HV161 - Văn hóa Việt, những điều trăn trở

LTS: Đây là bài phát biểu của nhà văn Vũ Hạnh tại cuộc Hội thảo khoa học “Văn học nghệ thuật Việt Nam - 45 năm thống nhất đất nước” do Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam tổ chức tháng 6-2020. Là nỗi băn khoăn ray rứt của một con người đầy tâm huyết với văn hóa dân tộc - trận địa mà ông đã chiến đấu bảo vệ 60 năm qua từ những năm còn hoạt động ở chế độ cũ, bị tù dày tra tấn... Ở tuổi 95 ông vẫn kiên định với lý tưởng mà ông đã theo đuổi suốt cuộc đời.

Vấn đề văn hóa của dân tộc ta còn có quá nhiều sự kiện cần được xem xét, chỉnh đổi, bổ sung, song với tầm nhìn hạn hẹp của một cán bộ văn hóa nghỉ hưu trên ba mươi năm và được phát biểu trong một Hội thảo quan trọng của Trung ương nên chỉ xin nêu những điều nổi bật mà đa số đều biết rõ nhưng không được quan tâm đúng mức.

Điều trước tiên là học tập Bác Hồ trong lĩnh vực ngôn ngữ. Bác Hồ từng nhấn mạnh “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp”. Bác khuyên nhủ “không nên dùng tiếng ngoại quốc, khi có thể dùng tiếng ta”. Nhưng với hiện tình thì mỗi ngày sự xâm nhập của ngôn ngữ ngoại bang càng sâu đậm, không chỉ riêng các thành phố lớn mà về nơi vùng quê vẫn nhan nhản các bảng hiệu toàn tiếng nước ngoài, dầu quốc tế cũng có luật là tiếng nước ngoài phải ở dưới tiếng nước chủ nhà và chỉ được chiếm 50%. Vì sao những kẻ đã không tuân thủ lời khuyên của Bác Hồ lại không tôn trọng luật pháp mà vẫn ngang nhiên tồn tại trên quê hương này? Và cũng không đợi đến năm 1993, chúng ta mới thấy trong bộ Bách khoa toàn thư của thế giới công bố câu nói của Azias rằng ngày nay, những cuộc chiến tranh diệt chủng đang được thay đổi bằng các chính sách đồng hóa bởi các phương tiện văn hóa, sẽ có điều kiện xâm lược sâu đậm, ít tốn hao của và sinh mạng người. Bởi vậy, không cần bom rơi, đạn nổ mà qua phim ảnh, nhiều cô gái Việt đã phải bỏ mạng xứ người, bao nhiêu trai trẻ đã học đủ trò nhí nhố một cách quái gở.

Điều thứ hai, buộc chúng ta suy nghĩ, là từ khi có chế độ mới - ngày 2 tháng 9 năm 1945 - đến nay đã 75 năm, cả nước phải bỏ 30 năm dài kháng chiến trường kỳ để bảo vệ nền độc lập và thống nhất thì nền văn học chúng ta, dẫu đã có nhiều cây bút tài hoa, vẫn còn giữ mãi cho mỗi đầu sách là ngàn bản in mỗi kỳ ấn hành. Dẫu rằng thỉnh thoảng vẫn có tác phẩm vượt xa cái con số đó, nhưng các tác phẩm “được ăn khách” đó không phải là những sáng tác có giá trị thật. Với đất nước có dân số gần trăm triệu người, mà mỗi tác phẩm văn học đúng nghĩa chỉ tiêu thụ được một ngàn, thì chưa phải là điều đáng tự hào. Con số một ngàn - là một cáo trạng, là một câu hỏi cần được tìm hiểu, giải đáp đúng hướng.

Về điều thứ ba, luôn được trăn trở là với dân số trên 70% là nông dân, họ đã phải chờ đợi hơi lâu một sự lột xác, đổi đời. Dẫu người lao động có một vị trí hàng đầu trong chế độ chúng ta, nhưng nhiều năm tháng trôi qua cái khối dân số khổng lồ này vẫn đang thiếu ăn, thiếu học họ lặn lội tìm về các thành phố lớn như tìm các phao cứu sinh - vì chúng ta dành công sức cho các đô thị hổ lốn, xem đấy là những trung tâm văn hóa cần được đầu tư. Khi cái khối lớn của dân tộc đã không có một vị trí đáng kể, thì dân tộc đâu còn có sức nặng và sự vươn xa. Gần đây có sự đáng mừng là nông thôn mới xuất hiện. Nhưng trên thực tế chưa có công trình tìm hiểu những nông thôn ấy để xem sự đổi mới ấy thật sự có ý nghĩa gì, và giá trị gì. Đất nước chỉ thực sự giàu mạnh khi nông dân giàu mạnh, và điều chủ yếu là quan niệm sống được đổi mới.

Và điều thứ tư là sự hụt hẫng, phi lý trong nền giáo dục, khi giáo dục không đề cao những môn học hàng đầu. Thiết tưởng giáo dục phải có hai phần: phần một là rèn luyện nhân cách, phần hai là bồi dưỡng kiến thức. Các chế độ thống trị đều đã loại bỏ phần đầu vì chúng chỉ cần đào tạo những lớp tay sai. Và để rèn luyện nhân cách thì phải coi trọng các môn đức dục, sử học, nhưng bao năm qua các môn học này luôn bị coi thường. Bác Hồ đã từng khẳng định: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên”. Bác cũng nhắc nhở: “Dân ta phải biết sử ta”. Nhưng đa số bạn trẻ hiện nay không biết gì nhiều về cội nguồn của dân tộc, không có được sự tự hào xứng đáng về dân tộc mình. Cách đây không lâu, trong một cuộc thi đa số thí sinh đều chỉ có điểm rất thấp về môn sử, và một nhà báo đã hỏi Bộ trưởng Giáo dục về sự kiện này thì ông Bộ trưởng trả lời: “Đó là chuyện rất bình thường”. Câu trả lời ấy đã khiến quần chúng rất căm phẫn. Có người đã viết trên báo: “Một người ăn nói vô giáo dục vậy mà là Bộ trưởng Bộ Giáo dục sao?”.

Một số đặc trưng của văn hóa Việt Nam: phụ nữ Việt Nam với áo tứ thân, áo dài, nón quai thao đang chơi các nhạc cụ như đàn bầu, tam thập lục...

Và điều thứ năm là điều hiện nay đang gây nhiều bức xúc. Chúng ta đã có một chế độ mới, có một lý tưởng sống cao đẹp, nhưng với quá khứ mấy ngàn năm qua thì những giá trị truyền thống phải lưu giữ, song những mặt trái của các chế độ lạc hậu, những thứ rác rưởi văn hóa cần được loại bỏ thì chúng ta không có những bệnh viện tinh thần để xóa sạch chúng. Vẫn là tư tưởng địa phương, vẫn là ông lớn, bà lớn, con ông cháu cha, và ngàn lẻ một quyền lực quái gở nhũng nhiễu người dân.

Đáng lẽ từ tiểu học đến đại học, ở mỗi cấp bậc đều có một môn vệ sinh tinh thần phù hợp để sớm loại bỏ ra khỏi đầu óc lớp trẻ những thứ tư tưởng lạc hậu, để khi vào đời các em đã có những quan niệm sống tốt đẹp, trong lành.♦ 

VŨ HẠNH