HV99 - Anh linh hiển hiện

Cuối tháng 10 năm 2015, tôi có dịp nhập đoàn của Hội Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh trong một chuyến tham quan di tích và thắng cảnh ở miền Trung từ Quảng Trị đến Ninh Thuận. Đoàn đi bằng máy bay ra Huế, rồi tiếp tục hành trình bằng xe khách…

Nơi ghé đầu tiên là nghĩa trang Trường Sơn. Đoàn xuống xe, mỗi người bưng một nón lá nhỏ đựng mấy bông sen tươi. Hơn ba chục cái nón, hơn trăm đóa sen từ mãi thành phố xa tít phía Nam đem tới cũng có góp được thêm chút sinh khí vào chốn âm phần mênh mông. Chúng tôi đem hoa và những nén hương nghi ngút khói đến từng ngôi mộ… Đã thấy ấm áp hẳn lên, cái chỗ hàng hàng lớp lớp những khối xi măng vuông vức này!

Tạm tách đoàn thơ thẩn đi thăm những tượng đã để ý từ khi mới tới. Nước ta có vô số tác phẩm điêu khắc tưởng nhớ chiến sĩ. Thế mới được. Cũng có những tượng trông “quấy” quá, nhưng có nhiều cái là đẹp thực sự. Tượng ở đây rất có hồn. Kìa, những tư thế, những vẻ mặt làm ta như nghe được tiếng bom, ngửi được mùi thuốc súng!...

Chợt nghe vang vang Hát mãi khúc quân hành. Đoàn kia rồi, dưới gốc một cây bồ đề sau lưng đài tưởng niệm. Còn chỗ nào tốt hơn để cùng nhau hát những “bài ca đi cùng năm tháng”. Các anh ơi, có dậy mà nghe!

Ngồi lẫn với đoàn bây giờ có một phụ nữ đứng tuổi lạ mặt. Đó là người quản lý nghĩa trang, một nữ bộ đội ngày xưa! “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”. “Đàn bà” từng cầm AK sẵn sàng cho giặc ăn kẹo đồng này trông thật hiền hậu. Chị vui vẻ, điềm đạm trả lời mọi người. Công tác một chỗ này suốt bao nhiêu năm. Con gái chị sắp về đây nối nghiệp mẹ. Hay quá nhỉ.

Lúc đoàn lên xe, có mấy em nhỏ dân tộc thiểu số đứng bên đường chào tiễn khách. Cứ một câu “Chúc bác về mạnh khỏe” rất lễ phép lặp đi lặp lại. Hình như là dân tộc Bru - Vân Kiều. Chúng không hề chìa tay xin. Không thấy ai cho tiền. Thầm nghĩ, nên cho hay là không? Không nên, chỉ là vì sợ giúp phát sinh một nếp sinh hoạt không hay. Trong cuộc chiến tranh 30 năm, các dân tộc thiểu số đã giúp người Kinh thật nhiều. Chính phủ ta vẫn có những chương trình biệt đãi để trả ơn anh em và để củng cố đại đoàn kết. Nhưng chẳng biết cái việc thi hành có được kiểm soát chu đáo và đều đặn đúng mức hay không…

* * *

Quá trưa đoàn mới về tới Đông Hà. Ngạc nhiên và vui quá. Cái thị trấn bé nhỏ chìm trong khói lửa mịt mờ năm xưa nay là thành phố khang trang, hiện đại, có cả khách sạn 4 sao. Đoàn dùng bữa trưa rồi vào khách sạn Mường Thanh nghỉ ngơi trước chặng “hành quân” kế tiếp.

Nói địa đạo, ta nghĩ ngay đến Củ Chi. Tất nhiên xét quy mô tổng thể thì địa đạo Vịnh Mốc của Quảng Trị rất khiêm tốn so với Củ Chi. Nhưng về độ sâu và chiều cao của từng đường hầm thì ở đây lại trội hơn. Vì địa đạo Vịnh Mốc không nhằm chống sự càn quét của quân địch, mà đào là để quân dân địa phương xuống cư trú tránh những cơn mưa bom pháo cực kỳ ác liệt của Mỹ. Ở huyện Vĩnh Linh, từ 1965 đến 1972, tính bình quân mỗi người dân đã “gánh” khoảng 7 tấn bom pháo! Địa đạo cũng là chỗ quân ta cất vũ khí, đạn dược, là kho hậu cần cho cả chính Vịnh Mốc lẫn đảo Cồn Cỏ ngoài khơi.

Địa đạo Vịnh Mốc giáp với bãi biển Cửa Tùng. Năm xưa Nguyễn Tuân đã “ký”: “Cửa Tùng là một bãi tắm biển đặc biệt nhất ở nước ta (…). Từ trong bờ lội ra thấu ngoài xa cách đến 600 thước, nước biển (…) chỉ sâu đến ngang ngực, ít có nơi (…) địa thế lại (…) thuận lợi như vậy cho mọi người đi tắm biển”, và than: “Cửa Tùng thiếu người vô nghỉ mát”(1). Khi ấy, bãi hấp dẫn mà hoang vu là do chiến tranh. Bom Mỹ thôi rơi, pháo hạm đội Mỹ thôi nã lâu lắm rồi, nhưng Cửa Tùng vẫn cứ tiếp tục vắng ngắt. Trông biển xanh cát trắng rừng dương xanh mà ngẩn ngơ, bao giờ mới thôi “thiếu”, bãi biển xinh đẹp kia ơi!

Vịnh Mốc còn để lại nơi trí nhớ của người (và bộ nhớ của vi tính) những đám lau trắng tinh giữa cỏ xanh rực sáng nhờ ánh mặt trời chiếu từ phía sau. Lau ở đây thấp bé, trông xa xa như những con cò. Ờ nhỉ, thân cò mỏng mảnh tội nghiệp có thế thôi… Cũng “tội” là cái độ ngọt rất yếu của ruột những quả “dứa biển”, hình như có giúp trị được thứ bệnh gì…

* * *