina và Paraguay nhằm mở rộng khu bảo tồn ở Gran Chaco. “Công viên quốc gia Kaa-Iya chỉ là một phần của nó. Gran Chaco có diện tích khoảng 1 triệu km2 và nằm ở ba quốc gia. Đó là lý do tại sao việc phối hợp hành động của ba nước là rất quan trọng” - bà giải thích. Cuellar sẽ tiếp tục thành lập các nhóm đam mê sinh học với hy vọng trong một vài năm tới sáng kiến này sẽ phát triển mạnh mẽ hơn và chính phủ sẽ “công nhận họ là những chuyên gia địa phương, cấp chứng chỉ phù hợp để làm việc lâu dài”.

Là một nhà hoạt động không mệt mỏi và là người sáng lập các tổ chức phi chính phủ ở Bolivia, Cuellar đã được đề cử cho Giải thưởng Rolex. Ngoài hỗ trợ về vật chất, Giải thưởng Rolex sẽ nhấn mạnh tầm quan trọng các dự án của nhà khoa học. Điều đó có tác động to lớn đối với việc giải quyết thành công các vấn đề về bảo tồn động vật hoang dã. Theo Cuellar, phong trào vì môi trường có triển vọng tốt: “Với những phương tiện truyền thông hiện đại nhất, chúng tôi đang dạy mọi người kỹ năng bảo vệ môi trường. Chúng tôi hiểu rằng chúng tôi phải đóng góp cho mục tiêu chung là cải thiện môi trường của hành tinh chúng ta”.♦

TÔ HOÀNG
(Theo báo La Vanguardia,
Tây Ban Nha)