Hãy để "dòng sông chia rẽ" trôi đi…

LTS: Các ghi chép và cảm nhận sau đây của tác giả Nguyễn Hữu Thái Hòa, thế hệ lớn lên sau chiến tranh, vào những ngày cuối tháng 4 này phải chăng là câu chuyện chung của cả giới trẻ hôm nay?

Tôi thường nghĩ: “Người Việt Nam vốn dĩ hòa vi quý, nhưng đặc tính này cũng nảy sinh một vấn đề khác. Đó là tính đại khái, dễ cho qua, ít đi đến tận cùng”. Để nỗi đau chia rẽ của dân tộc thực sự được hóa giải, thì cả hai bên cần phải nói cho hết, “đi đến tận cùng” những nỗi đau mà cả dân tộc phải gánh chịu. Vì xét cho rốt ráo, đã là người Việt Nam, ai cũng mong muốn đất nước, quê hương, xứ sở được phát triển, có thể ngẩng cao đầu với các dân tộc, các quốc gia khác trên thế giới. Ước mơ hòa bình, thống nhất đã thành hiện thực. Vậy chỉ còn một điều quan trọng nữa, là thống nhất và hòa bình trong tâm hồn của tất cả mọi người Việt Nam.

Những điều trông thấy

Vào năm 1975, tôi lúc ấy chỉ là một đứa trẻ 6 tuổi có biết gì đâu. Đang tuổi chơi tuổi học, những biến chuyển của đất nước, của xã hội thời điểm đó rất mờ nhạt trong ý niệm của tôi. Sáng 30-4-1975, ba tôi về qua nhà được khoảng mấy phút, và dặn má rằng: nếu có chiến sự xảy ra, thì đưa các con chạy về hướng ngoại thành tránh bom đạn. Đó là hướng của quân Giải phóng…

Nhà của tôi ở trong cư xá sĩ quan Chí Hòa. Sau thời điểm 1975, tôi chứng kiến có thêm nhiều quân nhân và cán bộ cấp cao cách mạng vào ở. Đám con nít hai miền Nam - Bắc suốt ngày đánh nhau chí chóe.

Rồi sau đó, tôi chứng kiến những điều không công bằng trong chính gia đình mình - một gia đình mà ông nội là sĩ quan cấp tá của Việt Nam Cộng hòa, còn ba tôi, ông Nguyễn Hữu Thái, lại theo cách mạng.

Năm 1990, tôi sang Canada theo diện đoàn tụ gia đình và học tại Đại học Bách khoa Ryerson, Toronto. Trước đó, tôi đã là sinh viên năm thứ 3 khoa Mỹ thuật công nghiệp, Đại học Kiến trúc TP.HCM. Sang tới nơi bảng điểm của tôi cần phải được dịch sang tiếng Anh. Cầm bản dịch bảng điểm do một tổ chức của người Việt tại Canada chuyển ngữ, tôi bật khóc. Vì người ta đã cố tình “giáng cấp” tôi từ sinh viên năm 3 xuống… học sinh lớp 11. Với tấm bằng này tôi không thể đủ điều kiện để học đại học tại đây. Khi tôi đem bản dịch này tới trường Đại học Ryerson, thì đại học này không chấp nhận.

Không chịu thua, tôi viết thư cho Hiệu trưởng trường Ryerson, và cam đoan rằng: tôi là sinh viên năm thứ 3 của Đại học Kiến trúc TP.HCM, và tôi có thể dạy được cho sinh viên đang theo học năm thứ 2 của trường này. Cũng may, vị hiệu trưởng đó cho tôi cơ hội để chứng minh. Một cuộc phỏng vấn, 30 phút đọc và thuyết trình một đồ án kiến trúc. Tôi đã chứng minh cho vị hiệu trưởng thấy, mình đủ điều kiện học đại học. Thậm chí tôi còn được đặc cách học năm thứ 2. Tôi đau lòng nhận ra mình bị chính đồng bào của mình tại hải ngoại gây khó dễ.

Hồi mới sang Canada, tôi tham gia vào Hội Sinh viên Việt Nam tại đây. Tôi hát hay, đàn giỏi, hoạt động văn nghệ hăng hái, được cộng đồng sinh viên tại đây rất hoan nghênh. Thế nhưng sau này, khi tôi “bị phát hiện” là con trai của Nguyễn Hữu Thái, tôi bị cộng đồng người Việt tại đây “tẩy chay”, dù trong thâm tâm của những người đứng đầu Hội Sinh viên Việt Nam, tôi vẫn là người đáng quý, đáng mến!

Đến lúc ấy, tôi mới cảm nhận rõ hơn về một “dòng sông chia rẽ” có thật trong tâm tư, tình cảm của người Việt sau 1975. Tôi hiểu rõ hơn vì sao ba má mình và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có những điều buồn bã không nói thành lời.

Đi và ngộ

“Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Tôi quyết tâm tìm hiểu rõ hơn về nguyên nhân những gì mình đã chứng kiến. Khi tôi được Tập đoàn Schneider Electric (Pháp) giao cho nắm giữ những chức vụ quan trọng, tôi đã đi đến nhiều nơi trên thế giới. Tôi đã đến Malaysia, Indonesia, Philippines… và dành thời gian tìm hiểu những nơi mà người Việt đã đến sau 1975.

Tại những nơi này, tôi đã tìm hiểu thật kỹ cuộc sống của người Việt, những người thường được gọi là “thuyền nhân”. Tôi đau lòng nhận ra rằng: những chia rẽ, hận thù vẫn còn in đậm, hằn sâu trong tâm khảm những người ra đi. Thực tế của gia đình tôi khiến tôi hiểu được phần nào những day dứt mà những người ra đi phải gánh chịu. Tôi càng khao khát sự hòa hợp, hòa giải trong lòng người.

Tôi đã từng có những buổi tâm sự chân tình với những người phía bên kia chiến tuyến định cư tại Hoa Kỳ. Gia đình họ có những nỗi đau mất người thân khi lênh đênh trên biển. Họ có những lý do và nỗi đau không dễ gì phai nhạt. Tôi kể với họ về những bà Mẹ Việt Nam có tới 9 bằng liệt sĩ trên bàn thờ. Tôi hỏi họ, nỗi đau nào lớn hơn? Và câu trả lời chỉ là sự im lặng.

Cuối cùng, tôi quyết định trở về Việt Nam dù vẫn biết còn nhiều khó khăn phía trước. Nhưng lúc nào tôi cũng tin: nếu cả dân tộc Việt Nam can đảm nhìn nhận và đi đến tận cùng những nỗi đau, thì tương lai của dân tộc vẫn còn rất xán lạn.

Đi nhiều nơi, nghiền ngẫm những nỗi đau, nhìn sang các nước láng giềng, tôi ngẫm ngợi được nhiều điều. Hãy nhìn sang Nhật Bản, một quốc gia đã phải gánh chịu những thảm họa chiến tranh khủng khiếp, mà đỉnh điểm phải kể đến Hiroshima và Nagasaki. Sau chiến tranh, người Nhật “gặm nhấm” nỗi đau, và tự hỏi xem vì sao đất nước này phải hứng chịu những thảm họa như thế. Họ chân thành nhìn nhận về quá khứ “phát xít” của mình và dùng nỗi đau ấy để vươn lên, để tránh những “thảm họa chiến tranh” trong tương lai. Hiroshima, Nagasaki vừa là biểu tượng của chiến tranh, vừa là biểu tượng của hòa bình.

Nhìn lại Việt Nam và quá khứ đau thương mà dân tộc đã trải qua, tôi cho rằng: Việt Nam đã từng là “trái tim của nhân loại” khi mà hầu hết các quốc gia, kể cả Hoa Kỳ đã luôn đặt Việt Nam trong những ưu tiên hàng đầu giai đoạn trước 1975. Tình cảm của các dân tộc trên thế giới luôn hướng về Việt Nam, và mong cho Việt Nam hòa bình trong giai đoạn đó. Vậy Việt Nam ngày nay cần phải lấy lại vị thế “trái tim nhân loại” đã từng có trước đây. Địa đạo Củ Chi, Thành cổ Quảng Trị, Vĩ tuyến 17… theo tôi là những biểu tượng tiêu biểu của cuộc chiến 1954-1975. Những địa danh này còn là dấu chứng lớn lao nhất cho ý chí, tinh thần và khao khát thống nhất, hòa bình của dân tộc Việt Nam.